Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm và bản chất của HQKT - Hiệu quả theo nghĩa phổ thông, phổ biến trong cách nói của mọi người: “Kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại hiệu quả”. [12] - Xét góc độ thuật ngữ chuyên môn, hiệu quả theo nghĩa kinh tế nó là “Mối quan hệ giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ, có thể được đo lường theo hiện vật gọi là hiệu quả kĩ thuật hoặc theo chi phí thì được gọi là hiệu quả kinh tế. Khái niệm hiệu quả kinh tế được dùng như một tiêu chuẩn để xem xét các tài nguyên được thị trường phân phối như thế nào”.
[5] Ngày nay, người ta vẫn chưa có khái niệm thống nhất về hiệu quả. Ở mỗi góc độ, lĩnh vực khác nhau thì hiệu quả cũng được xem xét, nhìn nhận khác nhau và thông thường khi nói đến hiệu quả của một lĩnh vực nào đó thì chúng ta xem xét vấn đề hiệu quả trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội. Tương ứng ta có 3 phạm trù: hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị, hiệu quả xã hội. - Hiệu quả kinh tế: Nếu xét trên phạm vi từng khía cạnh, từng yếu tố, từng ngành thì chúng ta có phạm trù hiệu quả kinh tế.
Có thể hiểu hiệu quả kinh tế là hệ số giữa kết quả thu và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Kết quả thu về đề cập trong khía niệm này có thể là doanh thu, lợi nhuận, tổng sản phẩm công nghiệp,…Hiệu quả kinh tế thể hiện trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh. [9] - Hiệu quả chính trị, xã hội: Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dân thì ta có hai phạm trù hiệu quả chính trị và hiệu quả xã hôi. Hai phạm trù này phản ánh ảnh hưởng của hoạt đông sản xuất kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế 6 xã hội.
Và hai loại hiệu quả này có vị trí quan trọng trong việc phát triển đất nước một cách toàn diện và bền vững. Hiệu quả chính trị, xã hôi phản ánh trình độ phát triển nền kinh tế xã hội ở các mặt: trình độ tổ chức sản xuất, trình độ quản lý, mức sống bình quân. [9] Phải luôn có sự cân đối giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả chính trị, xã hội. Đây là nguyên tắc để phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia một cách liên tục và lâu dài.
Bất kì một sự mất cân đối nào cũng sẽ dân dến những hậu quả nghiêm trọng. Mặc dù đã có sự thống nhất rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng chưa có sự thống nhất quan điểm về hiệu hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các nhà kinh tế và thống kê có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh do điều kiện lịch sử và góc độ nghiên cứu là không giống nhau. - “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu trong tiêu thụ hàng hóa”[2].Theo quan điểm này thì hiệu quả là tốc độ tăng của kết quả đạt được như: tốc độ tăng của doanh thu, của lợn nhuận.
Như vậy hiệu quả đồng nhất với các chỉ tiêu kết quả hay với nhịp độ tăng của các chỉ tiêu ấy. Quan điểm này thực sự không còn phù hợp với các điều kiện ngày nay. Kết quả sản xuất có thể tăng chi phí, mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất (đầu vào của quá trình sản xuất). Nếu hai doanh nghiệp có cùng một kết quả sản xuất tuy có hai mức chi phí khác nhau, theo quan điểm này thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của chúng là như nhau.
- “Hiệu quả được xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm mà xã hội hoặc thu nhập quốc dân” [2]. Xét trên phạm vi của doanh nghiệp, theo quan điểm này thì hiệu quả sản xuất kinh doanh và nhịp độ tăng giá trị tổng sản lượng là một. Nhìn trên một góc độ nào đó thì quan điểm này cũng gần giống như quan điểm trên. Nó cũng không đề cập tới chi phí bỏ ra để đạt được giá trị tổng sản lượng đó.
Nếu tốc độ của chi phí sản xuất được các nguồn lực 7 được huy động tăng nhanh hơn nhịp độ tăng giá trị tổng sản lượng thì sao. Hơn nữa, việc chọn năm gốc có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả so sánh. Với mỗi năm gốc khác nhau chúng ta lại có mức hiệu quả khác nhau của một năm nghiên cứu. - “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi sản xuất không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản xuất của một loại hàng hóa khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó” [7]. Nhìn nhận quan điểm này dưới góc độ doanh nghiệp thì tình hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả khi nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó. Giới hạn khả năng sản xuất của doanh nghiệp được xác định bằng giới giá trị tổng sản lượng tiềm năng, là giá trị tổng sản lượng cao nhất có thể đạt được ứng với tình hình công ghệ và nhân công nhận định. Theo quan điểm này thì hiệu quả thể hiện ở sự so sánh mức thực tế và “tối đa” về sản lượng.
Tỷ lệ so sánh càng gần 1 thì càng có hiệu quả. Mặt khác ta thấy quan điểm này tuy đã đề cập đến các yếu tố đầu vào nhưng lại đề cập không đầy đủ. - “Hiệu quả kinh tế nền sản suất xã hội là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng của nó chứ không phải là giá trị”[2]. Theo tác giả của quan điểm này, mức độ thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc vào các tác dụng vật chất cụ thể chứ không phải giá trị trừu tượng nào đó.
Tuy nhiên quan điểm này gặp phải trở ngại là khó tính được tính hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra. Và nếu vậy thì chúng ta không thể so sánh được tính hữu ích giữa các sản phẩm, do đó cũng không đánh giá được tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. - “Hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ lệ giữa sự tăng lên của đại lượng kết quả và chi phí” [3]. Công thức biểu diễn phạm trù này: H= (1.1) 8 : Phần gia tăng của kết quả sản xuất.
: Phần gia tăng của chi phí sản xuất. H: Hiệu quả sản xuất kinh doanh. Quan điểm này phản ánh hiệu quả chưa đầy đủ và trọn vẹn. Nó chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm bằng cách so sánh giữa phần gia tăng của kinh doanh sản xuất và phần gia tăng của chi phí sản xuất chứ chưa đề cập toàn bộ phần tham gia đầu vào quá trình sản xuất, kinh doanh.
Xét trên quan điểm triết học Mác Lênin thì mọi sự vật, hiện tượng đều có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ, độc lập. sản xuất kinh doanh không nằm ngoài quy luật này, các yếu tố “tăng thêm” giảm đi có liên hệ với các yếu tố sẵn có. Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới kết quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là kết quả tổng hợp của toàn bộ phần tăng thêm trong khái niệm hiệu quả là chưa đầy đủ, thiếu chính xác.
- “Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó” [3]. Quan điểm này cho rằng, nói đến hậu quả kinh tế tức là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí. Nó được tính bằng các chi phí và lời lãi. Và cũng nhiều tác giả cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đợn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm.
Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đông vốn. Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh. - “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc một quá trình kinh tế) phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”. [10] Công thức để biểu diễn khái quát phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh: H = (1.2) 9 Trong đó: H: Hiệu quả sản xuất kinh doanh.
K: Kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh. C: Chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh (chi phí bỏ ra để đạt được kết quả K) Như vậy ta nhận thấy rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Còn kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận) thì phản ánh số lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Vậy khi xem xét, đánh giá hoạt động của một doanh nghiệp thì phải quan tâm cả kết quả cũng như hiệu quả của doanh nghiệp đó.
Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ lợi dụng các nguồn lực mọi điều kiện “động” của hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc tính toán hiệu quả hoàn toàn có thể thực hiện được trong sự vận động và biến đổi không ngừng của hoạt động sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng. Ngoài ra, để xác định hiệu quả thì K và C cũng được xác định theo những quan niệm khác nhau, tùy theo yêu cầu nghiên cứu: [6] K có thể là: + Tổng giá trị sản xuất (GO) + Giá trị tăng thêm (VA = GO – IC) + Thu nhập hỗn hợp ( MI = VA – T – A) Trong đó: T là thuế; A là khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ. C có thể là: + Tổng chi phí (TC) + Chi phí trung gian (IC) 10 + Chi phí biến đổi (VC) + Chi phí cố định (FC) + Chi phí một yếu tố đầu vào nào đó như đất đai, lao động, vốn,… Tùy từng trường hợp cụ thể mà lựa chọn cách biểu hiện K và C sao cho phù hợp.
Các quan điểm truyền thống chưa thật toàn diện khi xem xét hiệu quả kinh tế: [4] - Thứ nhất, nó coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư.