phần mở đầu, kết luận và phần phụ lục, đề tài đƣợc chia làm ba phần chính: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Khái quát chung về CTCK 1. Khái niệm về CTCK Khái niệm về công ty chứng khoán có thể tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, theo Giáo trình thị trƣờng chứng khoán, trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân, công ty chứng khoán là “một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trƣờng chứng khoán”. Theo giáo trình Thị trƣờng chứng khoán, trƣờng Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh “Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán là đơn vị có tƣ cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập”.
Theo Thông tƣ số 121/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 của Bộ Tài chính thì Công ty chứng khoán (CTCK) là “doanh nghiệp đƣợc Ủy ban Chứng khoán Nhà nƣớc cấp phép thực hiện một, một số nghiệp vụ sau: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán…” Nhƣ vậy, công ty chứng khoán đƣợc hiểu là “tổ chức tài chính trung gian đƣợc thành lập hợp pháp và thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán”. Đặc điểm của CTCK Công ty chứng khoán là tổ chức tài chính trung gian hoạt động trên thị trƣờng – một thị trƣờng có mức độ nhạy cảm cao và có ảnh hƣởng lớn đến nền kinh tế. Do vậy, công ty chứng khoán thuộc loại hình kinh doanh có điều kiện, tức là công ty chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy 9 định khi triển khai hoạt động. Điều này chính là điểm khác biệt giữa hoạt động của công ty chứng khoán với hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong linh vực khác.
Điều kiện này gồm: Điều kiện về vốn: Đối với các doanh nghiệp khác thƣờng không có yêu cầu của pháp luật về vốn cho việc thành lập. Tuy nhiên đối với CTCK muốn thành lập thì phải đáp ứng yêu cầu về mức vốn pháp định mà luật pháp quy định. Theo quy định tại điều 175 Nghị định 155/2020/NĐ-CP thì vốn điều lệ của CTCK nhƣ sau: môi giới chứng khoán là 25 tỷ đồng, tự doanh là 50 tỷ, bảo lãnh phát hành chứng khoán là 165 tỷ, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán là 10 tỷ đồng. Đây là điều kiện quan trọng nhất nhằm đảm bảo về mặt trách nhiệm tài sản đối với các nghĩ vụ của CTCK trong hoạt động kinh doanh.
Điều kiện về cơ sở vật chất: CTCK yêu cần phải có sàn giao dịch, bên cạnh đó đòi hỏi phải có hệ thống trang thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình truyền lệnh của khách hàng, thông báo kết quả giao dịch cũng nhƣ giúp khách hàng kiểm tra số dƣ tài khoản hoặc tìm kiếm thông tin…Đây là điều kiện cần thiết để đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra một cách bình thƣờng. Nhân lực Chứng khoán là lĩnh vực hoạt động phức tạp, có độ rủi ro cao, mức độ ảnh hƣởng tới kinh tế xã hội lớn nên đòi hỏi nhân viên và lãnh đạo phải là ngƣời có trình độ nhất định, có tƣ cách đạo đức nghề nghiệp và có chứng chỉ hành nghề do cơ quan có thẩm quyền cấp. Bên cạnh đó đội ngũ lãnh đạo đòi hỏi phải có trình độ quản lý, không vi phạm pháp luật. Đặc điểm về xung đột lợi ích giữa quyền lợi của khách hàng và công ty chứng khoán.
Đối với hoạt động của công ty chứng khoán, bên cạnh việc cung ứng các 10 dịch vụ tốt nhất cho khách hàng thì giữa công ty chứng khoán và khách hàng đôi khi xảy ra mâu thuẫn về lợi ích. Những hoạt động mà công ty chứng khoán tiến hành có thể dẫn tới xung đột lợi ích là hoạt động, tự doanh và tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán. Do vậy, đặc điểm này tạo ra sự khác biệt trong hoạt động của công ty chứng khoán trên thị trƣờng chứng khoán khác với các loại hình kinh doanh trong các lĩnh vực khác. Vai trò của CTCK CTCK có vai trò chủ yếu nhƣ sau: Thứ nhất CTCK có vai trò làm cầu nối giữa cung – cầu chứng khoán Chứng khoán sau khi phát hành trên thị trƣờng sơ cấp sẽ đƣợc giao dịch trên thị trƣờng thứ cấp.
Trên thị trƣờng sơ cấp, CTCK là trung gian kết nối nhà đầu tƣ và tổ chức phát hành. Thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, CTCK sẽ giúp tổ chức phát hành phân phối chứng khoán cho những khách hàng có nguồn vốn nhàn rỗi có nhu cầu đầu tƣ vào các công cụ trên thị trƣờng tài chính. Trên thị trƣờng thứ cấp, CTCK là trung gian kết nối giữa các nhà đầu tƣ. Thông qua nghiệp vụ môi giới chứng khoán, CTCK có chức năng cung cấp thông tin, tƣ vấn đầu tƣ và thực hiện nhu cầu mua bán chứng khoán cho khách hàng.
Với chức năng đó CTCK sẽ giúp nhà đầu tƣ tiết kiệm chi phí giao dịch, chi phí tìm kiếm thông tin và có quyết định đầu tƣ đúng đắn. Thứ hai, CTCK góp phần điều tiết và bình ổn giá trên thị trường Sự tăng trƣởng quá nóng hoặc sụt giảm quá sâu của giá chứng khoán sẽ gây tác động không tốt đến tâm lý nhà đầu tƣ và sự phát triển bền vững của thị trƣờng chứng khoán. Thông qua hoạt động tự doanh, CTCK sẽ giúp cho thị trƣờng hạn chế Thứ ba, CTCK cung cấp các dịch vụ cho thị trường chứng khoán Trƣớc những nhu cầu của nhà đầu tƣ về sự đa dạng và chất lƣợng dịch vụ, 11 thêm vào đó là các CTCK hiện nay cạnh tranh vô cùng gay gắt, điều này đã khiến CTCK không ngừng phát triển và nâng cao chất lƣợng dịch vụ cung cấp. Thông qua quá trình tiếp xúc với khách hàng, CTCK sẽ đƣa ra ý tƣởng thiết kế sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng.
Về lâu dài sẽ cải thiện đƣợc tính đơn điệu của sản phẩm dịch vụ, nhờ đó giúp đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa cơ cấu khách hàng, thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi từ ngƣời dân để đầu tƣ phát triển. Việc bán những gì khách hàng cần và không ngừng cải tiến các sản phẩm cung cấp, các CTCK đã góp phần quan trọng làm đa dạng hóa các sản phẩm trên thị trƣờng, đem lại sự thỏa mãn tối đa cho nhà đầu tƣ. Cơ cấu tổ chức của CTCK Tùy vào loại hình hoạt động chứng khoán mà từng công ty thực hiện cũng nhƣ quy mô hoạt động kinh doanh chứng khoán thể hiện đƣợc cơ cấu tổ chức của CTCK đó. Phần lớn CTCK đều có đặc điểm chung là chia thành hai khối khác nhau là khối hoạt động và khối phụ trợ thuộc hệ thống các phòng ban chức năng.
Khối hoạt động là những công việc giao dịch kinh doanh và dịch vụ kinh doanh chứng khoán đƣợc khối này thực hiện. Việc đáp ứng nhu cầu giao dịch của khách hàng và sáng tạo ra các sản phẩm phù hợp với các nhu cầu đem lại thu nhập cho công ty. Vì vậy, CTCK sẽ có những bộ phận khối, phòng ban nhất định tƣơng ứng với các hoạt động do khối này phụ trách nhƣ: phòng môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tƣ và quỹ đầu tƣ, tƣ vấn tài chính. Phụ thuộc vào quy mô thị trƣờng và sự chú trọng vào các hoạt động trọng tâm mà CTCK có thể chuyên sâu vào từng bộ phận hoặc tập trung các hoạt động vào trong một bộ phận chủ chốt.
Khối phụ trợ tuy là khối không trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh doanh nhƣng khối này không thể thiếu đƣợc trong vận hành của CTCK vì 12 hoạt động của nó mang tính chất hỗ trợ cho khối hoạt động nhƣ: phòng nghiên cứu và phát triển, phân tích và thông tin thị trƣờng, kế hoạch công ty, phát triển sản phẩm mới, công nghệ thông tin, pháp chế, kế toán và kiểm soát nội bộ, tổng hợp hành chính nhân sự. Tùy theo mức độ phát triển của CTCK và TTCK mà có thể thêm các bộ phận khác nhƣ: mạng lƣới chi nhánh, văn phòng trong và ngoài nƣớc, văn phòng đại lý hoặc các phòng ban liên quan đến các hoạt động khác từ ngân hàng, bảo hiểm… 1. Một số hoạt động chính của CTCK 1. Môi giới chứng khoán Khái niệm: Môi giới chứng khoán là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trƣờng OTC (Over the counter) mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
Chức năng: Thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán cho khách hàng bằng việc nhận lệnh của khách hàng và thông qua cơ chế giao dịch của Sở giao dịch để tìm ra mức giá tốt nhất cho khách hàng và khách hàng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả đầu tƣ; Cung cấp các dịch vụ, tiện ích giúp khách hàng thực hiện quyết định của mình. Các dịch vụ, tiện ích do tổ chức kinh doanh chứng khoán cung cấp nhƣ: tƣ vấn đầu tƣ trực tiếp cho khách hàng, giúp khách hàng lựa chọn loại chứng khoán, thời điểm nên mua/bán; cung cấp báo cáo giao dịch có nghiên cứu, phân tích, đánh giá diễn biến giao dịch theo thời gian, đƣa ra nhận định mang tính chủ quan về xu hƣớng giá và khuyến nghị đầu tƣ; cung cấp các thông tin về tổ chức niêm yết… 13 1. Tự doanh chứng khoán Tự doanh chứng khoán là việc tổ chức kinh doanh chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua bán các chứng khoán cho chính mình. Hoạt động tự doanh của tổ chức kinh doanh chứng khoán có thể đƣợc thực hiện trên thị trƣờng giao dịch tập trung, hoặc trên thị trƣờng OTC,…Trên thị trƣờng giao dịch tập trung, lệnh giao dịch của các tổ chức kinh doanh chứng khoán đƣợc đƣa vào hệ thống và thực hiện tƣơng tự nhƣ lệnh giao dịch của khách hàng.
Trên thị trƣờng OTC các hoạt động này có thể đƣợc thực hiện trực tiếp giữa một tổ chức với các đối tác hoặc thông qua một hệ thống mạng thông tin. Mục đích của hoạt động tự doanh của các tổ chức kinh doanh chứng khoán là nhằm thu lợi cho chính mình.