CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm Hộ nông dân đã có và tồn tại từ rất lâu, nó gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và trải qua nhiều hình thức khác nhau. Nó là một trong những đối tượng được các nhà khoa học, các tổ chức trên các lĩnh vực khác nhau quan tâm. - Khái niệm nông nghiệp Nông hộ theo nghĩa hẹp là chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ.
Còn theo nghĩa rộng là bao gồm cả ngành lâm nghiệp và thủy sản. - Khái niệm hộ: Đứng ở mỗi góc độ khác nhau họ đưa ra những quan điểm khác nhau về hộ. + Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế người ta đã định nghĩa về hộ như sau: “ Hộ là tất cả những người sống chung một mái nhà, nhóm người đó bao gồm cả những người cùng chung một huyết tộc và những người làm công”. + Trên phương diện thống kê, liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
- Khái niệm về nông hộ Nông hộ là các hộ có phương tiện sống dựa trên ruộng đất, sử dụng chủ yếu là lao động gia đình trong sản xuất nằm trong hệ thống kinh tế rộng lớn nhưng về mặt cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia vào thị trường, hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao (Ellis - 1988). - Khái niệm về kinh tế nông hộ + Theo giáo sư Trần Văn Hà thì: “Kinh tế nông hộ sản xuất và khai thác kinh doanh nông nghiệp của những người cùng chung sống trong một mái nhà. Người chủ sản xuất là trưởng gia, là chủ hộ của những thân nhân sử dụng tổng hợp những yếu tố lao động, đất, vốn, phương tiện sản xuất tác động n 6 vào môi trường sinh thái để làm ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống vật chất của gia đình và cộng đồng xã hội”. + Theo bài giảng “ Kinh tế lâm nghiệp” của thầy Trần Công Quân thì “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông - lâm nghiệp, được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động, tiền vốn…của gia đình mình là chính”.
Tóm lại, có thể thấy kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ cho nông nghiệp. Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng và tồn tại phát triển kinh tế trong mọi chế độ kinh tế xã hội. - Khái niệm phát triển kinh tế Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo công bằng xã hội. - Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng lượng của một nền kinh tế, thường được định nghĩa là sự gia tăng của GDP thực trên đầu người.
vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân - Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu xã hội. Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển. Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những nước có ngành công nghiệp cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn nhưng khối lượng nông sản ở các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống của con người những sản phẩm cần thiết đó là lương thực, thực phẩm.
Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có n 7 tính chất quyết định sự tồn tại của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. - Cung cấp các yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực đô thị. Nông nghiệp có vai trò quan trọng cho việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị.
Điều đó được thể hiện qua các mặt sau đây: + Khu vực nông nghiệp, nông thôn là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho sự phát triển công nghiệp và đô thị. + Nông nghiệp còn cung cấp các nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. + Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế, trong đó có công nghiệp. - Làm thị trường tiêu thụ của công nghiệp và dịch vụ.
Nông nghiệp, nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp. Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp bao gồm tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất, được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà hầu hết là khu nông nghiệp nông thôn. - Nông nghiệp tham gia vào sản xuất. Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn.
Các ngành nông - lâm nghiệp đễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp. Xu hướng chung của các nước trong quá trình công nghiệp hóa, ở giai đoạn đầu giá trị xuất khẩu nông lâm, thủy sản chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng đó sẽ giảm dần cùng với sự phát triển cao của nền kinh tế. - Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường. Nông nghiệp, nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi n 8 trường tự nhiên: Đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn.
Trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, có những giải pháp thích hợp thì sẽ duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường. Đặc điểm sản xuất nông nghiệp - Sản xuất nông nghiệp có tính vùng. Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính chất khu vực rõ rệt. Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết - khí hậu khác nhau nên đặc điểm sản xuất nông nghiệp cũng khác nhau.
- Đối tượng sản xuất nông nghiệp là cây trồng vật nuôi. Đối tượng sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống, cây trồng và vật nuôi. Cây trồng, vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt, được sản xuất trong nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sau. - Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu.
Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thiếu được. Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất nhưng nội dung kinh tế nó lại khác nhau. Trong sản xuất nông nghiệp không thể không có đất cho cây trồng, làm chuồng trại…. - Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao.
Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế gắn bó chặt chẽ với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp. Phân loại nông hộ Trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình là loại hình kinh tế được phát triển từ thấp đến cao, từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Căn cứ vào mức độ phát triển kinh tế hộ ta có thể chia thành 4 nhóm sau: n 9 - Nhóm kinh tế hộ sinh tồn: là dạng phát triển thấp của kinh tế hộ, các hộ thuộc nhóm này chỉ sản xuất một số loại cây trồng, vật nuôi chủ yếu nhằm duy trì cuộc sống của gia đình họ. Họ hầu như không có hoặc có rất ít vốn, công cụ sản xuất thì thô sơ, lạc hậu dẫn đến năng suất lao động thấp, họ sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.
- Nhóm kinh tế hộ tự túc: nhóm này sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp cho nhu cầu gia đình hằng ngày, sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, lạc hậu, không chịu tìm tòi, học hỏi, luôn bằng lòng với bản thân nên hiệu quả sản xuất của nhóm hộ này rất thấp. - Nhóm hộ sản xuất nhỏ: trong quá trình sản xuất có một bộ phận nông dân làm ăn khá giả, ngoài phần sản xuất để cung cấp cho bản thân, gia đình, họ còn có phần dư thừa để bán ra ngoài thị trường. Đây là nhóm hộ biết làm ăn, chịu khó học hỏi nhưng vẫn chưa mạnh dạn đầu tư, vay vốn, thuê lao động để làm ăn. - Nhóm kinh tế hộ sản xuất hàng hóa lớn: đây chính là những loại hộ sản xuất hàng hóa có kinh tế phát triển nên các hộ thuộc nhóm này đã biết đầu tư, phát triển loại hình kinh tế mang đặc trưng của mô hình kinh tế trang trại.
Đây là những hộ thuần nông, các hộ có thu nhập chủ yếu từ ngành trồng trọt và chăn nuôi. Đặc trưng của các hộ này là chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên. Ngoài loại hộ thuần nông, còn có những nhóm hộ kiêm ngành nghề, dịch vụ: đây là loại hộ ngoài sản xuất nông nghiệp, họ còn biết tận dụng những cái có sẵn của ông cha để lại như: các ngành nghề truyền thống được thừa kế từ đời này sang đời khác nhằm nâng cao thu nhập cho gia đình và tận dụng lao động lúc nông nhàn ở nông thôn. Vì vậy loại hình này có vốn để đầu tư cho sản xuất kinh doanh và có kiến thức về thị trường.
Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân - Nhóm các nhân tố chủ quan n 10 Đây là nhân tố do chính bản thân gia đình nông dân quyết định. Mỗi hộ có một hoàn cảnh riêng, có trình độ, có phương tiện và các yếu tố sản xuất khác nhau. Đó là các yếu tố chủ quan, nó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của kinh tế hộ. Các yếu tố chủ quan bao gồm: + Đất đai: đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt, không gì có thể thay thế được đối với sản xuất nông nghiệp.