Đánh Giá Hiệu Quả Gây Tê Đám Rối Thần Kinh Cánh Tay Đường Trên Xương Đòn

Chuyên khảo phân tích Luận văn ck2 nguyễn xuân tiến bv 175 ngày 8 8 2022, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Gây mê Hồi sức

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn chuyên khoa

2022

103
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giải phẫu đám rối thần kinh cánh tay

1.2. Gây tê đám rối thần kinh cánh tay

1.3. Lịch sử gây tê ĐRTKCT

1.4. Các phương pháp gây tê ĐRTKCT

1.5. Biến chứng do gây tê ĐRTKCT

1.6. Siêu âm trong gây tê đám rối thần kinh cánh tay

1.6.1. Đại cương về siêu âm

1.6.2. Tác động sinh học của siêu âm

1.6.3. Hình ảnh siêu âm ĐRTKCT và cấu trúc liên quan

1.6.4. Các nghiên cứu ứng dụng siêu âm để gây tê ĐRTKCT

1.7. Cấu tạo hóa học và tính chất lý hóa

1.7.1. Dược động học

1.7.2. Dược lực học

1.7.3. Sử dụng trên lâm sàng

1.7.4. Tác dụng không mong muốn

1.8. Tính chất lý hóa của fentanyl

1.8.1. Dược động học

1.8.2. Dược lực học

1.8.3. Sử dụng trong lâm sàng

1.9. Các nghiên cứu kết hợp levobupivacain hoặc bupivacain với fentanyl trong gây tê ĐRTKCT

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Thiết kế nghiên cứu

2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.5. Quy trình nghiên cứu

2.6. Phương tiện nghiên cứu

2.7. Phương pháp tiến hành

2.8. Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp đánh giá

2.9. Các thời điểm nghiên cứu

2.10. Xử lý số liệu

2.11. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung

3.2. Tác dụng vô cảm, ức chế vận động, giảm đau sau phẫu thuật của phương pháp gây tê ĐRTKCT

3.3. Ảnh hưởng lên tuần hoàn, hô hấp, biến chứng và các tác dụng không mong muốn của phương pháp gây tê ĐRTKCT

3.4. Đặc điểm chung ĐTNC

3.5. Tác dụng của phương pháp gây tê ĐRTKCT bằng levobupivacain phối hợp fentanyl cho phẫu thuật chi trên tại BV QY 175

3.6. Đánh giá ảnh hưởng lên tuần hoàn, hô hấp, biến chứng và các tác dụng không mong muốn của phương pháp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Hiệu Quả Gây Tê Đám Rối Thần Kinh Cánh Tay

Gây tê đám rối thần kinh cánh tay (ĐRTKCT) là một kỹ thuật quan trọng trong phẫu thuật chi trên. Phương pháp này giúp giảm đau hiệu quả và cải thiện sự thoải mái cho bệnh nhân. Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc sử dụng levobupivacain phối hợp với fentanyl có thể mang lại nhiều lợi ích hơn so với các thuốc gây tê khác. Việc đánh giá hiệu quả của phương pháp này là cần thiết để tối ưu hóa quy trình phẫu thuật.

1.1. Giới Thiệu Về Gây Tê Đám Rối Thần Kinh

Gây tê ĐRTKCT được thực hiện bằng cách đưa thuốc tê vào bao đám rối thần kinh. Kỹ thuật này đã được áp dụng từ lâu và ngày càng trở nên phổ biến trong phẫu thuật chi trên.

1.2. Lợi Ích Của Levobupivacain Và Fentanyl

Levobupivacain có ưu điểm nổi bật về độ an toàn và ít tác dụng phụ hơn so với bupivacain. Fentanyl, với tác dụng giảm đau mạnh, khi kết hợp với levobupivacain, giúp nâng cao hiệu quả gây tê.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Gây Tê Đám Rối Thần Kinh

Mặc dù gây tê ĐRTKCT mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức. Các biến chứng như chọc vào mạch máu hay tổn thương thần kinh có thể xảy ra. Việc lựa chọn thuốc và kỹ thuật gây tê phù hợp là rất quan trọng để giảm thiểu rủi ro.

2.1. Biến Chứng Thường Gặp Khi Gây Tê

Các biến chứng có thể bao gồm chọc vào mạch máu, tổn thương thần kinh, và các tác dụng không mong muốn khác. Việc hiểu rõ các biến chứng này giúp bác sĩ có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

2.2. Thách Thức Trong Việc Lựa Chọn Thuốc

Việc lựa chọn giữa levobupivacain và fentanyl cần dựa trên tình trạng sức khỏe của bệnh nhân và loại phẫu thuật. Sự phối hợp giữa các thuốc cũng cần được cân nhắc kỹ lưỡng.

III. Phương Pháp Gây Tê Đám Rối Thần Kinh Hiệu Quả Nhất

Có nhiều phương pháp gây tê ĐRTKCT, trong đó việc sử dụng siêu âm để hướng dẫn kỹ thuật là một trong những phương pháp hiện đại và hiệu quả nhất. Phương pháp này giúp tăng tỷ lệ thành công và giảm thiểu biến chứng.

3.1. Kỹ Thuật Gây Tê Dưới Hướng Dẫn Siêu Âm

Sử dụng siêu âm trong gây tê ĐRTKCT giúp xác định chính xác vị trí của đám rối thần kinh, từ đó nâng cao hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân.

3.2. So Sánh Các Phương Pháp Gây Tê

So sánh giữa các phương pháp gây tê truyền thống và hiện đại cho thấy rằng kỹ thuật dưới hướng dẫn siêu âm có tỷ lệ thành công cao hơn và ít biến chứng hơn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Levobupivacain Và Fentanyl Trong Gây Tê

Nghiên cứu cho thấy việc phối hợp levobupivacainfentanyl trong gây tê ĐRTKCT mang lại hiệu quả cao trong việc giảm đau sau phẫu thuật. Kết quả này đã được chứng minh qua nhiều thử nghiệm lâm sàng.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Giảm Đau

Nghiên cứu cho thấy thời gian giảm đau sau phẫu thuật ở nhóm sử dụng levobupivacain phối hợp fentanyl kéo dài hơn so với nhóm chỉ sử dụng levobupivacain.

4.2. Tác Động Lên Tuần Hoàn Và Hô Hấp

Việc sử dụng levobupivacain và fentanyl không chỉ giúp giảm đau mà còn có tác động tích cực đến tuần hoàn và hô hấp của bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật.

V. Kết Luận Về Hiệu Quả Gây Tê Đám Rối Thần Kinh Cánh Tay

Việc đánh giá hiệu quả của phương pháp gây tê ĐRTKCT bằng levobupivacain và fentanyl là rất cần thiết. Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp này không chỉ an toàn mà còn mang lại hiệu quả cao trong việc giảm đau và cải thiện sự thoải mái cho bệnh nhân.

5.1. Tương Lai Của Gây Tê Đám Rối Thần Kinh

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc tối ưu hóa kỹ thuật và thuốc sử dụng để nâng cao hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân.

5.2. Khuyến Nghị Cho Thực Hành Lâm Sàng

Các bác sĩ cần được đào tạo về kỹ thuật gây tê dưới hướng dẫn siêu âm và cách phối hợp thuốc để đạt được kết quả tốt nhất trong phẫu thuật.

15/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu đám rối thần kinh cánh tay 1. Cấu tạo đám rối thần kinh cánh tay - Năm rễ: Đám rối thần kinh cánh tay được tạo thành bởi nhánh trước các dây thần kinh gai sống từ C5 đến T1 [23],[24]. - Ba thân: 5 rễ chia thành 3 thân.

+ C5, C6 nối với một nhánh của C4 tạo thành thân trên. + C7 tạo thành thân giữa. + C8 và T1 tạo thành thân dưới. - Sáu ngành: Mỗi thân này lại chia thành hai ngành (divisions): Ngành trước và ngành sau.

Như vậy sẽ có 6 ngành được tạo thành từ 3 thân. - Ba bó: Sáu ngành tạo thành 3 bó. + Bó ngoài: Ngành trước của thân trên và thân giữa tạo nên. + Bó trong: Ngành trước thân dưới tạo nên.

+ Bó sau: Ba ngành sau của 3 thân tạo nên. Sơ đồ cấu tạo đám rối cánh tay Trích nguồn Frank H. - Phần trên đòn (pars supraclavicularis): có 4 ngành chính, tách ra chủ yếu từ các rễ và thân trên của ĐRTKCT. 3 + Thần kinh (TK) vai sau hay lưng vai (nervus dorsalis scapulae): tách ra từ dây cổ 5, chi phối 2 cơ trám lớn và trám bé.

+ Thần kinh ngực dài (nervus thoracicus longus): tách từ rễ C5, C6, C7 cho cơ răng trước. + Thần kinh dưới đòn (nervus subclavius): tách từ thân trên cho cơ dưới đòn. + Thần kinh trên vai (nervus suprascapularis): tách thừ thân trên cho cơ trên vai, dưới vai. - Phần dưới đòn (pars infraclavicularis): có 5 ngành.

+ Thần kinh ngực trong (nervus pectolaris medialis): Tách từ bó trong, cho cơ ngực bé và một phần cơ ngực lớn. + Thần kinh ngực ngoài (nervus pectolaris lateralis): Tách từ bó ngoài cho cơ ngực lớn. + Thần kinh ngực trong: Nối với thần kinh ngực ngoài ở trước ĐM nách tạo thành quai ngực. + Các thần kinh dưới vai trên và dưới (nervus subscapularis superior/ inferior): gồm 2 nhánh tách ra từ bó sau chi phối cho cơ trên vai và dưới vai.

+ Thần kinh ngực lưng (nervus thoracodorsalis): tách ra từ bó sau, đi cùng động mạch ngực lưng chi phối cho cơ lưng rộng. Các ngành cùng - Ba dây phân nhánh để tạo thành năm nhánh thần kinh tận cùng chi phối cho chi trên: + Dây bên tạo ra dây thần kinh cơ bì và rễ bên của dây thần kinh giữa + Dây sau tạo ra dây thần kinh nách và dây thần kinh quay. + Dây trung gian tạo ra rễ giữa của dây thần kinh giữa và dây thần kinh trụ. Chi phối của các dây thần kinh chi trên Hình 1.

Chi phối cảm giác của thần kinh chi trên. Trích nguồn Frank H. Thần kinh quay (radial nerve) - Chi phối vận động: Dây thần kinh quay chi phối các cơ nằm ở cánh tay sau và cẳng tay sau. Ở cánh tay, Hướng vào bên trong ba đầu của cơ tam đầu cơ tam đầu, có tác dụng duỗi cánh tay - khuỷu tay.

Dây thần kinh quay cũng tạo ra các nhánh cung cấp cơ nhị đầu và cơ của cẳng tay sau. Một nhánh tận cùng của dây thần kinh quay, nhánh sâu, nằm trong các cơ còn lại của cẳng tay sau. Nói chung, các cơ này chi phối các khớp cổ tay và ngón tay, đồng thời gấp cẳng tay. - Chi phối cảm giác: Có bốn nhánh của dây thần kinh quay chi phối lớp da bên trong cho da của chi trên.

Ba trong số các nhánh này phát sinh ở cánh tay trên: Dây thần kinh chi phối da bên dưới của cánh tay - Nằm trong mặt bên của cánh tay. Dây thần kinh chi phối da sau của cánh tay - Bên trong bề mặt sau của cánh tay. Dây thần kinh chi phối da sau của cẳng tay - Nằm trong một dải da ở giữa cẳng tay sau. Thần kinh trụ (ulnar nerve) - Chi phối vận động: Dây thần kinh trụ chi phối các cơ ở khoang trước của cẳng tay và ở bàn tay.

+ Cẳng tay trước Ở cẳng tay trước, nhánh cơ của dây thần kinh trụ chi phối hai cơ: Cơ trụ trước: gấp bàn tay về phía cẳng tay Cơ gấp chung sâu các ngón tay: gấp các ngón tay đeo nhẫn và ngón út Các cơ còn lại ở cẳng tay trước được chi phối bởi dây thần kinh quay. + Bàn tay Phần lớn các cơ bàn tay bên trong được chi phối bởi nhánh sâu của dây thần kinh trụ: Các cơ vận động cho ngón tay út Các cơ giun Cơ khép ngón cái Cơ gan tay ngắn. - Chi phối cảm giác: Có ba nhánh của dây thần kinh trụ chịu trách nhiệm cho việc chi phối cảm giác. + Hai trong số các nhánh này phát sinh ở cẳng tay và đi vào bàn tay: + Nhánh da bàn tay - nằm nửa trong giữa của lòng bàn tay.

+ Nhánh da lưng ngón tay - nằm trong mặt lưng của ngón tay giữa và vùng da lưng ngón tay 4. + Nhánh cuối cùng: + Nhánh tự do - bên trong bề mặt lòng bàn tay của ngón giữa. Chi phối cảm giác ngoài da của các rễ và các dây thần kinh Trích nguồn Frank H. Thần kinh giữa (median nerve) - Chi phối vận động: Dây thần kinh giữa chi phối phần lớn các cơ ở cẳng tay trước và một số cơ ở bàn tay.

Cẳng tay trước Ở cẳng tay, dây thần kinh giữa trực tiếp chi phối các cơ ở lớp ngoài và lớp giữa: Lớp bề mặt: Cơ sấp tròn, cơ gấp cổ tay quay và cơ gan tay bé. Lớp giữa: cơ gấp chung sâu các ngón tay. Dây thần kinh giữa cũng làm tạo ra dây thần kinh bên trong trước, chi phối các cơ gấp sâu: Lớp sâu: cơ gấp dài ngón cái, cơ sấp vuông và nửa bên của cơ gấp chung sâu các ngón tay. Nói chung, các cơ này thực hiện động tác gập của cẳng tay, gập cổ tay và gập các ngón tay.

- Chi phối cảm giác: Dây thần kinh giữa chi phối cho da của một phần bàn tay. Điều này đạt được thông qua hai nhánh: 7 Nhánh da bàn tay - phát sinh ở cẳng tay và đi vào bàn tay. Nó chi phối da mặt bên lòng bàn tay. Dây thần kinh này không đi qua ống cổ tay, và được loại bỏ trong hội chứng ống cổ tay.

Nhánh chi phối lòng bàn tay - tạo ra ở bàn tay, chi phối da bề mặt lòng bàn tay và đầu ngón tay. Dây thần kinh cơ- bì (musculocutaneous nerve) - Chi phối vận động: + Chi phối các cơ trước của cánh tay: Cơ nhị đầu Cơ cánh tay Cơ quạ cánh tay + Các cơ này gấp cánh tay trên ở vai và ở khuỷu tay. Ngoài ra, cơ nhị đầu cũng có tác dụng ngửa cẳng tay. - Chi phối cảm giác: Dây thần kinh bì cẳng tay ngoài chi phối da mặt bên của cẳng tay.

Dây thần kinh này ban đầu đi vào sâu cẳng tay, nhưng sau đó xuyên qua cơ gấp sâu ra vùng dưới da. Trong vùng này, nó có thể được tìm thấy gần với tĩnh mạch đầu. Dây thần kinh bì cẳng tay trong chi phối da của mặt trước của cẳng tay. Dây thần kinh nách (mũ) (axillary nerve) - Chi phối vận động: Dây thần kinh nách nuôi dưỡng các cơ tròn bé và cơ delta.

Cơ tròn bé - một phần của cơ xoay vai hoạt động để ổn định khớp vai. Nó có tác dụng xoay khớp vai ra bên ngoài và được bao bọc bởi nhánh tận cùng sau của dây thần kinh nách. Cơ delta - nằm ở cao hơn của vai. Nó cố định chi trên tại khớp vai và được bao bọc bởi nhánh tận cùng phía trước của dây thần kinh nách.

- Chi phối cảm giác: 8 Thành phần cảm giác của dây thần kinh nách được phân phối qua nhánh tận cùng sau của nó. Sau khi nhánh tận cùng sau của dây thần kinh nách đã đi vào bên trong của dây thần kinh cơ tròn bé, nó tiếp tục là dây thần kinh chi phối da bên trên của cánh tay. Nó chi phối da dưới của cơ delta 1. Dây thần kinh bì cánh tay trong (medial brachial cutaneous nerve): Dây chi phối cảm giác ở mặt dưới bên trong cánh tay.

Dây thần kinh bì cẳng tay trong (medial antebrachial cutaneous nerve): Dây chi phối cảm giác ở mặt dưới của cẳng tay và mặt trong của cẳng tay 1. Cấu trúc giải phẫu liên quan của ĐRTKCT Đám rối được hình thành bởi dây thần kinh cổ C5 đến C8 và phần lớn của dây thần kinh ngực thứ nhất D1. Ngoài ra, có một phần nhỏ có thể được thực hiện bởi các dây thần kinh cổ thứ tư và dây thần kinh ngực thứ hai. Có nhiều kết nối phức tạp giữa các phần thần kinh của đám rối cánh tay khi chúng di chuyển từ lỗ đốt sống đến điểm cuối của chúng tận cùng các dây thần kinh.

Tuy nhiên, hầu hết đặc điểm cấu tạo những rễ này không phải là thông tin cần thiết cho người thực hành lâm sàng. Tuy nhiên, sự sắp xếp không gian của các thân thần kinh (trên, giữa và dưới) và chi phối phản ứng vận động với kích thích thần kinh rất quan trọng. Đám rối thần kinh cánh tay cung cấp tất cả các vận động và hầu hết các chức năng cảm giác của vai ngoại trừ các phần da trước ngực. Chúng được chi phối bởi các dây thần kinh thượng đòn bắt nguồn từ phần dưới của đám rối cổ nông (C3-4) chi phối cảm giác cho vai phía trên xương đòn, hai khoang liên sườn đầu tiên ở phía trước, tam giác cổ sau và ngực trên.

Liên quan đám rối thần kinh cánh tay Trích nguồn Frank H. Netter (2014) [25] Chỉ có ba dây thần kinh của đám rối thần kinh cánh tay bên trong vai. Gần nhất trong số này là dây thần kinh bì cánh tay trên, một nhánh của dây thần kinh nách nằm trong của vai và da nằm trên cơ delta. Mặt giữa trên của cánh tay được chi phối bởi dây thần kinh bì cánh tay giữa và dây thần kinh bì cánh tay ngoài.

Ở phần trước của cánh tay trên cơ nhị đầu, da được chi phối bởi dây thần kinh ngực giữa. Ngoài việc chi phối cho da vùng vai, độ vững của khớp vai cũng được quan tâm đặc biệt. Nhìn chung, một dây thần kinh khi đi qua khớp vai tạo ra các nhánh bên chi phối khớp đó. Do đó, các dây thần kinh sẽ chi phối dây chằng, bao và màng hoạt dịch của vai bắt nguồn từ các dây thần kinh nách, hàm trên, dưới sụn và cơ.

Sự chi phối của các dây thần kinh này không phải là cố định, và sự chi phối từ dây thần kinh cơ bì có thể rất nhỏ hoặc hoàn toàn không có. Ở phía trước, dây thần kinh nách và dây thần kinh trên vai chi phối hầu hết các cho bao khớp và khớp vai. Trong một số trường hợp, dây thần kinh cơ bì có thể chi phối phần trước của khớp vai.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ