Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) phát sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh không ngừng gia tăng với tốc độ khoảng 7 – 8%/năm. Tổng lượng CTRSH đô thị phát sinh ước tính đạt khoảng 28.400 tấn/ngày, trong đó khối lượng thu gom và vận chuyển về các bãi chôn lấp tập trung khoảng 7.200 tấn/ngày, định mức phát sinh bình quân đạt 0,98 kg/người/ngày. Trong cơ cấu rác thải đô thị, chất thải hữu cơ chiếm tỷ lệ áp đảo từ 54% đến 77%, chất thải có thể tái chế chiếm từ 8% đến 18%. Trước tình trạng hai bãi rác Đông Thạnh và Gò Cát phải đóng cửa, toàn bộ lượng rác của thành phố dồn về xử lý tại bãi chôn lấp Phước Hiệp và Đa Phước, gây áp lực môi trường rất lớn. Việc chôn lấp đơn thuần không còn mang lại hiệu quả bền vững, đòi hỏi thành phố phải triển khai chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn (PLCTRTN) nhằm thu hồi phế liệu tái chế và xử lý chất hữu cơ làm phân compost.

Tại Quận 12, Ủy ban nhân dân quận đã ban hành văn bản số 401/UBND-TNMT ngày 23/01/2015 và Kế hoạch số 271/KH-UBND-TNMT ngày 14/07/2016 nhằm triển khai thí điểm chương trình phân loại rác tại nguồn trên địa bàn phường Tân Thới Hiệp với quy mô ban đầu 191 hộ dân. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, công tác phân loại và thu gom tại địa phương bộc lộ nhiều khó khăn, nhận thức của người dân chưa đồng đều, trang thiết bị thu gom chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và chưa tạo được sự đồng bộ trong toàn chuỗi quản lý. Nhằm giải quyết các bất cập trên, tác giả Đỗ Lâm Duy An đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Kỹ thuật Môi trường với đề tài "Đánh giá hiệu quả thực hiện chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn trên địa bàn Quận 12, TP. HCM".

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích các yếu tố thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn ở Quận 12; từ đó đề xuất các nhóm giải pháp khắc phục nhằm duy trì và nâng cao hiệu quả vận hành lâu dài của mô hình.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm sáu nội dung:

  1. Nghiên cứu tổng quan về "Chương trình thí điểm PLRTN trên địa bàn Quận 12" (mục đích, ý nghĩa, đối tượng, thời gian và phạm vi thực hiện).
  2. Khảo sát hiện trạng phát sinh chất thải rắn tại các hộ gia đình tham gia chương trình.
  3. Khảo sát hiện trạng hệ thống thu gom, vận chuyển CTRSH tại các hộ gia đình tham gia.
  4. Điều tra, khảo sát nhận thức và ý thức của ba nhóm đối tượng: hộ gia đình, nhân viên thu gom và cán bộ quản lý chương trình.
  5. Đánh giá hiệu quả thực hiện chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn giai đoạn 2017 – 2018.
  6. Đề xuất các biện pháp khắc phục khó khăn nhằm hoàn thiện chương trình trên địa bàn Quận 12.

Đối tượng nghiên cứu là Chương trình thí điểm PLRTN và các nhóm đối tượng tham gia thực hiện trên địa bàn Quận 12.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Khu phố 4 (Tổ 10, gồm các hộ mặt tiền và trong hẻm tuyến đường Nguyễn Thị Kiểu - đường Hiệp Thành 37 cũ) và Khu phố 4A (một phần Tổ 9), phường Tân Thới Hiệp, Quận 12 với tổng số 191 hộ dân (31 hộ mặt tiền, 149 hộ trong hẻm và 11 phòng trọ tự nguyện tham gia).
  • Thời gian: Khảo sát thực địa và thu thập số liệu được tiến hành qua hai đợt: đợt 1 vào tháng 11/2017 và đợt 2 vào tháng 6 – 7/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thiết lập cơ sở lý luận dựa trên các quy định pháp luật hiện hành và các nguyên lý kỹ thuật môi trường:

  • Khung văn bản quy phạm pháp luật: Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 (Khoản 15 Điều 3 quy định về quản lý chất thải); Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại; Công văn số 3302/TNMT-CTR ngày 12/04/2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM; Kế hoạch số 271/KH-UBND-TNMT ngày 14/07/2016 của UBND Quận 12.
  • Cơ sở lý thuyết chuyên ngành: Khái niệm về CTR, CTRSH; chuỗi quản lý chất thải gồm thu gom sơ cấp (từ nguồn phát sinh đến điểm tập kết) và thu gom thứ cấp (từ điểm tập kết/trung chuyển về trạm xử lý hoặc bãi chôn lấp); đặc tính vật lý (khối lượng riêng, phương pháp xác định độ ẩm theo công thức khối lượng ướt $M = \frac{w - d}{w} \times 100$); đặc tính hóa học (thành phần C, H, O, N, S, tro để xác định tỷ lệ C/N làm phân compost); đặc tính sinh học (hàm lượng chất rắn bay hơi VS, phương trình xác định phần có khả năng phân hủy sinh học theo Tchobanoglous: $BF = 0,83 - 0,028LC$); và các phương pháp xử lý chất thải rắn (cơ học, nhiệt phân, thiêu đốt >800°C, ủ phân compost hiếu khí, phân hủy kỵ khí thu khí mêtan, chôn lấp hợp vệ sinh).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thu thập số liệu: Tổng hợp các tài liệu khoa học, số liệu thống kê kinh tế - xã hội Quận 12, báo cáo quản lý môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM và UBND Quận 12.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Khảo sát trực tiếp tuyến đường Nguyễn Thị Kiểu, lộ trình thu gom, phương tiện và thùng chứa rác tại địa bàn thí điểm.
  • Phương pháp xã hội học: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp và phát phiếu điều tra xã hội học có cấu trúc đối với ba nhóm đối tượng: hộ gia đình (phân loại theo hộ mặt tiền, hộ trong hẻm, hộ phòng trọ), nhân viên thu gom trực tiếp và cán bộ quản lý chương trình tại phường/quận.
  • Phương pháp phân tích định tính và định lượng: Cân đo, xác định khối lượng phát sinh CTRSH trung bình ngày và xác định tỷ lệ phần trăm các thành phần chất thải tại các nhóm hộ dân.
  • Phương pháp biểu đồ nhân quả CED (Cause & Effect Diagram): Áp dụng sơ đồ xương cá để phân tích, xác định các nhóm nguyên nhân cốt lõi khiến chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn tại địa phương chưa đạt hiệu quả.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp hệ thống lý thuyết về chất thải rắn đô thị, nguồn phát sinh (khu dân cư, thương mại, công sở, công trường, khu công cộng, khu công nghiệp) và phân tích các đặc tính vật lý, hóa học, sinh học của chất thải. Tác giả trình bày các công nghệ xử lý CTR phổ biến (cơ học, nhiệt học, sinh hóa học và bãi chôn lấp) cùng những tác động tiêu cực của rác thải đến môi trường nước (nước rỉ rác chứa chất độc hại thấm vào nước ngầm), môi trường đất (mất độ phì, tích tụ khí độc), không khí (mùi hôi, khí nhà kính) và sức khỏe cộng đồng (lây lan bệnh truyền nhiễm như sốt rét, dịch hạch, thương hàn, tiêu chảy).

Chương 1 cũng tổng kết hiện trạng quản lý CTRSH tại TP.HCM: toàn thành phố có khoảng 380 điểm hẹn, hơn 570 xe cơ giới vận chuyển, 06 trạm ép rác kín và 46 bô rác; lực lượng vận chuyển gồm Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị thành phố (chiếm 53%), Công ty Dịch vụ Công ích quận/huyện (chiếm 30%) và Hợp tác xã Công Nông (chiếm 17%). Đồng thời, tác giả dẫn số liệu thành phần CTRSH và thành phần hóa học của chất thải từ các nghiên cứu trước:

TT Thành phần riêng của CTRSH hộ dân Tỷ lệ (%)
1 Chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học 67,25
2 Vỏ sò, ốc, cua 1,91
3 Giấy và carton 6,07
4 Nilon và nhựa 6,80
5 Cao su Không đáng kể
6 Kim loại và lon 0,74
7 Mốp xốp (Styrofoam) 0,46
8 Chất thải nguy hại (giẻ lau dính dầu, bóng đèn) 0,43
9 Các thành phần khác 16,34
Tổng 100,00

(Nguồn: Số liệu CENTEMA tổng hợp nêu trong văn bản)

Bên cạnh đó, số liệu phân tích thành phần nguyên tố hóa học (% trọng lượng khô) của CTRSH theo Trần Hiếu Nhuệ và cộng sự cũng được dẫn chứng: thực phẩm chứa 48,0% Carbon, 6,4% Hydro, 37,5% Oxy, 2,6% Nitơ, 0,4% Lưu huỳnh và 5,0% Tro; plastic chứa 60,0% Carbon, 7,2% Hydro, 22,8% Oxy và 10,0% Tro; cao su chứa 78,0% Carbon và 10,0% Hydro.

Chương 2: Tổng quan về Quận 12

Chương 2 trình bày tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Quận 12: diện tích tự nhiên 5.274,89 ha, gồm 11 phường, dân số thời điểm nghiên cứu là 66.377 người (trong đó dân nhập cư chiếm 51,03%). Địa hình chia làm hai khu vực: vùng đất cao phía Tây Rạch Bến Cát (cao độ 2,0m đến 13,5m, độ dốc trung bình 0,38%) và vùng trũng thấp phía Đông Rạch Bến Cát ven Kênh Tham Lương (cao độ dưới 2,0m, chịu ảnh hưởng triều cường sông Sài Gòn qua Rạch Tra và Rạch Bến Cát). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng Dịch vụ (68,54%) – Công nghiệp – Nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 20,44%/năm.

Chương này giới thiệu chi tiết về Chương trình thí điểm PLRTN tại Quận 12 theo Kế hoạch số 271/KH-UBND-TNMT. Chương trình được tổ chức thực hiện từ ngày 19/01/2015 trên địa bàn phường Tân Thới Hiệp tại tuyến đường Nguyễn Thị Kiểu (KP4 - Tổ 10 và KP4A - một phần Tổ 9), với 191 hộ tham gia (31 hộ mặt tiền, 149 hộ trong hẻm, 11 phòng trọ). Quy trình thu gom được bố trí từ 7g30 đến 10g00 hàng ngày kết hợp thu gom rác chợ; trang thiết bị thực hiện ban đầu gồm 02 xe đẩy tay 01 ngăn và 01 xe ép rác chuyên dụng 7 tấn.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 mô tả cụ thể quy trình và các công cụ nghiên cứu:

  • Thiết kế phiếu điều tra và phân tầng mẫu khảo sát đối với 191 hộ gia đình, nhân viên thu gom rác thuộc Công ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích Quận 12 và đường dây thu gom dân lập, cùng cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận 12, UBND phường Tân Thới Hiệp.
  • Phương pháp lấy mẫu, cân khối lượng và phân loại thành phần CTRSH tại nguồn phát sinh trong các đợt khảo sát (tháng 11/2017 và tháng 6, 7/2018).
  • Phương pháp phân tích định tính và định lượng xử lý số liệu điều tra nhận thức cộng đồng và hiện trạng thu gom.
  • Phương pháp biểu đồ nhân quả CED (Cause & Effect Diagram) nhằm phân rã các nhóm nguyên nhân kỹ thuật, tài chính, nhân lực, công nghệ và ý thức xã hội.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 phân tích dữ liệu khảo sát thực tế thu thập từ địa bàn thí điểm:

  • Khảo sát nguồn phát sinh, khối lượng và thành phần CTRSH: Xác định lượng phát sinh trung bình ngày và phân loại theo 3 đối tượng hộ dân (hộ mặt tiền đường, hộ trong hẻm sâu và hộ tại các dãy phòng trọ). Tác giả so sánh tỷ lệ phát sinh chất thải hữu cơ dễ phân hủy, chất thải tái chế (giấy, nhựa, kim loại) và chất thải còn lại giữa các nhóm hộ.
  • Tỷ lệ thực hiện phân loại: Thống kê tỷ lệ phần trăm hộ gia đình thực hiện phân loại rác và tỷ lệ phân loại đúng theo quy định (tách riêng chất thải hữu cơ và chất thải còn lại).
  • Hiện trạng hệ thống thu gom, vận chuyển: Đánh giá thực trạng trang thiết bị lưu chứa tại hộ dân (thùng chứa, bao bì) và phương tiện thu gom trên tuyến. Điểm nghẽn lớn nhất được phát hiện là việc sử dụng xe đẩy tay 01 ngăn khiến nhân viên thu gom sau khi tiếp nhận rác đã phân loại từ người dân lại đổ dồn chung vào cùng một thùng xe, làm giảm hiệu quả phân loại ban đầu.
  • Nhận thức và thái độ của cộng đồng: Đánh giá mức độ hiểu biết của hộ dân về chương trình PLRTN; ghi nhận những khó khăn người dân gặp phải (thiếu không gian đặt nhiều thùng rác, thiếu bao bì chuyên dụng, thời gian thu gom chưa thuận tiện); khảo sát mức độ hài lòng của người dân đối với tác phong, công tác thu gom và thái độ phục vụ của nhân viên vệ sinh môi trường.
  • Đánh giá nhận thức của nhân viên thu gom và năng lực điều phối của lực lượng quản lý tại địa phương trong giai đoạn 2017 – 2018.

Chương 5: Xác định nguyên nhân chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn trên địa bàn Quận 12 không đạt hiệu quả

Chương 5 sử dụng biểu đồ CED để phân tích toàn diện 4 nhóm nguyên nhân khiến chương trình thí điểm chưa đạt hiệu quả mong muốn và đề xuất các giải pháp xử lý tương ứng:

  • Vấn đề tài chính: Chế độ đãi ngộ, tiền lương và phụ cấp cho công nhân thu gom rác còn thấp, nguồn thu phí vệ sinh từ hộ dân không đủ trang trải chi phí vận hành riêng biệt hai dòng rác. Khóa luận đề xuất giải pháp cân đối nguồn ngân sách và điều chỉnh mức giá dịch vụ thu gom.
  • Vấn đề nhân lực: Thiếu lực lượng giám sát chuyên trách tại địa bàn; nhân viên thu gom chưa được đào tạo chuyên môn về quy trình vận chuyển rác phân loại. Khóa luận đề xuất bổ sung nhân sự quản lý và tập huấn định kỳ cho công nhân vệ sinh.
  • Vấn đề ý thức của người dân và nhân viên thu gom: Tồn tại tâm lý ỷ lại, thói quen bỏ rác hỗn hợp của một bộ phận người dân; nhân viên thu gom thiếu trách nhiệm khi gộp chung rác đã phân loại. Tác giả kiến nghị đẩy mạnh tuyên truyền qua đài truyền thanh địa phương (tần suất tối thiểu 1 lần/tuần), phát tờ rơi, tờ gấp và phát huy vai trò của tuyên truyền viên nòng cốt tại tổ dân phố.
  • Vấn đề trang thiết bị và dụng cụ thu gom, vận chuyển: Thiếu thùng chứa rác 2 màu đạt chuẩn tại hộ gia đình; phương tiện thu gom thô sơ chỉ có xe đẩy tay 1 ngăn; xe ép rác 7 tấn chưa được thiết kế ngăn tách biệt. Khóa luận đề xuất đầu tư, cải tạo xe đẩy tay thành loại 2 ngăn riêng biệt và chuẩn hóa hệ thống xe ép cơ giới vận chuyển về khu xử lý.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và làm rõ hiện trạng thực hiện chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn tại địa bàn Quận 12 với các kết quả cụ thể:

  • Phản ánh trung thực thực trạng vận hành chương trình thí điểm trên quy mô 191 hộ dân tại phường Tân Thới Hiệp; chỉ ra nghịch lý kỹ thuật then chốt: người dân bước đầu có ý thức phân loại nhưng hệ thống thu gom sơ cấp bằng xe đẩy tay 01 ngăn và xe ép 7 tấn không đồng bộ đã làm tái lẫn lộn rác thải hữu cơ và rác vô cơ.
  • Nhận diện đầy đủ các rào cản thông qua biểu đồ nhân quả CED, phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố: cơ chế tài chính/tiền lương, năng lực nhân sự, ý thức cộng đồng và tính đồng bộ của trang thiết bị kỹ thuật.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cho địa phương, bao gồm:
    1. Cải thiện chế độ tiền lương và chính sách hỗ trợ tài chính cho lực lượng thu gom trực tiếp.
    2. Bổ sung nhân lực quản lý, tăng cường kiểm tra, giám sát tuân thủ đối với lực lượng thu gom dân lập.
    3. Đổi mới công tác tuyên truyền, hướng dẫn phân loại thông qua tổ dân phố, loa truyền thanh phường và tài liệu trực quan.
    4. Chuẩn hóa hạ tầng kỹ thuật: trang bị thùng rác phân loại tại hộ dân, hoán cải/thay thế xe đẩy tay thành loại 2 ngăn phân biệt và tối ưu hóa lộ trình xe ép rác cơ giới.

Về mặt đóng góp, đề tài cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực chứng tại Quận 12 trong hai mốc thời gian (tháng 11/2017 và tháng 6 – 7/2018), làm tài liệu tham khảo thực tế cho công tác quản lý chất thải rắn đô thị cấp quận/huyện, giúp các nhà quản lý thấy rõ điểm nghẽn giữa khâu phân loại tại nguồn và khâu thu gom vận chuyển.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực tế:

  • Phạm vi khảo sát không gian chỉ giới hạn tại 191 hộ dân thuộc Khu phố 4 (Tổ 10) và Khu phố 4A (một phần Tổ 9), phường Tân Thới Hiệp; chưa mở rộng đánh giá trên toàn bộ 11 phường của Quận 12.
  • Thời gian khảo sát tập trung thành 2 đợt ngắn hạn (tháng 11/2017 và tháng 6 – 7/2018), chưa theo dõi được biến động thành phần và khối lượng rác thải theo các mùa trong năm cũng như các dịp lễ, Tết.
  • Chưa đi sâu tính toán chi tiết bài toán kinh tế - kỹ thuật ở quy mô công nghiệp đối với chuỗi xử lý rác sau thu gom (chế biến phân compost và tái chế phế liệu).

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả kiến nghị là mở rộng phạm vi điều tra sang các phường có đặc điểm kinh tế - xã hội khác nhau trên địa bàn quận; nghiên cứu hoàn thiện mô hình xã hội hóa công tác thu gom rác dân lập và thiết kế quy trình giám sát, chế tài xử phạt hành chính đối với các trường hợp không thực hiện phân loại chất thải theo quy định.


Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên các ngành Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Môi trường, Đô thị học khi tìm kiếm phương pháp luận khảo sát xã hội học kết hợp đánh giá kỹ thuật CTRSH.
  • Cán bộ quản lý môi trường tại Phòng Tài nguyên và Môi trường các quận/huyện, UBND phường/xã trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các đề án phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn.
  • Phần có giá trị tham khảo cao nhất là Chương 4 và Chương 5, nơi trình bày phương pháp ứng dụng biểu đồ CED để giải quyết các xung đột hạ tầng và đề xuất phương án cải tiến phương tiện thu gom sơ cấp.

Câu hỏi thường gặp

1. Chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn được triển khai tại địa bàn cụ thể nào của Quận 12?
Chương trình được triển khai thí điểm tại Khu phố 4 (Tổ 10, gồm các hộ mặt tiền và trong hẻm tuyến đường Nguyễn Thị Kiểu - đường Hiệp Thành 37 cũ) và Khu phố 4A (một phần Tổ 9) thuộc địa bàn phường Tân Thới Hiệp, Quận 12.

2. Quy mô và các đối tượng hộ dân tham gia khảo sát trong khóa luận gồm những ai?
Quy mô khảo sát gồm 191 hộ dân, được chia thành ba nhóm đối tượng cụ thể: 31 hộ gia đình mặt tiền đường, 149 hộ gia đình trong hẻm và 11 hộ tại các dãy phòng trọ do người dân tự nguyện hưởng ứng tham gia.

3. Vì sao chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn tại địa phương chưa đạt hiệu quả cao?
Nguyên nhân chủ yếu do sự thiếu đồng bộ giữa khâu phân loại của người dân và khâu thu gom của nhân viên vệ sinh. Phương tiện thu gom tại chỗ chỉ có xe đẩy tay 01 ngăn, khiến rác sau khi được hộ dân phân loại riêng biệt lại bị nhân viên thu gom dồn chung vào một thùng xe. Bên cạnh đó, chế độ đãi ngộ cho nhân viên thu gom còn thấp và công tác tuyên truyền, giám sát chưa được duy trì liên tục.

4. Trang thiết bị và phương tiện thu gom, vận chuyển rác được sử dụng trong giai đoạn thí điểm gồm những gì?
Hệ thống sử dụng 02 xe đẩy tay loại 01 ngăn phục vụ công tác thu gom sơ cấp từ các hộ dân và 01 xe ép rác chuyên dụng tải trọng 7 tấn phục vụ vận chuyển thứ cấp về khu xử lý tập trung.

5. Tác giả đã sử dụng công cụ phân tích nào để xác định các nguyên nhân khiến chương trình chưa đạt hiệu quả?
Tác giả sử dụng phương pháp biểu đồ nhân quả CED (Cause & Effect Diagram - Biểu đồ xương cá) để phân tích, chỉ ra 4 nhóm nguyên nhân chính gồm: tài chính, nhân lực, ý thức của các đối tượng tham gia và hệ thống trang thiết bị thu gom - vận chuyển.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Lâm Duy An đã phản ánh toàn diện hiện trạng và hiệu quả triển khai Chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn trên địa bàn Quận 12 giai đoạn 2017 – 2018. Nghiên cứu chỉ ra rõ ràng điểm nghẽn hạ tầng và sự thiếu đồng bộ giữa phân loại tại nguồn và phương tiện thu gom sơ cấp thô sơ. Các nhóm giải pháp đề xuất về chuẩn hóa thiết bị, nâng cao chế độ nhân lực và đẩy mạnh tuyên truyền cộng đồng có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đóng góp cơ sở dữ liệu thực chứng cho công tác quản lý chất thải rắn đô thị tại địa phương.