CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI NGUY HẠI 1. Cơ sở lý luận về CTNH 1. Một số khái niệm về CTNH Khái niệm về thuật ngữ “Chất thải nguy hại” (Hazardous Waste) lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70 của thế kỷ trước tại các nước Âu – Mỹ, sau đó mở rộng ra nhiều quốc gia khác. Sau một thời gian nghiên cứu phát triển, tùy thuộc vào sự phát triển khoa học kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm của mỗi nước hiện nay trên thế giới mà CTNH được định nghĩa khác nhau theo nhiều cách trong Luật và các văn bản dưới Luật về môi trường: Theo UNEP (The United Nations Environmet Programme): CTNH là chất thải ở dạng rắn, lỏng, bán rắn và các bình khí do hoạt tính hoá học, độc tính, nổ, ăn mòn, hoặc các đặc tính khác gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức khoẻ con người hoặc môi trường bởi chính bản thân chúng hay khi được tiếp xúc với chất khác.
Theo Luật khôi phục và bảo vệ tài nguyên của Mỹ RCRA (Resource Conservation & Recovery Act) thì CTNH là: - Chất thải được liệt kê trong quy chế của EPA. - Chất thải được phân tích và có 1 trong 4 đặc tính do EPA đưa ra gồm: cháy, nổ, ăn mòn, phản ứng và độc tính. - Chất thải được chủ nguồn thải (hay nhà sản xuất) tự công bố là CTNH. Theo Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (US –EPA): Chất thải được cho là nguy hại theo quy định của pháp luật nếu có một hoặc một số tính chất sau: - Thể hiện đặc tính dễ bắt lửa, ăn mòn, phản ứng, và/hoặc độc hại.
- Là chất thải xuất phát từ nguồn không đặc trưng (Chất thải nói chung từ quy trình công nghệ). - Là chất thải xuất phát từ nguồn đặc trưng (từ các ngành công nghiệp độc hại). 3 - Là các hóa chất thương phẩm độc hại hoặc sản phẩm trung gian. - Là hỗn hợp có chứa một CTNH đã được liệt kê.
- Là một chất được quy định trong RCRA. - Phụ phẩm của quá trình xử lý CTNH cũng được coi là CTNH trừ khi chúng được loại bỏ hết tính nguy hại. Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 của Việt Nam, tại Khoản 11, Điều 3 nêu rõ: CTNH là chất thải có chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác. Các chất gây nguy hại điển hình: 9 Axít và kiềm 9 Dung dịch xyanua và hợp chất 9 Chất oxy hóa 9 Dung dịch kim loại nặng 9 Dung môi (halogenated and nonhalogenated) 9 Cặn dầu thải 9 Amiăng So sánh các định nghĩa nêu trên, định nghĩa về CTNH của Việt Nam với định nghĩa của các quốc gia khác cho thấy định nghĩa của nước ta có nhiều điểm tương đồng với định nghĩa của UNEP và của Mỹ.
Qua đó, đã nhấn mạnh đến tính chất nguy hại của một số loại chất thải, cho dù được thải ra với khối lượng nhỏ thì CTNH cũng có khả năng gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người. Nguồn gốc và phân loại CTNH 1. Nguồn gốc phát sinh CTNH Do tính đa dạng của các loại hình công nghiệp, các hoạt động thương mại tiêu dùng, các hoạt động trong cuộc sống hay các hoạt động nông nghiệp mà CTNH có thể phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau. Việc phát thải có thể do bản chất công nghệ, hay do trình độ dân trí dẫn đến việc thải chất thải có thể vô tình hay cố ý.
Có thể chia các nguồn phát sinh CTNH thành 4 nguồn chính như: 4 - Từ các hoạt động công nghiệp (sản xuất thuốc trừ sâu sử dụng dung môi toluene hay xelyene…). - Từ hoạt động nông nghiệp (sử dụng thuốc bảo vệ thực vật độc hại…). - Thương mại (quá trình xuất nhập các hàng độc hại không đạt yêu cầu cầu sản xuất, hàng quá hạn sử dụng…). - Từ việc tiêu dùng trong dân dụng (như việc sử dụng pin, dầu nhớt bôi trơn, ắcquy các loại, các hoạt đông nghiên cứu trong phòng thí nghiệm…).
Trong các nguồn thải nêu trên thì hoạt động công nghiệp là nguồn phát sinh CTNH lớn nhất và phụ thuộc vào rất nhiều vào loại ngành công nghiệp. Phân loại CTNH Có nhiều cách để phân loại CTNH, nhưng nhìn chung đều theo 2 cách như sau: - Theo đặc tính (dựa vào định nghĩa trên cơ sở 4 đặc tính). - Theo danh sách liệt kê được ban hành kèm theo Luật. Theo đặc tính của CTNH: - Tính cháy (Ignitability).
- Tính phản ứng (Reactivity). - Tính độc hại (Toxicity). Xác định tính độc của chất thải bằng cách sử dụng bảng liệt kê danh sách các chất độc hại được ban hành theo luật hay xác định bằng phương thức rò rỉ. Chất độc hại gồm các kim loại nặng như: thuỷ ngân (Hg), cadmium (Cd), asenic (As), chì (Pd) và các muối của chúng; dung môi hữu cơ như toluen (C6H5CH3), benzen (C6H6), axeton (CH3COCH3), cloroform…; các chất có hoạt tính sinh học (thuốc sát trùng, trừ sâu, hoá chất nông dược…); các chất hữu cơ rất bền trong điều kiện tự nhiên nếu tích luỹ trong cơ thể con người ở đến một nồng độ nhất định thì sẽ gây bệnh (PCBs: Poly Chlorinated Biphenyls).
Ngoài ra có một cách phân loại CTNH theo đặc tính khác được thể hiện như sau dựa trên quan điểm những mối nguy hại tiềm tàng và các tính chất chung của chúng, chia ra thành 9 nhóm: 5 + Chất gây nổ. + Các chất khí nén, hóa lỏng hay hòa tan có áp. + Các chất lỏng dễ gây cháy. + Các chất rắn dễ cháy, chất có khả năng tự bốc cháy và những chất gặp nước sẽ sinh ra khí dễ cháy.
+ Những tác nhân oxy hóa và các peoxit hữu cơ. + Chất gây độc và chất gây nhiễm bệnh. + Những chất phóng xạ. + Những chất nguy hại khác.
Theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước về chuyên ngành: Ở Việt Nam, việc phân định, phân loại CTNH được thực hiện theo quy định tại Phụ lục 8 TT số 12/2011/BTNMT, được xác định theo 19 nhóm nguồn/dòng thải. Thông qua danh mục này, các chất thải được tra cứu nhanh theo các nhóm dòng thải tương ứng. Các nhóm nguồn/dòng thải này bao gồm: 01. Chất thải ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí và than.
Chất thải từ ngành sản xuất, điều chế, cung ứng, sử dụng hoá chất vô cơ. Chất thải từ ngành sản xuất, điều chế, cung ứng, sử dụng hoá chất hữu cơ. Chất thải từ nhà máy nhiệt điện và các cơ sở đốt khác. Chất thải từ ngành luyện kim và đúc kim loại.
Chất thải từ ngành sản xuất vật liệu xây dựng và thuỷ tinh. Chất thải từ quá trình xử lý, che phủ bề mặt, gia công kim loại và các vật liệu khác. Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng, sử dụng các sản phẩm che phủ (sơn, véc ni, men thuỷ tinh), chất kết dính, chất bịt kín và mực in. Chất thải từ ngành chế biến gỗ, sản xuất các sản phẩm gỗ, giấy và bột giấy.
Chất thải từ ngành chế biến da, lông và dệt nhuộm. Chất thải xây dựng và phá dỡ (kể cả đất đào từ các khu vực bị ô nhiễm). Chất thải từ các cơ sở tái chế, xử lý, tiêu huỷ CT, nước thải và xử lý nước cấp. Chất thải từ ngành y tế và thú y (trừ chất thải sinh hoạt từ ngành này).
Chất thải từ ngành nông nghiệp. Thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã hết hạn sử dụng và chất thải từ hoạt động phá dỡ, bảo dưỡng thiết bị, phương tiện giao thông vận tải. Chất thải hộ gia đình và chất thải nguy hại từ các nguồn khác. Dầu thải và chất thải lẫn dầu từ nhiên liệu lỏng, chất thải dung môi hữu cơ, môi chất lạnh và chất đẩy (propellant).
Các loại chất thải bao bì, chất hấp thụ, giẻ lau, vật liệu lọc và vải bảo vệ. Các loại chất thải chưa nêu tại các mã khác. Theo cách này, các doanh nghiệp có thể tự tra cứu để kê khai các chất thải phát sinh đặc trưng của ngành sản xuất, đồng thời nhờ đó, các cơ quan quản lý địa phương cũng dễ dàng trong việc cấp Sổ chủ nguồn CTNH và quản lý các nguồn CTNH. Tóm lại, ở nước ta hiện nay có hai cách xác định CTNH, đó là: - Xác định CTNH theo 19 nhóm nguồn và dòng thải chính trong Danh mục CTNH ban hành (Phụ lục 8 ban hành kèm theo TT số 12/2011/BTNMT).
- Xác định CTNH thông qua phân tích các tính chất và thành phần nguy hại đối với những chất thải rơi vào Cột Ngưỡng nguy hại (*) của theo TT số 12 hoặc một số CT như: Phân loại của QCVN 07:2009 - Phân loại CTNH hoặc không có trong danh mục của cả 2 văn bản trên. Các kết quả phân tích các thành phần nguy hại sẽ được đối chiếu với Tiêu chuẩn về ngưỡng nguy hại QCVN 07: 2009. Ngoài ra, trong thực tế, có một số CTNH do chủ nguồn thải tự kê khai và công bố cũng được cơ quan quản lý môi trường chấp nhận khi đăng ký cấp Sổ chủ nguồn thải CTNH. Hiện trạng về chất thải nguy hại trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Tình hình phát sinh CTNH trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình phát sinh CTNH trên thế giới 7 Chất thải và tăng trưởng kinh tế có xu hướng luôn đi cùng nhau. Chính vì vậy, tất cả các loại chất thải trên thế giới đều tăng lên một cách khác thường. Ở Mỹ, từ năm 1970 – 1988, lượng chất thải rắn được chôn lấp hay tiêu hủy đã tăng 37%, lượng chất thải tính theo đầu người tăng 14%.
Mỗi năm người Mỹ thải ra 156 triệu tấn rác thải đô thị. Khối lượng rác độc hại (vỏ hộp sơn cũ, pin bỏ đi được đổ vào thùng rác gia đình…) rất lớn. Hầu hết các ước tính đều cho rằng tổng lượng rác thải độc hại là từ 250 – 500 tấn/năm. Phần lớn rác thải độc hại được tạo ra từ các ngành công nghiệp dầu lửa, kim loại và hóa chất, dù bằng cách này hay cách khác.
[5a] Sự phát triển các loại hình công nghiệp, sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ vật chất…đã dẫn đến một lượng lớn chất thải được thải ra môi trường trong đó có chất thải nguy hại. Và chính điều này đã gây ra một số bệnh nghiêm trong như: ở dạng muối vô cơ, thủy ngân gây nên các rối loạn thần kinh cho công nhân làm mũ của ngành công nghiệp làm mũ của Hà Lan với cụm từ “mad as a hatter”, bệnh “Minamata” do nhà máy hóa chất của Nhật, nhiễm độc Cd qua con đường thực phẩm tại Nhật gây ra bệnh “Itai – Itai”… [5b] 1.