Tổng quan nghiên cứu

Quản lý chất thải nguy hại là một trong những thách thức môi trường cấp bách nhất tại các trung tâm công nghiệp của Việt Nam. Trên phạm vi toàn quốc, các hoạt động sản xuất công nghiệp phát sinh khoảng 130.000 tấn chất thải nguy hại mỗi năm, đi kèm với 21.000 tấn rác thải y tế nguy hại. Nằm trong tam giác phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tỉnh Quảng Ninh giữ vị trí chiến lược nhưng cũng đối mặt với sức ép môi trường khổng lồ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh với tỷ trọng công nghiệp từng đạt trên 71,4% đã làm gia tăng đột biến khối lượng chất thải độc hại. Số liệu theo dõi cho thấy lượng chất thải nguy hại phát sinh trên địa bàn tỉnh đã tăng từ 1.127.340 kg vào năm 2007 lên mức 4.887.800 kg vào năm 2011, tương đương mức tăng gấp hơn 4,3 lần chỉ sau 5 năm.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự mất cân đối giữa tốc độ phát sinh chất thải nguy hại từ các ngành công nghiệp mũi nhọn như khai thác than đá, sản xuất nhiệt điện, vật liệu xây dựng, đóng tàu với năng lực thu gom, kiểm soát và xử lý thực tế tại địa phương. Đến năm 2011, tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải nguy hại của tỉnh mới đạt 85%, trong khi hạ tầng xử lý tập trung chưa đồng bộ, dẫn đến nhiều nguy cơ rò rỉ các thành phần độc hại như dầu cặn, amiăng, bùn thải kim loại nặng và hóa chất hữu cơ bền vững ra môi trường tự nhiên.

Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung vào 3 nhiệm vụ then chốt: điều tra, thống kê và phân loại chi tiết hiện trạng các nguồn phát sinh chất thải nguy hại; đánh giá thực trạng công tác quản lý, cơ chế thanh tra, xử lý vi phạm của các cơ quan chức năng; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật, kinh tế và thể chế nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh với tầm nhìn đến năm 2015.

Phạm vi nghiên cứu bao trùm toàn bộ 14 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh Quảng Ninh, với các điểm khảo sát trọng điểm tại thành phố Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí và Móng Cái. Thời gian nghiên cứu chuyên sâu được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2013, dựa trên chuỗi số liệu giám sát thực nghiệm giai đoạn 2007 - 2012. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để nâng cao tỷ lệ xử lý chất thải đạt chuẩn lên trên 90%, giảm thiểu thiệt hại sinh thái cho di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long, đồng thời tiết kiệm hàng chục tỷ đồng chi phí khắc phục sự cố môi trường theo các nguyên lý kinh tế học hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận tiếp cận hệ thống theo mô hình Áp lực - Hiện trạng - Tác động - Đáp ứng. Mô hình này thiết lập mối quan hệ biện chứng giữa sức ép phát triển kinh tế (áp lực từ 30 mỏ khai thác than lộ thiên và 20 mỏ than hầm lò), thực trạng gia tăng khối lượng 19 dòng thải chất thải nguy hại (hiện trạng), các nguy cơ suy thoái môi trường đất, nước, không khí, hệ sinh thái (tác động) và hệ thống chính sách, công nghệ kiểm soát của tỉnh (đáp ứng).

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp lý thuyết Kinh tế Môi trường thông qua nguyên tắc Người gây ô nhiễm phải trả tiền nhằm thiết lập cơ chế tài chính nội hóa chi phí xử lý chất thải vào giá thành sản xuất. Khung phân định tính chất nguy hại dựa trên 4 đặc tính cơ bản theo chuẩn mực của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc: tính dễ cháy, tính ăn mòn, tính phản ứng và độc tính sinh thái.

Các khái niệm cốt lõi được định nghĩa chuẩn hóa theo Khoản 11, Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005, kết hợp danh mục 19 nhóm nguồn thải quy định tại Phụ lục 8 Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Các ngưỡng kỹ thuật về độc tính được đối chiếu trực tiếp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 07:2009/BTNMT để nhận diện chính xác các dòng chất thải chứa thủy ngân, chì, polychlorinated biphenyl và các hợp chất hữu cơ độc hại.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa tầng từ số liệu sơ cấp và thứ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh Quảng Ninh, báo cáo môi trường định kỳ của 52 đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và hệ thống niên giám thống kê giai đoạn 2007 - 2012.

Về phương pháp khảo sát thực địa, nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng có chủ đích với cỡ mẫu điều tra là 103 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh có phát sinh chất thải nguy hại trên 4 địa bàn công nghiệp trọng điểm: Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí và Móng Cái. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm tập trung vào các nhóm ngành có rủi ro phát thải cao nhất như khai thác khoáng sản, nhiệt điện, đóng tàu, cơ khí và y tế, đảm bảo tính đại diện cho cơ cấu công nghiệp của tỉnh. Bộ công cụ điều tra bao gồm phiếu khảo sát bảng hỏi kết hợp công văn thu thập dữ liệu định lượng về khối lượng, thành phần dòng thải và quy trình lưu giữ tại nguồn.

Phương pháp phân tích số liệu kết hợp thống kê mô tả, phân tích hồi quy xu hướng và so sánh chuẩn đối chiếu. Lý do lựa chọn phương pháp so sánh chuẩn đối chiếu là để định lượng mức độ vi phạm và rủi ro môi trường thực tế thông qua việc so sánh các thông số ô nhiễm với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành, bao gồm: QCVN 03:2008/BTNMT (giới hạn kim loại nặng trong đất), QCVN 05:2008/BTNMT (chất lượng không khí xung quanh), QCVN 24:2009/BTNMT (nước thải công nghiệp) và QCVN 29:2010/BTNMT (nước thải kho xăng dầu). Timeline thực hiện nghiên cứu diễn ra qua 3 giai đoạn: thu thập dữ liệu thứ cấp và thiết kế bộ công cụ (tháng 2 - tháng 3/2013), khảo sát thực địa và phát phiếu điều tra (tháng 4/2013), xử lý dữ liệu và xây dựng mô hình giải pháp (tháng 5/2013).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ gia tăng khối lượng chất thải nguy hại tại Quảng Ninh diễn ra ở mức báo động. Tổng khối lượng phát sinh ghi nhận từ 1.127.340 kg năm 2007 đã tăng vọt lên 4.887.800 kg vào năm 2011, tương ứng mức tăng 333,56% sau 5 năm. Dù tỷ lệ thu gom, xử lý được cải thiện từ 75% năm 2007 lên 85% năm 2011, lượng chất thải nguy hại chưa được thu gom triệt để trong năm 2011 vẫn ở mức trên 733.000 kg, tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với môi trường.

Thứ hai, cơ cấu phát sinh chất thải nguy hại có sự tập trung cao độ vào ngành công nghiệp khai thác khoáng sản và nhiệt điện. Tính đến hết năm 2012, toàn tỉnh có 540 đơn vị đăng ký Sổ chủ nguồn thải. Khối lượng phát sinh phân bổ theo ngành cho thấy: ngành khai thác khoáng sản dẫn đầu với 1.621.800 kg/năm, ngành công nghiệp chế tạo chiếm 897.349,6 kg/năm, sản xuất và phân phối điện chiếm 276.998,4 kg/năm, ngành y tế chiếm 168.204,4 kg/năm và ngành du lịch dịch vụ là 152.017,9 kg/năm. Riêng 52 công ty, xí nghiệp trực thuộc ngành than đã thải ra 819,8 tấn chất thải nguy hại mỗi năm.

Thứ ba, thành phần dòng thải phát sinh hàng tháng có sự vượt trội của các chất thải chứa dầu và vật liệu nhiễm độc. Trong ngành khai thác khoáng sản, lượng dầu động cơ và hộp số thải chiếm tới 12.100 kg/tháng, dầu thải thông thường là 6.500 kg/tháng, má phanh hỏng chứa amiăng là 4.000 kg/tháng và lõi lọc dầu thải là 3.540 kg/tháng. Ngành sản xuất và phân phối điện phát sinh 4.000 kg dầu nhiên liệu và diesel thải/tháng. Ngành đóng và sửa chữa tàu biển phát sinh 2.200 kg vật liệu mài mòn nhiễm kim loại nặng/tháng và 1.000 kg bao bì nhiễm hóa chất/tháng. Lĩnh vực dịch vụ môi trường ghi nhận lượng bùn thải xử lý nước thải và tro lò đốt lên tới 12.310 kg/tháng, còn ngành y tế phát sinh 7.630 kg chất thải lây nhiễm/tháng.

Thứ tư, công tác chấp hành pháp luật của các chủ nguồn thải còn nhiều bất cập nghiêm trọng. Trong số 45 đơn vị gửi báo cáo chi tiết năm 2012 (trên tổng số 103 đơn vị được khảo sát), có 13 đơn vị (chiếm 28,9%) phát sinh lượng chất thải nguy hại vượt trên 15% so với khối lượng đăng ký trong Sổ chủ nguồn thải, trong đó 3 đơn vị phát sinh thêm các mã chất thải mới nhưng không khai báo. Đáng chú ý, trong 12 đơn vị đã chuyển giao chất thải cho đơn vị xử lý, có tới 5 đơn vị (chiếm 41,7%) không cung cấp được chứng từ chuyển giao hợp lệ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng gia tăng chất thải nguy hại bắt nguồn từ cơ cấu kinh tế dựa vào tài nguyên than của Quảng Ninh, với 5 mỏ than lộ thiên quy mô 1 - 3 triệu tấn/năm (Cọc Sáu, Cao Sơn, Hà Tu, Đèo Nai, Núi Béo) và 7 mỏ hầm lò công suất trên 1 triệu tấn/năm (Mạo Khê, Vàng Danh, Nam Mẫu, Hà Lầm, Mông Dương, Khe Chàm, Dương Huy). Lượng phương tiện vận tải siêu trọng và thiết bị cơ giới khổng lồ vận hành liên tục đã đẩy lượng dầu cặn và linh kiện nhiễm dầu tăng vọt. Bên cạnh đó, các cơ sở xử lý hành nghề được cấp phép trên địa bàn tỉnh còn thiếu về số lượng và yếu về công nghệ, trong khi việc kiểm soát các phương tiện vận chuyển liên tỉnh còn nhiều kẽ hở.

Khi phân tích kết quả nghiên cứu, dữ liệu có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột đa tầng thể hiện động thái gia tăng tải lượng chất thải nguy hại giai đoạn 2007 - 2011, kết hợp sơ đồ cơ cấu tròn phân bổ tỷ trọng theo 5 nhóm ngành kinh tế chính. Ngoài ra, việc thiết lập bảng ma trận so sánh thành phần các dòng thải đặc thù (dầu thải, amiăng, bùn kim loại, PCB) đối chiếu với các ngưỡng kỹ thuật trong QCVN 07:2009/BTNMT sẽ làm nổi bật mức độ nguy hại vượt chuẩn tại từng khu vực khai trường.

So sánh với các trung tâm công nghiệp lớn khác, lượng chất thải nguy hại công nghiệp tại Quảng Ninh cao vượt trội so với mức trung bình của các tỉnh phía Bắc (chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số 28.000 tấn/năm của toàn vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ). Các sự cố thực tế như vụ rò rỉ 16 phuy dầu biến thế chứa polychlorinated biphenyl tại Cảng Cái Lân lưu giữ hơn 5 năm từ năm 2008, hay vụ chôn lấp chất thải y tế trái quy định tại huyện Yên Hưng năm 2008 đã minh chứng cho những lỗ hổng nguy hiểm trong chuỗi giám sát lưu thông chất thải nguy hại, đe dọa trực tiếp đến môi trường nước sông Mông Dương, sông Diễn Vọng và hệ sinh thái vịnh Cửa Lục.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng và dự báo phát sinh dòng thải đến năm 2015, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược có tính hành động cao:

Thứ nhất, thiết lập và chuẩn hóa quy trình quản lý kỹ thuật chất thải nguy hại từ nguồn phát sinh đến khâu tiêu hủy cuối cùng. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh giữ vai trò chủ trì, phối hợp cùng Ban Quản lý các Khu kinh tế và UBND 14 huyện, thị xã, thành phố triển khai hệ thống số hóa cơ sở dữ liệu và giám sát điện tử các chứng từ chuyển giao. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ cơ sở phát thải đăng ký Sổ chủ nguồn thải từ 540 đơn vị lên trên 750 đơn vị, đảm bảo 100% các đơn vị phát sinh trên 600 kg/năm được kiểm soát bằng định vị phương tiện vận chuyển trước quý IV năm 2015.

Thứ hai, đầu tư xây dựng hạ tầng xử lý tập trung và chuyển giao công nghệ xử lý tiên tiến. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cần phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam thu hút nguồn vốn xã hội hóa để xây dựng 01 khu liên hợp xử lý chất thải nguy hại tập trung tại khu vực Cẩm Phả hoặc Hoành Bồ với công suất xử lý 5.000 tấn/năm trước năm 2015. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ đồng xử lý chất thải chứa dầu và dung môi hữu cơ trong lò nung clinker tại Nhà máy xi măng Cẩm Phả và Nhà máy xi măng Hà Tu, tận dụng nhiệt độ lò trên 1.400 độ C để tiêu hủy triệt để độc chất mà không làm phát sinh dioxin và furan.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế tài chính và áp dụng công cụ kinh tế môi trường. Sở Tài chính phối hợp với Cục Thuế tỉnh và Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành khung biểu phí thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại dựa trên nguyên tắc "Người gây ô nhiễm phải trả tiền". Thiết lập quỹ ký quỹ phục hồi môi trường đối với các doanh nghiệp khai thác khoáng sản và tăng mức chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi phát sinh vượt trên 15% khối lượng kê khai mà không báo cáo bổ sung, thực hiện áp dụng đồng bộ từ đầu năm 2014 nhằm tạo nguồn thu tái đầu tư cho công tác quan trắc môi trường.

Thứ tư, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật chuyên biệt cho ngành y tế và nông nghiệp. Sở Y tế chịu trách nhiệm hoàn thành dự án đầu tư lắp đặt bổ sung 01 hệ thống xử lý nước thải y tế và 02 lò đốt rác thải rắn đạt chuẩn, đảm bảo 22/22 bệnh viện và trung tâm y tế có giường bệnh trên địa bàn tỉnh sở hữu công trình xử lý đạt chuẩn 100% trước năm 2015. Đồng thời, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với chính quyền huyện Đông Triều và thị xã Quảng Yên xây dựng mạng lưới các bể thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật chuyên dụng tại cánh đồng, phấn đấu thu gom và xử lý an toàn 100% lượng bao bì phát sinh (tương đương khoảng 1 tấn/năm) đến cuối năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học và thực tiễn chuyên sâu dành cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Chi cục Bảo vệ Môi trường, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh Quảng Ninh và Phòng Tài nguyên - Môi trường của 14 huyện, thị xã, thành phố. Luận văn cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm chi tiết về 540 chủ nguồn thải, làm cơ sở xây dựng kế hoạch thanh tra, hậu kiểm cấp phép và hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành trong xử lý vi phạm chuyển giao chất thải.

Nhóm thứ hai là ban lãnh đạo, cán bộ quản lý an toàn - môi trường tại các tập đoàn, doanh nghiệp công nghiệp lớn, đặc biệt là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Đông Bắc, các nhà máy nhiệt điện (Quảng Ninh, Uông Bí, Cẩm Phả), nhà máy xi măng và các công ty đóng tàu. Doanh nghiệp có thể ứng dụng trực tiếp các hướng dẫn phân loại 19 dòng thải, giải pháp giảm thiểu chất thải dầu mỡ tại nguồn (trên 12.000 kg/tháng) và quy trình lưu giữ tạm thời hợp quy chuẩn.

Nhóm thứ ba là các giảng viên, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường và Phát triển Bền vững. Công trình mang lại giá trị học thuật cao về phương pháp luận tiếp cận hệ thống, kỹ thuật thiết kế mẫu khảo sát thực địa 103 cơ sở phát thải và phương pháp xử lý số liệu chuỗi thời gian 2007 - 2012 phục vụ mô hình hóa dòng thải tại các vùng ven biển.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp dịch vụ môi trường, các đơn vị hành nghề thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại đang tìm kiếm cơ hội đầu tư. Luận văn cung cấp bức tranh phân tích thị trường chuẩn xác với quy mô xử lý thực tế trên 3.000 tấn/năm, giúp định hình việc lựa chọn công nghệ thiêu đốt, xử lý hóa - lý hay tái sinh dầu thải phù hợp với nhu cầu của địa bàn.

Câu hỏi thường gặp

Nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất tại tỉnh Quảng Ninh bắt nguồn từ lĩnh vực nào? Ngành công nghiệp khai thác than và luyện kim cơ khí là nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất, chiếm trên 60% tổng lượng chất thải toàn tỉnh. Riêng 52 đơn vị thuộc ngành than thải ra 819,8 tấn chất thải nguy hại/năm, với khối lượng dầu động cơ và hộp số thải phát sinh thường xuyên lên tới 12.100 kg mỗi tháng tại các khai trường.

Khối lượng chất thải nguy hại tại Quảng Ninh biến động như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu? Lượng chất thải nguy hại phát sinh tăng trưởng đột biến từ 1.127.340 kg năm 2007 lên 4.887.800 kg vào năm 2011, tương đương mức tăng hơn 4,3 lần. Tỷ lệ thu gom và xử lý cũng được nâng từ 75% lên 85% trong cùng giai đoạn, nhưng vẫn để lại khoảng 15% lượng thải chưa được kiểm soát triệt để ngoài môi trường.

Khung pháp lý nào được sử dụng để phân loại và định danh chất thải nguy hại trong luận văn? Nghiên cứu áp dụng hệ thống phân loại 19 nhóm dòng thải theo Phụ lục 8 Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT kết hợp đối chiếu ngưỡng độc tính theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 07:2009/BTNMT. Hệ thống quy chuẩn này giúp 540 doanh nghiệp trên địa bàn xác định chính xác các mã chất thải chứa chì, thủy ngân, dầu khoáng và amiăng.

Thực trạng xử lý chất thải nguy hại trong ngành y tế tại Quảng Ninh đạt mức độ nào? Lĩnh vực y tế ghi nhận tiến bộ vượt bậc với 22/22 bệnh viện và trung tâm y tế có giường bệnh được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải. Tính đến năm 2012, đã có 20/22 đơn vị lắp đặt lò đốt chất thải y tế rắn và 21/22 đơn vị vận hành hệ thống xử lý nước thải lỏng y tế đạt chuẩn, xử lý hơn 7.630 kg chất thải lây nhiễm/tháng.

Điểm nghẽn lớn nhất trong công tác tuân thủ pháp luật về chất thải nguy hại tại địa phương là gì? Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở tính trung thực trong kê khai và chứng từ chuyển giao. Khảo sát thực tế chỉ ra 28,9% doanh nghiệp phát sinh vượt 15% lượng chất thải đăng ký, và 41,7% đơn vị chuyển giao thiếu chứng từ hợp lệ. Điển hình là sự cố tồn đọng 16 phuy dầu chứa độc chất PCB tại Cảng Cái Lân suốt 5 năm gây rò rỉ ra môi trường.

Kết luận

  • Tốc độ phát sinh chất thải nguy hại tại Quảng Ninh tăng nhanh từ 1.127.340 kg năm 2007 lên 4.887.800 kg năm 2011, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực quản lý toàn diện.
  • Khai thác than và nhiệt điện là nguồn thải trọng điểm, phát sinh hơn 12.100 kg dầu thải/tháng cùng hàng nghìn tấn bùn thải, vật liệu chứa amiăng đòi hỏi công nghệ xử lý đặc thù.
  • Công tác quản lý đã cấp 540 Sổ chủ nguồn thải, nhưng còn tồn tại 28,9% cơ sở vượt định mức kê khai và 41,7% đơn vị chuyển giao không có chứng từ hợp lệ.
  • Luận văn đã xây dựng cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện từ 103 cơ sở khảo sát và đề xuất 4 nhóm giải pháp tích hợp kỹ thuật - kinh tế - thể chế với tầm nhìn đến năm 2015.
  • Lộ trình giai đoạn 2013 - 2015 cần ưu tiên xây dựng khu liên hợp xử lý tập trung công suất 5.000 tấn/năm, đồng thời số hóa 100% quy trình cấp phép và giám sát chứng từ chuyển giao.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh định lượng chân thực về dòng vật chất chất thải nguy hại, làm cầu nối giữa lý thuyết kinh tế môi trường và thực tiễn quản lý địa phương. Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan ban ngành cần nhanh chóng thể chế hóa các giải pháp đồng xử lý trong lò nung xi măng và hoàn thiện mạng lưới thu gom rác thải nông nghiệp. Hãy liên hệ các cơ quan quản lý môi trường và tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để cùng chung tay xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn, bảo vệ vững chắc môi trường sinh thái vịnh Hạ Long và tỉnh Quảng Ninh.