chương 1, điều 3: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”, *Chức năng của môi trường? - Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật. - Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người. - Môi trường là nơi chứa đựng phế thải do con người tạo ra trong hoạt động sống và hoạt động sản xuất. - Môi trường có chức năng giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên Trái đất.
- Môi trường có chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người (Nguyễn Thị Lợi, 2006) [4]. *Ô nhiễm môi trường là gì? - Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì “Ô nhiễm môi trường là sự đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến mức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái chất lượng môi trường”. n 5 - Ô nhiễm môi trường nước Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật. Theo hiến chương Châu Âu: Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi chu yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho nông nghiệp, nuôi cấ, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại.
Khái niệm nước mặt: Là nước tồn tại trong các tầng nước chứa dưới mặt đất. Vấn đề ô nhiễm nước là một trong những thực trạng đáng lo ngại nhất của sự hủy hoại môi trường tự nhiên do nền văn minh đương thời gây nên. Môi trường nước rất dễ bị ô nhiễm, các ô nhiễm từ không khí, đất đều có thể làm ô nhiễm nước ảnh hưởng tới con người và các loài sinh vật khác. Môi trường nước mặt bao gồm: nước ao hồ, nước sông, suối, nước đồng ruộng… Nguồn nước các sông, kênh tải nước thải, các hồ khu vực đô thị, khu công nghiệp và đồng ruộng lúa nước là những nơi có mức độ ô nhiễm cao.
Nguồn gây ra ô nhiễm nước mặt là các khu vực tập trung dân cư, các hoạt động công nghiệp, giao thông thủy và sản xuất nông nghiệp. Nguồn nước bị ô nhiễm thường có các dấu hiệu sau: - Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và cặn lắng chìm xuống đáy nguồn. - Thay đổi tính chất lý học (độ trong, mùi, màu, nhiệt độ…) - Thay đổi thành phần hóa học (pH, hàm lượng các chất vô cơ, hữu cơ, xuất hiện các hóa chất độc hại…) - Lượng oxi hòa tan (DO) trong nước giảm mạng do các quá trình sinh hóa để oxi hóa các chất bẩn hữu cơ mới thải vào. - Các vi sinh vật thay đổi về loài, số lượng.
Có xuất hiện các vi trùng gây bệnh. Các dạng ô nhiễm thường gặp: - Ô nhiễm các chất hữu cơ: đó là sự có mặt cửa các chất tiêu thụ oxi trong nước, các chỉ tiêu đánh giá ô nhiễm hữu cơ là BOD, COD, DO. n 6 - Ô nhiễm các chất vô cơ: là có nhiều chất vô cơ gây ô nhiễm trong nước. Một số nhóm điển hình như: các lọai phân bón hữu cơ, khoáng axit, cặn nguyên tố vết.
- Ô nhiễm các chất phú dưỡng: phú dưỡng là sự gia tăng các hàm lượng nitro, photpho trong nước nhập vào các thủy vực dẫn tới sự tăng trưởng của các thực vật bậc thấp (rong, tảo, bèo…). Nó tạo ra những biến đổi lớn trong hệ sinh thái nước, làm giảm oxi trong nước. Do đó chất lượng nước bị suy giảm và ô nhiễm. - Ô nhiễm do kim lọa nặng và các ô nhiễm hóa chất khác: thường gặp trong khu vực gần khu công nghệ, khu vực khai khoáng, các thành phố lớn.
Ô nhiễm KLN và các hóa chất nguy hại khác có tác động trầm trọng tới hoạt động sống của con người và sinh vật. chúng chậm phân hủy và tích lũy theo chuỗi thức ăn đi vào cơ thể người và sinh vật. - Ô nhiễm vi sinh vật: thường gặp ở các thủy vực nhận nước thải sinh hoạt đặc biệt là nước thải bệnh viện. Các loại vi khuẩn, ký sinh trùng, sinh vật gây bệnh sẽ theo nguồn nước lan truyền cho người và động vật.
- Ô nhiễm nước mặt bởi dư lượng thuốc BVTV và phân bón hóa học: trong quá trình sử dụng một lượng lớn thuốc BVTV và phân bón hóa học bị đẩy vào vực nước ruộng, ao, hồ, đầm… chúng sẽ lan truyền và tích lũy trong môi trường đất, nước và sản phẩm nông nghiệp, tieeos theo đó thâm nhập vào cơ thể con người và động vật theo chuỗi thức ăn. *Quản lý môi trường “Quản lý môi trường là một hoạt động trong quản lý xã hội: có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên” (Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam, 2005) [5]. *Tiêu chuẩn môi trường “Tiêu chuẩn Môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xunh quanh, về hàm lượng của chất ô nhiễm trong chất thải n 7 được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường” (Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam, 2005) [5]. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006.
- Luật Tài nguyên nước số: 17/2012/ QH 13 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 26/12/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013. - Nghị định số 29/2011/NĐ - CP ngày 18/04/2011 của Chính Phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. - Căn cứ nghị định 80/2006/NĐ – CP ngày 09/08/2006 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường - Căn cứ nghị định 21/2008/NĐ – CP ngày 28/02/2008 về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 80/2006/NĐ – CP. - Nghị định 149/2004/NĐ – CP ngày 27/07/2004 của Chính phủ quy định về việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước.
- Nghị định 162/2003/NĐ – CP ngày 19/12/2003 của Chính phủ ban hành quy chế thu thập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu, thong tin về tài nguyên nước. - Thông tư số 29/2011/TT – BTNMT ban hành ngày 01/08/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường nước mặt lục địa. - Thông tư số 21/2012/TT – BTNMT ngày 19/12/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường. - Quyết định số 341/QĐ – BTNMT ngày 23/03/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành danh mục lưu vực sông nội tỉnh.
- QCVN 08:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng n 8 môi trường nước mặt. - QCVN 14:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt - QCVN 40:2011/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp. Cơ sở thực tiễn 2. Các vấn đề môi trường nước mặt trên thế giới Trên thế giới có khoảng 361 triệu km2 diện tích các đại dương (chiếm khoảng 71% diện tích bề mặt Trái đất).
Trữ lượng tài nguyên nước có khoảng 1,36 tỷ km3, trong đó nước nội địa chỉ chiếm 91 triệu km3 (chiếm 6,6%), còn lại 92,4% là nước biển và đại dương. Tài nguyên nước ngọt chiếm 28,25 triệu km2 (chiếm 1,88%) nhưng có tới 2/3 lượng nước này lại nằm ở dạng sông băng và các mũ băng ở hai cực trái đất. Lượng nước thực tế con người có thể sử dụng được là 4,2 triệu km2 (chiếm 0,27% thủy quyển).Tài nguyên nước trên thế giới được thống kê ở bảng sau: Bảng 2.1: Thống kê tài nguyên nước trên thế giới Thể tích Tỷ lệ Vị trí (*1012m3) (%) Hồ nước ngọt 125 0,009 Hồ nước ngọt, 104 0,008 biển nội địa Vùng lục địa Sông 1,25 0,0001 Độ ẩm trong đất 67 0,005 Nước ngầm 8350 0,61 Băng ở Bắc cực 29200 2,14 Tổng vùng lục địa 37800 2,8 Khí quyển 13 0,001 (Hơi nước) Các đại dương 1320000 97,3 Tổng 1360000 100% (Nguồn Tyson, J, (1989) [15]) n 9 Nước lục địa bao gồm nguồn nước mặt và nước dưới đất. Nước mặt phân bố chủ yếu trong các hệ thông sông, suối, ao, hồ, kênh, rạch và các hệ thống tiêu thoát nước trong nội thành, đô thị.Nước dưới đất hay còn gọi là nước ngầm là tầng nước tự nhiên chảy trong long đất qua nhiều tầng đất đá, có cấu tạo địa chất khác nhau.
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, đặc biệt là các lưu vực sông, suối trong nột thành, nội thị. Trên Thế giới có khoảng 1400 triệu km3 nước, trong đó nước mặn chiếm 97%, nước ngọt chiếm 3% nhưng lượng nước có thể sử dụng được chỉ chiếm khoảng 0,3% tổng lượng nước trên Thế giới, phần còn lại là nước đóng băng. Thế giới hiện này tỷ lệ sử dụng nước như sau: + 69% sử dụng cho nông nghiệp + 23% sử dụng cho công nghiệp + 8% sử dụng cho đời sống sinh hoạt và đô thị Theo ước tính, những vùng đất hạn hán chiếm 31% tổng diện tích đất liền trên Thế giới, trong đó bao gồm 40% là sa mạc. Do đó, hiện tượng không cân bằng của sự phân bố nước trên địa cầu là không thể tránh khỏi, điều đáng báo động là mức sử dụng nước bình quân cho mỗi đầu người khoảng 2000m3, nhưng hiện nay có đến 50 nước, khoảng 750 triệu dân được cung cấp nước dưới mức 1700m3 (1 người/năm).
Như vậy, trong những thập kỷ tới, chúng ta phải tính đến sự sa mạc hóa và tốc độ gia tăng dân số ở một số vùng trên thế giới. Người ta nhận định rằng ở Châu Phi hơn 1 tỷ người sẽ lâm vào cảnh thiếu nước trầm trọng và đây cũng là mối đe doạ của cả Trung Quốc và Ấn Độ [1].