Tổng quan nghiên cứu

Khai thác và phát triển lâm sản ngoài gỗ đóng vai trò cốt lõi trong chiến lược lâm nghiệp bền vững tại Việt Nam, khi ngành chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ là ngành hàng xuất khẩu lớn thứ 6 của cả nước với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 13% mỗi năm giai đoạn 2010–2018 theo Chỉ thị số 08/CT-TTg. Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, khu hệ sinh thái đặc hữu dải Trường Sơn Bắc đang chịu áp lực khai thác nghiêm trọng khi tỷ lệ hộ nghèo tại các xã vùng đệm lên tới 53,3%, cá biệt tại hai thôn vùng lõi tỷ lệ hộ nghèo lên tới 67,4% và 68,2%. Tình trạng thu hái tự phát các loài dược liệu quý như lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus), Thạch tùng răng cưa (Huperzia serrata), Cốt toái bổ (Drynaria fortunei) đã làm suy giảm nghiêm trọng nguồn tài nguyên tự nhiên.

Nghiên cứu của tác giả Bùi Quang Duận nhằm kiểm kê toàn diện tính đa dạng thực vật lâm sản ngoài gỗ, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng của cộng đồng địa phương, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn gắn với sinh kế. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 23.456,71 ha vùng lõi và 82.383,32 ha vùng đệm thuộc địa giới hành chính của 5 xã: Hướng Lập, Hướng Việt, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Linh, được thực hiện từ tháng 03/2019 đến tháng 10/2019. Kết quả đề tài cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn để bảo vệ 1.009 loài thực vật bậc cao có mạch tại khu bảo tồn, đồng thời chuyển đổi mô hình kinh tế lâm nghiệp cho 19.467 hộ dân vùng đệm theo hướng gia tăng giá trị chuỗi sản phẩm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở tích hợp lý thuyết quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng và khung phân tích sinh kế bền vững nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế vùng cao. Hệ thống khái niệm chuẩn hóa về lâm sản ngoài gỗ được kế thừa từ định nghĩa của Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO) và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), xác định lâm sản ngoài gỗ là toàn bộ sản phẩm sinh vật có nguồn gốc từ rừng và đất rừng, loại trừ gỗ lớn công nghiệp, phục vụ nhu cầu đời sống, thương mại và văn hóa.

Nghiên cứu cũng vận dụng mô hình phân tích chuỗi giá trị và thị trường lâm sản của các nhà kinh tế lâm nghiệp quốc tế để đánh giá các kênh lưu thông hàng hóa từ rừng đến cơ sở chế biến. Nền tảng pháp lý của đề tài gắn liền với Quyết định số 2366/QĐ-BNN-LN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Đề án bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2006–2020, Nghị định 06/2019/NĐ-CP về quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, cùng Chiến lược phát triển Lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua hai trụ cột: điều tra sinh thái thực địa và điều tra xã hội học lâm nghiệp trong giai đoạn từ tháng 03/2019 đến tháng 10/2019:

  • Khảo sát thực vật dã ngoại: Thiết lập 05 tuyến điều tra sinh cảnh đại diện qua các đai cao từ vùng thấp đến đỉnh Sa Mù (cao 1.570 m) và đỉnh Voi Mẹp (cao 1.771 m). Mỗi tuyến có chiều dài khoảng 3 km, dải quan sát rộng 3 m để ghi nhận thành phần loài, dạng sống và khả năng tái sinh. Mẫu vật có cơ quan sinh sản được thu thập, xử lý theo quy chuẩn thực vật học của Nguyễn Nghĩa Thìn (2005) và định danh theo hệ thống APG thông qua cơ sở dữ liệu Vườn thực vật Hoàng gia Kew.
  • Điều tra kinh tế - xã hội: Cỡ mẫu khảo sát gồm 100 hộ gia đình được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng tại các xã vùng đệm giáp ranh khu bảo tồn nhằm đánh giá mức độ phụ thuộc sinh kế. Nghiên cứu thực hiện thêm 50 phiếu khảo sát chuyên gia gồm cán bộ lâm nghiệp, nông nghiệp, văn hóa xã hội và phỏng vấn sâu 10 cán bộ quản lý khu bảo tồn, lãnh đạo chính quyền cấp xã.
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Việc kết hợp định lượng sinh học thực địa với điều tra phân tích kinh tế hộ cho phép phản ánh chính xác mối tương quan giữa áp lực khai thác của con người và sức chịu tải của hệ sinh thái rừng tự nhiên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận 265 loài thực vật bậc cao có mạch cho lâm sản ngoài gỗ, thuộc 189 chi, 99 họ trong tổng số 1.009 loài thực vật của Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, chiếm tỷ lệ 20,65%. Phân bố theo các bậc phân loại taxon cho thấy ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 246 loài (chiếm 92,83%), tiếp đến là Dương xỉ có 7 loài (2,64%), Hạt trần có 6 loài (2,26%), Thông đất có 5 loài (1,89%) và Dây gắm có 1 loài (0,38%). Tỷ lệ giữa lớp Hai lá mầm và Một lá mầm đạt 2,84:1, thể hiện tính phong phú của các loài thân thảo và dây leo một lá mầm có tốc độ sinh trưởng nhanh. Có 9 họ đa dạng nhất tập trung 93 loài, chiếm 35,09% tổng số loài lâm sản ngoài gỗ, nổi bật là họ Phong lan (Orchidaceae) với 17 loài (6,42%) và họ Trúc đào (Apocynaceae) với 15 loài (5,66%).

Phân loại theo giá trị sử dụng ghi nhận 6 nhóm chính với 381 lượt công dụng: nhóm cây làm dược liệu và mỹ phẩm chiếm ưu thế lớn nhất với 173 loài (chiếm 45,41%), nhóm cây thực phẩm có 77 loài (20,21%), nhóm cây làm cảnh và bóng mát có 64 loài (16,80%), nhóm cho sợi đan lát có 13 loài (3,41%), nhóm cho sản phẩm chiết xuất tinh dầu, nhựa có 8 loài (2,10%) và nhóm công dụng khác có 46 loài (12,07%). Về cấu trúc dạng sống, cây thân thảo chiếm tỷ trọng cao nhất với 81 loài (31,89%), cây gỗ có 56 loài (22,05%), cây bụi có 51 loài (20,08%), dây leo có 44 loài (17,32%) và thực vật ký sinh, phụ sinh có 22 loài (8,66%). Đặc biệt, đề tài đã phát hiện 36 loài thực vật quý hiếm có giá trị bảo tồn cao, trong đó 13 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và 27 loài thuộc Danh mục thực vật rừng nguy cấp theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP, bao gồm 14 loài Phong lan.

Khảo sát xã hội học cho thấy mức độ khai thác của người dân bản địa diễn ra liên tục: 82% hộ dân từng thu hái cây thuốc chữa bệnh và bán cho thương lái (thu nhập từ củ bách bộ đạt 50.000 đồng/0,5 kg), 73% hộ từng khai thác nhóm cây cho sợi (mây bột Calamus poilanei thu mua từ 9.000 đến 15.000 đồng/kg), 65% hộ khai thác rau rừng và măng tre, 63% hộ từng khai thác phong lan rừng. Hạt giổi xanh phơi khô đạt giá trị thương phẩm cao từ 1.000.000 đến 2.500.000 đồng/kg. Chuỗi thị trường lưu thông qua 3 kênh: Kênh 1 bán trực tiếp cho người tiêu dùng địa phương; Kênh 2 bán nguyên liệu thô qua thương lái thu gom; Kênh 3 đưa vào các đại lý lớn và cơ sở chế biến để hình thành sản phẩm thương mại xuất tỉnh.

Thảo luận kết quả

Thực trạng khai thác tập trung quá mức vào các loài dược liệu quý có giá bán cao xuất phát từ nguyên nhân nền kinh tế địa phương thuần nông, diện tích đất canh tác lúa nước hạn chế và thiếu hụt vốn đầu tư sản xuất. Tương tự các nghiên cứu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống (tỉnh Nghệ An) và Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, lâm sản ngoài gỗ đóng vai trò như chiếc lưới an toàn sinh kế cho đồng bào dân tộc Vân Kiều và Pa Kô. Tuy nhiên, việc thu hái theo phương thức tận diệt đào rễ, bẻ cành và khai thác cả cá thể chưa thuần thục đang đẩy nhiều loài như Lan kim tuyến, Thạch tùng răng cưa và Vàng đắng vào tình trạng cạn kiệt.

Về mặt biểu diễn dữ liệu khoa học, các chỉ số đa dạng sinh học và chuỗi phân phối này rất phù hợp để trực quan hóa qua biểu đồ hình quạt thể hiện cơ cấu 6 nhóm công dụng (dược liệu 45,41% so với chiết xuất 2,10%), kết hợp cùng sơ đồ khối mô tả dòng luân chuyển hàng hóa của 3 kênh thị trường nhằm chỉ rõ sự thất thoát giá trị gia tăng ở khâu bán lẻ nguyên liệu thô của người dân bản địa.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Xây dựng quy chế đồng quản lý và giao khoán bảo vệ rừng: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân 5 xã vùng đệm phân định ranh giới khai thác hợp lý, ban hành hướng dẫn kỹ thuật thu hái bền vững đối với 265 loài lâm sản ngoài gỗ, mục tiêu giảm 40% số vụ vi phạm khai thác trái phép vùng lõi trong giai đoạn 2020–2023.
  • Phát triển mô hình nông lâm kết hợp và trồng cây dược liệu dưới tán rừng: Ủy ban nhân dân huyện Hướng Hóa và Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị hỗ trợ kinh phí nhân giống các loài bản địa có giá trị kinh tế vượt trội như Sa nhân tím, Ba kích, Đẳng sâm và Mây bột, đặt mục tiêu xây dựng 50 ha mô hình thí điểm, giúp nâng thu nhập của các hộ tham gia thêm 15 đến 20 triệu đồng mỗi năm giai đoạn 2021–2025.
  • Chuẩn hóa chuỗi giá trị và liên kết chế biến tiêu thụ sản phẩm: Thành lập 02 hợp tác xã dịch vụ nông lâm nghiệp tại xã Hướng Phùng và xã Hướng Lập, trang bị hệ thống máy sấy và đóng gói đạt chuẩn để chế biến sâu hạt giổi rừng, củ bách bộ, măng tre, hướng tới chứng nhận OCOP 3 sao, giảm tỷ lệ bán nguyên liệu thô qua trung gian từ 80% xuống dưới 30% vào năm 2025.
  • Hiện đại hóa hoạt động tuần tra và kiểm soát bảo tồn loài nguy cấp: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị trang bị phần mềm giám sát SMART và thiết bị định vị vệ tinh cho lực lượng tuần tra, thiết lập hồ sơ theo dõi định kỳ đối với 36 loài thực vật quý hiếm thuộc Nghị định 06/2019/NĐ-CP, đặc biệt là 14 loài Phong lan và các quần thể Trầm hương, Đỉnh tùng từ quý I/2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia vùng Bắc Trung Bộ: Khai thác danh lục 265 loài lâm sản ngoài gỗ và cấu trúc phân loại theo nhóm công dụng để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và thiết kế các tuyến tuần tra bảo tồn đa dạng sinh học.
  • Giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Sinh thái học: Sử dụng các dẫn liệu định lượng về tỷ lệ phân hóa taxon, chỉ số một lá mầm trên hai lá mầm (2,84:1) và phương pháp đánh giá 5 tuyến sinh cảnh làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu hệ thực vật Trường Sơn.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị: Ứng dụng các phân tích về kinh tế hộ và chuỗi thị trường 3 kênh để xây dựng chính sách giao đất lâm nghiệp, quy hoạch vùng trồng dược liệu bản địa cho huyện Hướng Hóa và Đakrông.
  • Các tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp phát triển dược liệu: Tiếp cận số liệu điều tra về 173 loài cây thuốc và tiềm năng thương phẩm của hạt giổi xanh, mây bột để thiết kế các dự án sinh kế dựa vào cộng đồng và đầu tư chuỗi chế biến xuất khẩu.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã thống kê được bao nhiêu loài cây cho lâm sản ngoài gỗ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa?
Nghiên cứu đã xác định được 265 loài thực vật bậc cao có mạch có khả năng cung cấp lâm sản ngoài gỗ, thuộc 189 chi và 99 họ của 5 ngành thực vật, chiếm tỷ lệ 20,65% trong tổng số 1.009 loài thực vật được ghi nhận tại toàn khu bảo tồn.

Nhóm giá trị sử dụng nào chiếm tỷ trọng lớn nhất trong khu hệ lâm sản ngoài gỗ tại địa bàn?
Nhóm cây cho sản phẩm làm dược liệu và mỹ phẩm chiếm ưu thế tuyệt đối với 173 loài (đạt tỷ lệ 45,41%), theo sau là nhóm cây làm thực phẩm với 77 loài (20,21%) và nhóm cây làm cảnh, bóng mát với 64 loài (16,80%).

Có bao nhiêu loài thực vật lâm sản ngoài gỗ quý hiếm được ghi nhận cần ưu tiên bảo tồn?
Đề tài đã ghi nhận 36 loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa, bao gồm 13 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 và 27 loài thuộc Danh mục quản lý của Nghị định 06/2019/NĐ-CP, trong đó có 14 loài Phong lan rừng cấm khai thác.

Mức độ phụ thuộc vào lâm sản ngoài gỗ của cộng đồng dân cư vùng đệm diễn ra như thế nào?
Có tới 82% người dân được khảo sát từng thu hái cây dược liệu từ rừng tự nhiên, 73% từng khai thác mây tre đan lát, 65% khai thác thực phẩm và 63% khai thác phong lan cảnh, đóng góp nguồn tiền mặt quan trọng trong điều kiện tỷ lệ hộ nghèo vùng đệm đạt 53,3%.

Thị trường tiêu thụ lâm sản ngoài gỗ tại huyện Hướng Hóa đang vận hành qua những kênh nào?
Sản phẩm được lưu thông qua 3 kênh chính: bán trực tiếp cho người tiêu dùng tại chỗ, bán nguyên liệu thô qua thương lái thu gom trung gian đi tỉnh khác, và chuyển giao cho các đại lý lớn liên kết cơ sở chế biến để nâng cao giá trị hàng hóa.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập bộ cơ sở dữ liệu khoa học toàn diện với 265 loài cây lâm sản ngoài gỗ thuộc 189 chi, 99 họ của 5 ngành thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa.
  • Xác định cấu trúc sử dụng vượt trội của nhóm cây dược liệu với 173 loài (45,41%) cùng ưu thế của dạng sống cây thảo (31,89%), tạo tiền đề thuận lợi cho phát triển kinh tế dưới tán rừng.
  • Định vị chính xác 36 loài thực vật quý hiếm có nguy cơ đe dọa cao theo Sách đỏ Việt Nam và Nghị định 06/2019/NĐ-CP cần được giám sát nghiêm ngặt.
  • Làm rõ thực trạng 82% hộ dân thu hái dược liệu tự nhiên và nhận diện 3 kênh chuỗi giá trị thị trường đang bị thất thoát lợi nhuận ở khâu nguyên liệu thô.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi kết hợp thể chế đồng quản lý, mô hình nông lâm kết hợp, thành lập hợp tác xã chế biến sâu và ứng dụng phần mềm SMART trong kiểm tra bảo tồn.

Đóng góp chính của công trình là cung cấp luận cứ thực chứng kết hợp giữa phân loại thực vật học và kinh tế xã hội học lâm nghiệp, mở ra hướng tiếp cận cân bằng giữa bảo tồn nghiêm ngặt và phát triển kinh tế bền vững cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Quảng Trị. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp tục mở rộng đề tài bằng cách xây dựng bản đồ số hóa trữ lượng sinh khối và hoàn thiện quy trình nhân giống vô tính các loài dược liệu bản địa có nguy cơ tuyệt chủng.