CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ NGUY HẠI VÀ GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỈNH HẢI DƯƠNG 1. CHẤT THẢI VÀ CHẤT THẢI Y TẾ 1. Khái niệm về chất thải và chất thải y tế Chất thải: Là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác [12]. Chất thải y tế: Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường [8].
Chất thải nguy hại: Là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác [12]. Chất thải y tế nguy hại: Là chất thải có chứa một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan của người, động vật, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn; dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong chất thải y tế. Nếu những chất thải này không được tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người [8]. Như vậy không phải toàn bộ chất thải y tế đều là chất thải nguy hại, do đó cần có những giải pháp phù hợp để xử lý chất thải y tế có hiệu quả nhất.
Phân loại chất thải y tế Theo Quyết định số 43/2007/ QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế, căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau: a. Chất thải lây nhiễm: - Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, 4 lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế. - Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly. - Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; nhau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm [8]. Chất thải hóa học nguy hại: - Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng. - Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế. - Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu.
- Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị). Chất thải phóng xạ Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất. Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO 2 , bình ga, bình khí dung. Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt [8].
Chất thải thông thường: Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học 5 nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: - Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly). - Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại [3]. - Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh. Phân loại chất thải y tế nguy hại Dựa vào đặc tính, nhóm dòng thải, CTRYTNH được phân loại: Bảng 1.1: Phân loại chất thải y tế nguy hại Mã Trạng Ngưỡng Tên chất TT CTNH Tính chất nguy hại [2] thái tồn CTNH thải [2] [2] tại [2] [2] 1. Chất thải Rắn/lỏng ** lây nhiễm (bao gồm 13 01 01 cả chất thải sắc nhọn) Lây nhiễm (LN) 2. Hoá chất Rắn/lỏng * thải bao gồm hoặc có các 13 01 02 thành phần nguy hại Độc cho hệ sinh thái Độc (Đ) (ĐS) 6 Mã Trạng Ngưỡng Tên chất TT CTNH Tính chất nguy hại [2] thái tồn CTNH thải [2] [2] tại [2] [2] 3.
Dược Rắn/lỏng ** phẩm gây độc tế bào 13 01 03 (cytotoxic và cytostatic) thải Độc (Đ) 4. Chất hàn Rắn ** răng almagam 13 01 04 thải Độc (Đ) 5. Các bình Rắn ** chứa áp suất chưa 13 03 01 bảo đảm rỗng hoàn toàn Nổ (N) 6. Các thiết Rắn ** bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng có chứa thuỷ 13 03 02 ngân và Độc (Đ) Độc cho hệ sinh thái các kim (ĐS) loại nặng (nhiệt kế, huyết áp kế…) Ghi chú: - *: Có khả năng là CTNH: Cần áp dụng ngưỡng CTNH (hay ngưỡng nguy hại của chất thải) theo quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 07:2009/BTNMT để phân định có phải là CTNH.
Nếu không áp dụng ngưỡng CTNH thì phải phân định luôn là CTNH. 7 - **: Là CTNH trong mọi trường hợp: Không cần áp dụng ngưỡng CTNH mà xác định luôn là CTNH. Qua bảng phân loại chất thải y tế nguy hại cho thấy: 5/6 danh mục chất thải y tế nguy hại luôn là chất thải nguy hại trong mọi trường hợp mà không cần phân tích áp dụng ngưỡng chất thải nguy hại. Thành phần chất thải y tế: CTRYT mang những đặc điểm đặc thù riêng.
Đa số là các chất thải sinh học độc hại. Các loại chất thải này nếu không được phân loại với các loại chất thải sinh hoạt khác sẽ gây ra những nguy hại đáng kể. Do đó cần có những biện pháp thu gom, xử lý riêng cho chúng. Thành phần chủ yếu của CTRYT là các chất hữ cơ có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí thải độc hại.
Chai, túi nhựa các loại Bệnh phẩm 1% 10% Bông băng, bột bó gãy xương 9% ,Thủy tinh, ống tiêm chai lọ thuốc, bơm kim tiêm nhựa 3% Rác hữu cơ 54% Đất đá và các loại vật rắn khác 22% Kim loại, vỏ hộp 1% Hình 1. Thành phần chất thải rắn y tế Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo môi trường Quốc gia 2011 – Chất thải rắn, Hà Nội. Lượng chất thải phát sinh tại các cơ sở y tế Theo kết quả khảo sát của Bộ Y tế, lượng chất thải phát sinh tại các bệnh viện như sau: 8 Bảng 1.2: Lượng chất thải phát sinh tại các bệnh viện Tổng lượng chất thải CTYT nguy hại Tuyến bệnh viện (kg/giường bệnh/ ngày) (kg/giường bệnh/ngày) Bệnh viện TW 0,97 0,16 Bệnh viện tỉnh 0,88 0,14 Bệnh viện huyện 0,73 0,11 Trung bình 0,86 0,14 Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo môi trường Quốc gia 2011 – Chất thải rắn, Hà Nội [1]. Qua bảng trên có thể thấy các bệnh viện tuyến Trung ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện có hệ số phát thải CTRYT dao động khá lớn về tổng lượng thải cũng như tỷ lệ chất thải nguy hại.
Tại các bệnh viện đa khoa thì tổng lượng phát thải tại các khoa có tính đặc thù riêng.3: Khối lượng chất thải rắn phát sinh ở các khoa (kg/ngày/người) Bệnh viện TW Bệnh viện tỉnh Bệnh viện Tuyến bệnh huyện viện Tổng Chất Tổng Chất Tổng Chất lượng thải y tế lượng thải lượng thải y chất nguy chất y tế chất tế nguy Khoa thải hại thải nguy thải hại hại Hồi sức cấp cứu 1,08 1,0 1,27 0,31 1,0 0,18 Điều trị hệ nội 0,64 0,45 0,47 0,03 0,45 0,02 Khoa nhi 0,5 0,45 0,41 0,05 0,45 0,02 Khoa điều trị ngoại 1,01 0,73 0,87 0,21 0,73 0,17 Khoa phụ sản 0,82 0,74 0,95 0,22 0,74 0,17 Khoa Mắt - Tai mũi 0,66 0,34 0,68 0,1 0,34 0,08 họng - Răng hàm mặt Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo môi trường Quốc gia 2011 – Chất thải rắn, Hà Nội [1]. ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ CỘNG ĐỒNG 1. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế nguy hại đến môi trường a. Ảnh hưởng đối với môi trường nước Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do các chất độc hại có trong chất thải bệnh viện.
Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh và kim loại nặng, trong đó phần lớn là thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X quang. Đối với một số dược phẩm nhất định, nếu xả thải môi trường mà không xử lý có thể gây nhiễm độc nguồn nước cấp. Bên cạnh đó, việc xả thải bừa bãi chất thải lâm sàng, ví dụ xả chung chất thải lây nhiễm vào chất thải thông thường, có thể tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do làm tăng BOD, vi khuẩn gây bệnh. Ảnh hưởng đối với môi trường đất Tiêu hủy không an toàn chất thải nguy hại như tro lò đốt của lò đốt chất thải, gây ô nhiễm từ bãi rác có khả năng rò thoát ra, gây ô nhiễm đất và nguồn nước, và cuối cùng là tác động xấu tới sức khỏe cộng đồng.
Ảnh hưởng đối với môi trường không khí Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại được thiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng. Việc thiêu đốt không đủ nhiệt độ, lượng rác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen. Việc đốt chất thải y tế đựng trong túi nilon PVC, cùng với các loại dược phẩm nhất định, có thể tạo ra khí axit, thường là HCl and SO 2. Trong quá trình đốt các dẫn xuất halogen (F, Cl,.) ở nhiệt độ thấp, thường tạo ra axit.
Điều đó dẫn đến nguy cơ tạo thành dioxin, một loại hóa chất vô cùng độc hại, ngay cả ở nồng độ thấp. Các kim loại nặng, như thủy ngân, có thể phát thải theo khí lò đốt. Những nguy cơ môi trường này có thể tác động tới môi trường sinh thái và sức khoẻ con người trong dài hạn.