mở đầu và là cơ sở phát triển lý luận về đánh giá theo LQI. Dựa trên cơ sở này, nhiều ứng dụng nghiên cứu về sau bổ sung và hoàn thiện phục vụ cho đánh giá đất với nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là phục vụ nông nghiệp. * Một số nhận xét chung: Hầu hết các nước trên thế giới đều tiến hành đánh giá đất hoặc đánh giá hệ thống sử dụng đất nhằm phân hạng đất đai. Quá trình điều tra đánh giá tài nguyên đất đai đều dựa trên nền tảng căn bản là sức sản xuất của đất thể hiện bằng các chỉ tiêu tự nhiên: Thành phần cơ giới, độ chua, tính chất hoá học, độ phì nhiêu, độ dày tầng đất, chất lẫn vào (kết von, sỏi sạn,…), về điều kiện tự nhiên khác như địa hình, khí hậu, chế độ nước,…Các đánh giá đều dựa trên mức độ thích hợp hay yếu tố hạn chế của từng loại đất để phân hạng.
Trong đánh giá đất hay đánh giá HTSDĐ có sự khác nhau trong việc đánh giá vai trò của các chỉ tiêu kinh tế như năng suất cây trồng, hiệu quả kinh tế, đầu tư và thu nhập. Tại các nước Xã hội Chủ nghĩa cũ (nền kinh tế bao cấp) thường coi trọng hơn các chỉ tiêu tự nhiên trong công tác đánh giá đất đai của mình. Ngược lại, ở các nước Tư bản Chủ nghĩa (nền kinh tế thị trường), ngoài việc đề cao sức sản xuất của đất còn rất coi trọng các yếu tố như năng suất cây trồng nhiều năm, mức độ đầu tư, tổng thu nhập, lãi thuần và hiệu quả đồng vốn. Trong nền kinh tế thị trường giá trị đất đai được phản ánh rõ nét qua giá trị sử dụng và cuối cùng là hiệu quả kinh tế.
Và sẽ là thiếu sót rất lớn nếu đánh giá đất đai chỉ dựa vào các yếu tố điều kiện tự nhiên mà coi nhẹ các chỉ tiêu kinh tế. Đánh giá, phân hạng đất ở Việt Nam Ở Việt Nam khái niệm đánh giá, phân hạng đất đã có từ lâu qua việc phân chia “Tứ hạng điền, lục hạng thổ”. Công tác đánh giá được nhiều cơ quan khoa học nghiên cứu và thực hiện. Từ những bước sơ khai, ngành khoa học đánh giá đất đai đã dần dần hình thành và hoàn thiện cơ sở lý luận cả về khoa học và thực tiễn.
Giai đoạn trước 1975 là thời kỳ xây dựng cơ sở lý luận cho khoa học thổ nhưỡng Việt Nam. Từ 1975 đến 1980 đã tiến hành một số công trình nghiên cứu phân loại, xây dựng bản đồ đất và bắt đầu nghiên cứu ứng dụng các phương pháp đánh giá đất tổng hợp cho các mục tiêu sử dụng đất. Tuy nhiên chỉ từ sau 1980 đến 8 nay, việc nghiên cứu đánh giá đất mới thực sự sôi động với việc ứng dụng phương pháp của FAO vào đánh giá đất tại Việt Nam. Phân loại khả năng thích hợp đất của FAO đã được áp dụng đầu tiên ở Việt Nam trong nghiên cứu “Đánh giá và quy hoạch sử dụng đất hoang Việt Nam” (Bùi Quang Toản và nnk, 1985) [21].
Đánh giá phân hạng đất khái quát toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và nnk, 1986) được thực hiện ở tỷ lệ 1/500.000 dựa trên phân loại khả năng đất đai của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, chỉ tiêu sử dụng là đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình [39]. Phương pháp đánh giá đất của FAO đã được nhiều nhà khoa học đất Việt Nam vận dụng thử nghiệm và đã có những kết quả đóng góp để hoàn thiện từng bước như các công trình nghiên cứu của Nguyễn Khang và Phạm Ưng (1995) [31]; Trần An Phong (1992) [40]. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu tiêu chí về thổ nhưỡng, khí hậu để phân hạng đất cho từng loại cây trồng khác nhau, các yếu tố về về điều kiện kinh tế - xã hội, thủy văn,. vẫn chưa được đề cập tới.
Năm 1993, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã chỉ đạo thực hiện công tác đánh giá đất đai trên 09 vùng sinh thái của cả nước điển hình là các nghiên cứu: Vùng đồng bằng sông Hồng của Vũ Thị Bình (1995); Vùng đồng bằng sông Cửu Long có Trần An Phong, Nguyễn Văn Nhân, Tôn Thất Chiểu, Nguyễn Công Pho, Phạm Quang Khánh (1992) [40]; Vùng gò đồi Tây Bắc và trung du phía Bắc có Lê Văn Khoa (1993) [29], Lê Thái Bạt (1995) [28]; Vùng Tây Nguyên có Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng [21], Nguyễn Văn Tân, Đỗ Đình Đài, Nguyễn Văn Tuyển (1995) [35]. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các tỷ lệ từ 1/500.000 cho các loại đất khác nhau có thể khai thác vào sản xuất nông nghiệp. Kết quả bước đầu đã xác định được tiềm năng đất đai của các vùng, khẳng định việc vận dụng nội dung và phương pháp của FAO là phù hợp. Năm 1995, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp cũng thông qua phương pháp tổng hợp các yếu tố đất đai và sử dụng bản đồ đất tỷ lệ 1/250.000 của các vùng sinh thái nông nghiệp lên bản đồ tỷ lệ 1/500.000 của toàn quốc, xây dựng và hoàn thành bản đồ đơn vị đất đai các loại hình sử dụng đất chính ở Việt Nam theo FAO để làm cơ sở cho chiến lược khai thác và sử dụng tiềm năng đất [41].
Trong công trình nghiên cứu "Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam", các tác giả đã xác định được trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam có 372 đơn vị đất đai. Toàn quốc có 90 loại hình sử dụng đất và phân chia 41 loại thích hợp đất đai cho 9 vùng sinh thái khác nhau trên phạm vi toàn quốc [30]. 9 Việc đánh giá đất đai ở cấp độ nhỏ hơn (tỉnh, huyện, xã) cũng được quan tâm thực hiện nhằm cụ thể hoá kết quả của công tác đánh giá đất làm cơ sở cho việc xây dựng định hướng sử dụng đất hiện tại cũng như trong tương lai. Có rất nhiều nghiên cứu ở cấp độ này trong đánh giá tài nguyên đất đai như: Vũ Thị Bình (1995) [42], nghiên cứu đánh giá đất đai của huyện Gia Lâm, dựa trên bản đồ tỷ lệ 1/25.000 đã xác định được 20 đơn vị đất đai và 10 loại hình sử dụng đất; Nguyễn Đình Bồng (1995) đã vận dụng phương pháp đánh giá thích hợp đất của FAO để đánh giá tiềm năng sản xuất nông, lâm nghiệp cho đất đồi núi trọc ở tỉnh Tuyên Quang [32]; Đỗ Nguyên Hải (2000) đã đánh giá khả năng sử dụng đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn (cũ), tỉnh Bắc Ninh [24].
Ngoài ra, hệ thống sử dụng đất cũng được xem xét như một hệ thống nhưng ở nước ta chưa có nhiều nghiên cứu về nó. Các bộ phận cấu thành như đơn vị đất đai, loại hình sử dụng đất được nghiên cứu nhiều hơn nhưng dưới góc độ ứng dụng thực tiễn, mà ít phân tích nó dưới góc nhìn từ lý thuyết hệ thống. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã kết hợp phương pháp đánh giá đất/HTSDĐ của FAO với công nghệ thông tin địa lý (GIS) vào trong đánh giá như: Nguyễn Văn Nhân (1996) đã ứng dụng kỹ thuật GIS và việc đánh giá đất thích hợp của FAO trên phạm vi toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long với tỷ lệ 1/250. Kết quả nghiên cứu đã thành lập được bản đồ theo quan điểm của FAO và các loại bản đồ chuyên đề khác như bản đồ thảm thực vật, bản đồ tổn thương,.
kết hợp với GIS ở tỷ lệ 1/25.000 để làm cơ sở định hướng sử dụng đất hiệu quả trong tương lai các huyện của tỉnh Thừa Thiên Huế.2 Các nghiên cứu về chất lượng đất đai và bộ chỉ thị chất lượng đất đai Chất lượng đất đai hay điều kiện đất đai bao gồm đất, nước, đặc tính sinh vật liên quan đến nhu cầu của con người. Nó liên quan đến điều kiện và khả năng đất đai cho mục tiêu sản xuất, quản lý môi trường và tác động của nó. Chất lượng đất đai là cần thiết để được đánh giá cho một kiểu sử dụng đất riêng biệt [38]. Ngoài ra, Lê Quang Trí (2010) cho rằng: chất lượng đất đai là một đặc trưng của đất đai mà những tác động trong từng tính chất của nó sẽ ảnh hưởng đến tính thích nghi của đất đai cho một kiểu sử dụng riêng biệt [27].
Thí dụ chất lượng đất đai như: chế độ nhiệt, khả năng hữu dụng độ ẩm, khả năng thoát, khả năng cung cấp chất dinh dưỡng, điều kiện cho rễ, tiềm năng cho cơ giới hóa và nguy hại do xói mòn. Theo 10 FAO (2007) có 26 chất lượng đất đai (Phụ lục 1) được mô tả trong những đặc tính đất đai như bảng 1. Những đặc tính đất đai có liên quan và mô tả cho chất lượng đất đai ĐẶC TÍNH ĐẤT ĐAI CHẤT LƯỢNG ĐẤT ĐAI CÓ LIÊN QUAN 1. Đặc điểm khí hậu - Bức xạ mặt trời 1 - Số giờ nắng 1, 21 - Nhiệt độ không khí 2, 9, 11, 17, 21 - Sương muối 14, 21 - Mưa: lượng, thời gian, cường độ 3, 9, 11, 14, 16, 20, 25 - Bão 13 - Bốc hơi: thực tế, tiềm năng 3 - Độ ẩm không khí 3 - Mùa ẩm, mùa khô 3, 21 - Hạn 3 - Tốc độ gió 13, 25 2.
Đặc điểm khí hậu đất - Nhiệt độ đất 2, 9, 21 - Chế độ nhiệt trong đất 2, chọn lọc trước - Chế độ ẩm trong đất 3, chọn lọc trước 3. Đặc tính dạng hình - Độ dốc 18, 19, 22, 24, 25 - Dạng hình dốc 4, 25 - Chiều dài dốc 18, 25 - Mật độ dòng chảy 22, 24 - Dạng hình tương đối 22, 24 - Vi địa hình 18, 19 - Cao độ 2 - Dạng sinh cảnh 13 4. Đặc tính nước - Độ sâu mực thủy cấp 3, 4 - Thời gian ngập 4 - Thời gian ngập lũ 4 - Chu kỳ ngập 12 5. Đặc tính thực vật và động vật - Thực vật bao phủ 16, 19, 25 - Hiện diện của dịch bệnh 19 - Thiên địch tự nhiên 19 6.
Đặc tính đất - Thoát nước 4 - Tầng chẩn đoán 4, 6, 7, 8, 14, 15, 25, 26 - Sự phân bố đất 23 - Hiện diện than bùn 23 7. Phẫu diện đất - Màu sắc đất 4 - Hiện diện các đốm rỉ 8, 17, 20, 23 - Hiện diện đá hay mảnh đá 3, 4, 7, 8, 9, 16, 17, 18 - Sa cấu 5, 20, 22, 25, 26 - Cấu trúc 5, 8, 9, 17, 25, 26 - Độ dẻo dính 5, 8, 9, 17, 25, 26 11 - Độ sâu tầng đất 3, 8 - Hiện diện Carbon, thạch cao tự do 15 - Tầng phèn 15 - Lớp cement hóa hay đế cày 5, 8, 2 8.