Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định đất đai và tài nguyên thiên nhiên là sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Hiện nay công tác quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp và tài nguyên rừng nói chung được điều chỉnh bởi Luật Đất đai và Luật Lâm nghiệp hiện đang có hiệu lực, quy định việc giao rừng phải thống nhất, đồng bộ gắn với giao đất lâm nghiệp. Chính sách giao đất, giao rừng là chính sách trọng tâm của Đảng và Nhà nước đã được triển khai thực hiện trong một thời gian tương đối dài với kỳ vọng góp phần nâng cao chất lượng rừng, tăng độ che phủ rừng, tăng hiệu quả sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần ổn định tình hình kinh tế, xã hội ở khu vực miền núi. Có thể nói chính sách giao đất lâm nghiệp gắn với giao rừng trồng đang là đòn bẩy để phát triển kinh tế lâm nghiệp theo hướng bền vững, thúc đẩy nhiều thành phần xã hội tham gia bảo vệ và phát triển rừng.
Đặc thù của sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện là sản xuất trên địa hình đất dốc, cơ sở hạ tầng, đường giao thông hạn chế, thời gian thu hồi vốn lâu, chu kỳ kinh doanh dài. Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã thực hiện rất tốt chương trình quốc gia về bảo vệ rừng và phủ xanh đất trống đồi núi trọc theo Quyết định số 327/CT ngày 15/9/1992 của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng thì việc giao đất lâm nghiệp càng ý nghĩa hơn, bởi vậy cần nghiên cứu khắc phục để công tác thực hiện giao và quản lý đạt hiệu quả cao nhất.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài Có nhiều văn bản Luật, Nghị định, Thông tư, hướng dẫn. về công tác giao đất lâm nghiệp, giao rừng, cấp GCNQSD đất và tài sản trên đất cho người dân được ban hành nhằm hệ thống hóa quy trình thực hiện đảm bảo Luan van 4 chính xác, thống nhất, kịp thời và đã đạt được những kết quả khả quan. Tuy nhiên khâu tổ chức chỉ đạo thực hiện trong nhiều giai đoạn vẫn còn nhiều lúng túng.
Huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang nằm ở khu vực trung tâm hạ lưu sông Gâm, độ cao trung bình 480m, so với mặt nước biển. Phần lớn diện tích là đồi núi, địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông suối tạo thành các kiểu địa hình khác nhau: địa hình núi cao hiểm trở; địa hình núi thấp và đồi thoải lượn sóng xen kẽ với các thung lũng và các cánh đồng phù sa nhỏ hẹp. Kinh tế phát triển chủ yếu tập trung ở các nghành sản xuất nông, lâm nghiệp theo mô hình hộ gia đình là chủ yếu. Trong khoảng thời gian qua, chính quyền các cấp đã rất quan tâm tới công tác phát triển kinh tế vùng đồi núi, thực hiện công tác quản lý đất đai, quản lý tài nguyên rừng, cho tới thời điểm hiện tại việc cấp GCNQSD đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện đã cơ bản xong, công tác giao rừng trồng gắn với giao đất lâm nghiệp đang được tiến hành tại một số xã trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên chưa có đánh giá nào mang tính hệ thống về công tác giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện để nhìn ra những điểm cần nghiên cứu đưa ra giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp.3 Cơ sở pháp lý của đề tài - Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004; - Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013; - Luật Lâm nghiệp năm 2017; - Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; - Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư; Luan van 5 - Quyết định số 1572/QĐ-BNN ngày 05/6/2007 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc đính chính Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ trưởng bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; - Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 29/1/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và môi trường hướng dẫn về một số nội dung về giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuế đất lâm nghiệp; - Văn bản hợp nhất số 21/VBHN-BNNPTNT ngày 6/5/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư; - Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai; - Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp - Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; - Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính; - Thông tư 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bản đồ địa chính; - Thông tư số 20/2016/TT-BNTPTNT ngày 27/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sửa đổi bổ sung một số điều của các thông tư: 38/2007/TT-BNNPTNT, 78/2011/TT-BNNPTNT , 25/2011/TT- BNNPTNT , 47/2012/TT-BNNPTNT , 80/2011/TT-BNNPTNT , 99/2006/TT- BNN; Luan van 6 - Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BNNPTNT ngày 09/1/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn trình tự thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư; 1.2 Khái quát về công tác giao đất lâm nghiệp 1.1 Khái niệm về giao đất Theo quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật đều có khái niệm: Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng sử dụng đất có nhu cầu sử dụng đất. Khái niệm về đất lâm nghiệp Theo Bộ Tài nguyên và môi trường quy định đất lâm nghiệp là loại đất nằm trong nhóm đất nông nghiệp gồm: Đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng; trong đó gồm đất có rừng tự nhiên, đất có rừng trồng và đất đang được sử dụng để bảo vệ, phát triển rừng.3 Thẩm quyền giao đất Theo điều 59, Luật Đất đai 2013, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất do Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nơi có đất quyết định việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Thẩm quyền giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, cơ tôn giáo …. là Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định.4 Thời hạn sử dụng đất Theo điều 126, Luật Đất đai 2013, Thời hạn giao quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân là 50 năm tính từ thời điểm được giao đất.
Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản này.5 Hạn mức giao đất lâm nghiệp - Theo Điều 129, Luật Đất đai 2013, hạn mức giao đất rừng phòng hộ, rừng sản xuất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá ba mươi héc ta với mỗi loại đất. - Trên cơ sở quỹ rừng và đất lâm nghiệp của địa phương, UBND tỉnh Tuyên Quang đã quy định hạn mức giao đất lâm nghiệp đối với các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tại Quyết định số 65/QĐ-UBND ngày 17/3/2010 về việc phê duyệt đề án giao rừng trồng gắn với giao đất lâm nghiệp thuộc Chương trình 327 và dự án 661 đã quy hoạch lại là rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang năm 2010, theo đó UBND cấp huyện thực hiện việc quyết định giao rừng và giao đất lâm nghiệp, tối đa không quá 5ha/hộ, tối thiểu không hạn chế mà theo diện tích của từng lô, đảm bảo nguyên tắc giao trọn lô rừng theo hồ sơ thiết kế trồng, chăm sóc rừng được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Khái quát chính sách liên quan đến quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp của một số nước và của Việt Nam Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế - chính trị - xã hội, điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán canh tác của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia mà mỗi nước hình thành nên mỗi hệ thống quản lý, sử dụng đất đai khác nhau. Để đảm bảo sử dụng hiệu quả tài nguyên đất, rừng theo hướng bền vững, ở mỗi nước lựa chọn cho mình một chiến lược và chính sách quản lý thích hợp với điều kiện cụ thể.
Nhìn tổng quát, có xu hướng chung là gắn liền đất đai và tài nguyên rừng với cư dân địa phương, phát triển một nền lâm nghiệp vì con người, có thể thấy giao đất giao rừng cho các chủ thể địa phương là một trong những xu hướng chung của các nước trên thế giới, trong đó có nước ta. Tuy nhiên ở mỗi nước, vấn đề này được triển khai thực hiện ở một mức độ khác nhau và đem lại những kết quả khác nhau. Chính sách về đất lâm nghiệp của một số nước trên thế giới - Ở Thái Lan, bắt đầu từ năm 1979 đã thông qua chương trình làng lâm nghiệp, hộ nông dân được giao đất nông nghiệp, để trồng rừng (Nguyễn Trường Giang, 2013). Người nông dân có trách nhiệm quản lý đất và được hưởng quyền sử dụng, thừa kế, nhưng không được chuyển nhượng diện tích đất đó.
Người nông dân nhận đất được Chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đất rừng của Nhà nước ở những nơi phù hợp trồng cây nông nghiệp lưu niên, chính phủ Thái Lan hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng như đường, trạm y tế. Bước sang thời kỳ những năm 90, Chính phủ Thái Lan tiếp tục chính sách ruộng đất theo dự án mới. Trên cơ sở đánh giá, xem xét khả năng của nông dân nghèo, giải quyết khâu cung cầu về ruộng đất theo hướng sản xuất hàng hoá và giải quyết việc làm. Theo dự án này Chính phủ giúp đỡ tiền mua đất, mặt khác khuyến khích đầu tư trong sản xuất nông nghiệp, giải quyết việc làm cho nông dân nghèo.