ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những thập kỷ qua Tài nguyên rừng của nước ta nhìn chung có xu hướng giảm sút cả về số lượng và chất lượng. Năm 1943, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng, đạt độ che phủ 43%. Đến năm 1995, diện tích rừng chỉ còn 9,3 triệu ha rừng với độ che phủ là 28,2%. Năm 2003, diện tích đã tăng lên 12.1 triệu ha với độ che phủ là 36,1%.
Tuy độ che phủ của rừng đã tăng lên nhưng chất lượng rừng vẫn bị suy giảm. Trữ lượng bình quân của rừng tự nhiên chỉ đạt 76,3 m3/ha, rừng trồng cũng chỉ đạt được 20,8 m3/ha. Tính trung bình hàng năm diện tích rừng nước ta bị mất đi khoảng 100 ha, trữ lượng rừng chỉ còn khoảng 750 triệu m3 và khoảng 8,4 tỷ cây tre nứa, với khoảng 7.000 loài thực vật và hơn 1.000 loài động vật nhưng đến nay một số loài đã bị tuyệt chủng, số lượng của từng loài hiện còn không lớn, không đủ điều kiện để khai thác trên quy mô lớn. Các loài gỗ quý hiếm ngày càng mất đi, sản lượng và chất lượng gỗ rừng trồng chưa thay thế được gỗ rừng tự nhiên, trong khi đó nhu cầu về lâm sản ngày càng tăng.
Ngoài ra nạn mất rừng đã dẫn đến sự suy thoái về tính đa dạng sinh học của rừng và tiềm năng sinh học của đất đai, khả năng phòng hộ của rừng bị suy giảm dẫn đến việc phục hồi rừng gặp rất nhiều khó khăn và đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với sự hỗ trợ đắc lực của cộng đồng Quốc tế, nhiều chương trình, dự án lâm nghiệp lớn được triển khai, như Chương trình 327, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, nhằm nâng độ che phủ rừng toàn quốc lên 43%. Cùng với Chương trình phát triển và quản lý bền vững với việc xây dựng ổn định 5,7 triệu ha rừng phòng hộ và 2,0 triệu ha rừng đặc dụng, có sự tham gia của nhiều chương trình dự án trong nước và quốc tế khác, trong đó có dự án “Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn các tỉnh miền Trung vay vốn JBIC”. Dự án được ký kết giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với 2 Tổ chức Phát triển Kinh tế Hải ngoại Nhật Bản (OECF).
Đây là dự án được đầu tư bằng nguồn vốn vay ưu đãi của Nhật Bản với mục tiêu nâng cao độ che phủ của rừng tại các tỉnh vùng dự án lên trên 60%, chống xói mòn, điều hòa nguồn nước, cải tạo môi trường, góp phần hạn chế thiên tai (lũ lụt, hạn hán), đảm bảo sản xuất và đời sống cho nhân dân trên địa bàn lưu vực và vùng hạ lưu, đồng thời tạo việc làm, cải thiện cuộc sống cho nhân dân trong khu vực. Dự án “Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn sông Thạch Hãn” tỉnh Quảng Trị là một trong những Tiểu dự án thuộc dự án “Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn các tỉnh miền Trung vay vốn JBIC” được Thủ tướng Chính phủ và Bộ Nông nghiệp & PTNT ưu tiên đầu tư. Dự án đã triển khai thực hiện từ năm 2002 và sẽ kết thúc vào cuối năm 2008. Qua 5 năm thực hiện (2002 – 2006) dự án đã đạt được nhiều kết quả tốt cả về khối lượng và chất lượng, được các cấp chính quyền, các ngành và Nhà tài trợ đánh giá cao.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là không phải sau khi kết thúc dự án là hoàn thành trách nhiệm, mà còn phải làm sao để thành quả của dự án phải luôn luôn được bảo vệ và phát triển một cách bền vững nhằm đáp ứng đúng được với mục tiêu của dự án đã đặt ra, đồng thời rút ra được những bài học bổ ích từ quá trình thiết kế xây dựng, tổ chức quản lý thực hiện đến hoàn thành dự án nhằm giúp cho việc đầu tư phát triển lâm nghiệp nói chung và dự án nói riêng ngày một hoàn thiện và hiệu quả. để làm được điều đó, việc nghiên cứu đánh giá dự án tuy vẫn đang triển khai là một yêu cầu cần thiết và quan trọng. Vì vậy tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện dự án trồng rừng phòng hộ đầu nguồn sông Thạch Hãn - tỉnh Quảng Trị”. 3 CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm về dự án 1.1 Trên thế giới “Dự án” là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trên thế giới, với rất nhiều quan điểm khác nhau.
Ví dụ, Cleland và King (1975) cho rằng “dự án” là sự kết hợp giữa các yếu tố về nhân lực, trí lực trong một thời gian nhất định để đạt được một mục tiêu cụ thể. Cirdap thì lại cho rằng “dự án” là một hoạt động để giải quyết một vấn đề hay hoàn thiện một trạng thái đặc biệt nào đó. Còn theo Gittinger (1982) thì “dự án” được định nghĩa theo ba quan điểm sau: - Dự án là sự kết hợp có hệ thống các nguồn dự trữ cho đầu tư, các nguồn dự trữ đó được lập kế hoạch, phân tích đánh giá thực thi và tiến hành như một đơn vị độc lập. - Dự án được coi như một đơn vị tác nghiệp nhỏ nhất trong một kế hoạch, hay một chương trình được chuẩn bị và thực hiện như một đơn vị tách biệt.
- Dự án là một hoạt động trong đó các nguồn dự trữ được sử dụng tốt nhất với khả năng thu hồi và có lãi khi dự án kết thúc. Ngoài ra Ngân hàng thế giới (WB) cũng đưa ra quan điểm cho rằng “dự án” là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định. Liên quan đến khái niệm này là quan điểm của Lyn Squire theo đó “dự án” là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn vốn có nhằm đem lại lợi ích cho xã hội càng nhiều càng tốt.2 Ở Việt Nam Trong tác phẩm “Phát triển cộng đồng” tác giả Nguyễn Thị Oanh (1995) đưa ra hai định nghĩa về Dự án. Thứ nhất, dự án là sự can thiệp một cách có khoa học nhằm đạt được một hay một số mục tiêu cùng hoàn thành những chỉ báo thực hiện đã định trước tại một địa bàn và trong một khoảng 4 thời gian nhất định, có huy động sự tham gia thực sự của tác nhân và tổ chức cụ thể.
Thứ hai, dự án là một tổng thể có khoa học những hoạt động (công việc) nhằm đạt một số mục tiêu cụ thể trong một khoảng thời gian và trong một khuôn khổ chi phí nhất định. Trong khi đó, Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang (2000) lại quan niệm niệm rằng, dự án được hiểu như một kế hoạch can thiệp để giúp cộng đồng dân cư hoặc cá nhân cải thiện điều kiện sống trên một địa bàn nhất định. Tại Hội thảo PIMES về chương trình phòng ngừa thảm hoạ đã đưa ra hai khái niệm về Dự án như sau: - Dự án là một quá trình gồm các hoạt động đã được lập kế hoạch nhằm đạt được những thay đổi mong muốn hoặc đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó. - Dự án là một quá trình phát triển có kế hoạch, được thiết kế nhằm đạt được mục tiêu cụ thể với khoản kinh phí xác định trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo bài giảng về “Quản lý LNXH” của Trung tâm LNXH để nhìn nhận Dự án một cách đầy đủ nhất phải đứng trên nhiều khía cạnh khác nhau: về hình thức, về quản lý, về kế hoạch, về nội dung: - Về mặt hình thức: Dự án là một tập tài liệu trình bày chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí dưới dạng một bản kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được với những mục tiêu nhất định trong tương lai. - Về mặt quản lý: Dự án là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư lao động để tạo ra các kết quả kinh tế, tài chính, xã hội, môi trường trong tương lai. - Về mặt kế hoạch hóa: Dự án là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết để đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động riêng lẻ nhỏ nhất trong công tác kế hoạch nền kinh tế nói chung.
5 - Về mặt nội dung: Dự án được coi như một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau, được kế hoạch hóa nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định thông qua việc sử dụng hợp lý các nguồn lực xác định.2 Phân loại Dự án 1.1 Căn cứ vào nội dung: - Dự án theo lãnh thổ: là những Dự án mà tất cả những nội dung của Dự án đều được thực hiện trên một phạm vi nhất định. - Dự án theo hạng mục là những Dự án chỉ giải quyết một hoặc một vài hạng mục nào đó trong một chương trình lớn hoặc một Dự án lớn. - Dự án theo chức năng là những Dự án nhằm giải quyết một chức năng nào đó.2 Căn cứ vào trình tự thực hiện: - Dự án thí nghiệm là những dự án nhằm giải quyết những vấn đề nào đó theo con đường hoặc giải pháp mới trong một giai đoạn thí nghiệm nghiên cứu. - Dự án kiểm định là những Dự án nhằm thực hiện và kiểm tra các kết quả nghiên cứu trong những điều kiện đã định hay điều kiện tiêu chuẩn.
- Dự án trình diễn là những Dự án nhằm mục đích phổ biến và chuyển giao các kết quả nghiên cứu đã được thẩm định. - Dự án sản xuất là những Dự án nhằm đưa kết quả, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất.3 Căn cứ vào địa chỉ khách hàng: Dự án xuất khẩu, dự án tiêu thụ nội bộ (địa phương).4 Căn cứ vào ngƣời khởi xƣớng: Dự án cá nhân, dự án tập thể, dự án quốc gia, dự án quốc tế.5 Căn cứ vào qui mô thực hiện: Dự án nhỏ, dự án vừa, dự án lớn.6 Căn cứ vào qui mô và tính chất của dự án: Dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C.