phần mở đầu, kết luận và tài liệu, nội dung của luận văn được bố cục thành 3 chương. Chƣơng 1: Tổng quan về cơ sở lý luận, thực tiễn về đô thị hóa Chƣơng 2: Thực trạng đô thị hóa ở Thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam Chƣơng 3: Giải pháp phát triển đô thị hóa thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam đến năm 2020 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ PHƢƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CƢ́U VỀ ĐÔ THỊ HÓA 1. Nguồn gốc và sự hình thành đô thị Đô thị đầu tiên xuất hiện khi xã hội có sự phân công lao động sản xuất, tại những nơi dân cư tập trung đông giai cấp thống trị thường chọn những nơi này làm địa bàn chiếm đóng thành lập chính quyền và xây dựng tường thành bảo vệ. Vì vậy hai yếu tố: đô (thành, quách) và thị (chợ, phố phường) thường đi kèm với nhau 1.
Định nghĩa về đô thi ̣ Theo Harold Chestrust, Đại học kĩ thuật Preden(Hoa Kỳ), “đô thị là các điểm dân cư, ở đó biểu hiện một quá trình kinh tế - xã hội - kỹ thuật gắn bó mật thiết với nhau. Các hoạt động của đô thị được phản ánh thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh, sinh sống, đi lại….của dân cư, chúng tồn tại và phát triển theo quy luật của xã hội” [34] Theo từ điển bách khoa Liên Xô: Đô thị là khu dân cư rộng lớn, dân cư ở đây chủ yếu hoạt động trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp cũng như trong các ngành quản lý, phục vụ, khoa học và văn hóa hoặc đô thị là nơi tập trung dân cư gắn với phương thức hoạt động chủ yếu lao động phi nông nghiệp và lối sống thành thị. Trên quan điểm xã hội học, đô thị là một hình thức tồn tại của xã hội trong phạm vi một không gian cụ thể và là một hình thức cư trú của con người “sự tồn tại của đô thị tự bản thân nó khác hẳn vấn đề đơn giản là xây dựng nhà cửa độc lập với nhau” [21]. Đó là một cơ thể sống riêng biệt theo kiểu của nó 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dưới góc độ quản lý kinh tế xã hội, đô thị là một khu dân cư tập trung có đủ hai điều kiện: Mô ̣t về cấp quản lý, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, hai về trình độ phát triển, đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy kinh tế - xã hội của cả nước thuộc vùng lãnh thổ, đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị; quy mô dân số ít nhất là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km2.
Trong luật quy hoạch đô thị của Quốc hội khóa XII nước Cô ̣ng hòa xã hôi chủ nghiã Viê ̣t Nam , đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên nghành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, hoặc vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố , nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn. Như vậy, có thể thấy rằng đô thị là một hiện tượng địa lý kinh tế xã hội, một tác phẩm hoàn chỉnh của nhân loại, là hình thức quầ n cư đặc biệt của xã hội loài người. Đó là một tổ chức không gian cư trú, sinh sống với mật độ cao, dân cư hoạt động chủ yếu ở lĩnh vực phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp có vai trò hạt nhân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hay một vùng lãnh thổ. Và “đô thị theo đúng nghiã của nó, khác hẳn với một tập hợp đơn giản của những ngôi nhà riêng lẻ” (Kari Marx), đô thị cũng có cuộc sống nội tại riêng của nó cũng vận động và phát triển theo các quy luật của xã hội [34] 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Lãnh thổ đô thị Đô thị bao gồm thành phố, thị xã và thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập. Thành phố được chia thành khu vực nội thành và ngoại thành. Đối với thành phố trực thuộc Trung Ương, khu vực nội thành được chia thành quận, quận được chia thành phường; khu vực ngoại thành được chia thành huyện và huyện được chia thành xã, thị trấn. Đặc điểm chính của đô thị - Đô thị như là một cơ thể sống: Đô thị là một cơ thể sống, một hệ sinh thái vừa mang tính sinh học, vừa mang tính cơ học, trên cơ sở đan xen tổng hòa và sự tác động tương hỗ của các hệ thống nội lực, ngoại lực theo nhiều chiều; bất kì một thay đổi nào trong hệ thống sẽ dẫn tới sự thay đổi hay mất cân bằng của đô thị.
- Đô thị luôn vận động và phát triển: Đô thị là một hệ sinh thái động, thường xuyên chuyển hóa và vận động phức tạp. Garnier Charbot đã nhận xét rằng, đô thị ra đời, lớn lên và phát triển, trở thành khổng lồ, thường thay đổi diện mạo và đôi khi có thể bị mất đi [17]. - Sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được: Đô thị được coi là một hệ điều khiển bán hoàn chỉnh. Con người luôn là chủ thể, quyết định các mục tiêu cơ bản để phát triển đô thị.
Con người có thể điều khiển được sự hình thành, hoạt động và phát triển của đô thị theo đúng các quy luật khách quan của nó, nhưng không thể bắt đô thị vận động theo ý chủ quan của con người. Phân loại đô thị Trên thế giới có nhiều cách phân loại đô thị khác nhau. Trên quy mô dân số có đô thị nhỏ, đô thị trung bình, đô thị lớn, siêu đô thị. Theo tác giả Đỗ Thị Minh Đức trong luâ ̣n án phó tiế n si ̃ đã phân loa ̣i đô thi ̣theochức năng có đô thị công nghiệp, đô thị hành chính, đô thị cảng [13].Theo tác giả Vũ Thị Chuyên 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong luâ ̣n án tiế n si ̃ điạ lý thì về phân l oại đô thị theo hình thể có đô thị hình sao, đô thị theo tuyến, theo chùm [10].
Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có những quy định riêng về tiêu chuẩn quy định cho mỗi tiêu chí trong một cách phân loại đô thị. Ở Việt Nam về quy mô dân số thì đô thị được phân thành 4 loại: đô thị rất lớn (trên 1 triệu dân), đô thị lớn (35 vạn- 1 triệu dân), đô thị trung bình (3 vạn - 10 vạn dân), đô thị nhỏ (dưới 3 vạn dân). Nghị định số 42/2009/NĐ- CP ngày 07.2009 của chính phủ, hệ thống đô thị nước ta phân thnàh 6 loại: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV, loại V [Phụ lục 1] Thành phố trực thuộc TW phải thỏa mãn tiêu chuẩn của đô thị loại đặc biệt hoặc loại I, tương đương với cấp tỉnh. Thành phố thuộc tỉnh phải đạt tiêu chuẩn đô thị loại II hoặc loại III.
Thị xã thuộc tỉnh hoặc thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung Ương phải đạt tiêu chuẩn đô thị loại III hoặc loại IV do tỉnh quản lý. Thị trấn thuộc huyện phải đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV hoặc loại V chủ yếu do huyện quản lý [Phụ lục 1]. Định nghĩa Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị, trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Định nghĩa về đô thị hóa rất đa dạng.
Xuất phát từ khái niệm đô thị, đô thị hóa được định nghĩa là quá trình hình thành và phát triển các yếu tố cấu thành đô thị, là quá trình phát triển đô thị của một quốc gia, bao gồm việc mở rộng các đô thị hiện có và hình thành các đô thị mới. Trong thực tế, phát triển đô thị chỉ xét cho một đô thị riêng biệt, còn đô thị hóa thì xét cho cả mạng lưới đô thị [1]. Trên góc độ kinh tế, đô thị hóa là quá trình chuyển lao động từ hoạt động sơ khai nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có như nông, lâm, ngư nghiệp, khai khoáng, phân tán trên một diện tích rộng, sang những hoạt 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động tập trung hơn như nông nghiệp chế biến, sản xuất, xây dựng cơ bản, vận tải, dịch vụ, thương mại, tài chính… Dưới góc độ động lực phát triển: “công nghiệp hóa làm cho đô thị hình thành và phát triển ngày càng nhiều, càng rộng; số người chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp ngày càng đông và đến một lúc nào đó, sản xuất nông nghiệp cũng sẽ được công nghiệp hóa. Dưới góc độ địa lý học, đô thị hóa được định nghĩa theo cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng đô thị hóa được hiểu là quá trình lịch sử nâng cao vai trò của các thành phố trong sự vận động phát triển của xã hội. Quá trình này bao gồm những thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong phân bố dân cư, trong cơ cấu nghề nghiệp xã hội và cơ cấu lao động, trong cấu trúc tổ chức không gian môi trường sống của cộng đồng. Theo nghĩa hẹp, đô thị hóa được hiểu là sự phát triển hệ thống thành phố, đặc biệt là các thành phố lớn, trung tâm sức hút của vùng lãnh thổ, tăng tỉ trọng của dân số đô thị trong nước, trong vùng và trên thế giới trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại. Đô thị hóa là quá trình kinh tế xã hội ngày càng gia tăng mà biểu hiện của nó là sự tăng số lượng và quy mô các diểm dân cư đô thị, sự tập trung hóa dân cư trong các thành phố và đặc biệt là trong các thành phố lớn, sự phổ biến lối sống thành phố trong toàn bộ mạng lưới điểm dân cư [15].