Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá trên thế giới Lịch sử nghiên cứu cá có từ thời Aristode những năm -384 – 322 (Tr CN). Từ đó đến nay có rất nhiều nhà khoa học nổi tiếng cùng với nhiều công trình khoa học vô cùng quý giá của họ như: Aristode; C. Nhìn chung lược sử nghiên cứu cá trên thế giới có thể chia làm 3 thời kỳ như sau: * Thời kỳ thứ nhất (từ Aristode -384 – 322 TrCN đến thế kỷ XVI): Aristode – “Historia animalum” đã giới thiệu 115 loài cá với những dẫn liệu phân bố, sinh sản, di cư…Thế kỷ XVI sau thời kỳ phục hưng của Châu Âu, ngư loại học cùng với các môn khoa học tự nhiên khác mới phát triển một cách mạnh mẽ.
Thời kỳ này có các nhà Ngư loại học người Pháp nổi tiếng như: P. Belon (1518 - 1564) đã giới thiệu 110 loài cá; G. Rondelt (1506 - 1557) giới thiệu 197 loài ở địa Trung Hải; C. Gasneri (1516 - 1565) đã gợi ý cách đặt tên hai chữ cho loài cá mà sau này C.
Linneaus đã sử dụng. * Thời kỳ thư hai (từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX): nghiên cứu về cá bắt đầu tích lũy những dẫn liệu khác nhau, nhất là về phân loại, địa lý phân bố và khu hệ cá các vùng nước khác nhau. Thời kỳ này có nhiều nhà ngư loại học nổi tiếng với công trình nghiên cứu như: P. Artedi (1705 - 1734) người Thủy Điển với 5 cuốn sách nổi tiếng: Bibliotheca Ichthylogica, Philosophia ichthylogica, Genera piscium, Species piscium, Synonymia piscium; C.
Linneaus (1707 - 1778) người Thủy Điển với cuốn sách Systema nature (1735) đã đề ra cách gọi tên cá hai chữ và giới thiệu 2600 loài cá; G. Valenciennes – Historie Naturelle des Poissons gồm 21 tập xuất bản trong 20 năm (1828 - 1848); P. Bleeker (1819 - 1878) người Hà Lan – Atlas Ichthyologiques Indes Orientales of the Neserlandaises gồm 9 tập; A. Tóm lại có rất nhiều tập sách về phân loại, sinh lý và sinh thái cá của các nhà khoa học đến nay vẫn còn rất giá trị.
* Thời kỳ thứ ba (từ đầu thế kỷ XX đến nay): những nghiên cứu về cá tăng lên rất nhanh và toàn diện, trong đó có phân loại cá, sinh lý, sinh thái cá đóng vai trò là bước tiên phong để phát triển bền vững nghề cá. Thời kỳ này có các nhà khoa học nổi tiếng như: D. Jordan (1854 - 1931) đã giới thiệu các loài cá ở Nam Mỹ và Trung Mỹ; G. Boulenger (1851) với 15 tập giới thiệu các loài cá ở bảo tàng Anh; L.
Berg (1876 - 1950) người Liên Xô, đã giới thiệu hệ thống ngư loại; M.de Beaufort người Hà Lan đã công bố 10 tập sách về các loài cá ở Châu Úc (1911 - 1953); K. Matsubara người Nhật Bản đã viết cuốn sách “Hình thái và bảng tra cá”; F. Day đã viết về các loài cá Ấn ðộ… và rất nhièu nhà ngư loại khác của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã góp phần thúc đẩy ngành Ngư loại học phát triển. Phần nửa sau những năm thế kỷ XX cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền khoa học công nghệ, ngư loại học cũng được chú ý phát triển hơn.
Theo thống kê của Nelson, 1984 hiện trên thế giới có khoảng 30.000 loài cá sống ở các thủy vực; R. Frose và D Pauly, 1995 – Fishbase a Biological Database on Fish trên đĩa CD đã tổng hợp giới thiệu trên trái đất hiện có khoảng 50.000 loài cá sinh sống trong các thủy vực. Ngày nay, Ngư loại học đã đi sâu nghiên cứu chi tiết hơn và phân chia các vùng nghiên cứu, các khu hệ và phân bố địa lý. Các nước các châu lục đều có các nhà Ngư loại nghiên cứu.
Điển hình: Pravdin, P. Bănărescu, Chu Xinluo, Chen Yinrui, R. Tyson, Kottelat, Walter Rainboth, Mai Đình Yên… Đặc biệt trong những năm gần đây do sự giảm sút về chất lượng môi trường, khai thác không hợp lý…làm cho một số động vật quý hiếm trong đó một số loài cá bị diệt vong và đang có nguy cơ bị diệt vong. Vì vậy, ngành Ngư học lại càng có trách nhiệm nặng nề hơn trong công tác bảo vệ tính đa dạng sinh học.
Tóm lại, ngành ngư học thế giới đang phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, đã nghiên cứu sâu về khu hệ, tính đa dạng sinh học, nghiên cứu 10 sinh học cá thể và quần thể…đang đảm đương trọng trách của mình trong điều kiện hiện nay. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá ở Việt Nam Lược sử nghiên cứu cá ở Việt Nam có thể chia làm 3 thời kỳ như sau: * Thời kỳ Pháp thuộc (trước năm 1954): thời kỳ này chủ yếu là các nhà ngư loại người Pháp, có thêm các nhà ngư loại người Anh, Mỹ và Trung Quốc… Việc nghiên cứu về ngư loại cá được thực hiện rất sớm, từ năm 1881 đã có Sauvage, sau đó là Tirant (1883), Vallant (1891), Pellegrin (1905; 1906)… Nhưng mãi tới năm 1937 mới có một nghiên cứu về khu hệ cá của Chevey và Lemasson với công trình “Góp phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt Bắc Bộ Việt Nam”. Kết quả của nghiên cứu đã công bố miền Bắc Việt Nam có 98 loài thuộc 71 giống, 17 họ và 10 bộ. Đây là công trình nghiên cứu lớn nhất và có giá trị nhất về khu hệ cá Việt Nam thời kỳ này.
* Thời kỳ sau kháng chiến chống Pháp (1954 trở lại đây): đã có những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: Khu hệ cá miền Bắc Việt Nam: có công trình “Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam” của Mai Đình Yên (1978) gồm 201 loài thuộc 27 họ và 11 bộ. Khu hệ cá nước ngọt các tỉnh miền Trung: có các công trình sau: “Khu hệ cá lưu vực sông Lam” do Nguyễn Thái Tự công bố (1983) gồm 157 loài thuộc 45 họ và 14 bộ. Tác giả đã ghi rõ ranh giới của nhiều loài cá nước ngọt, sự di cư của nhiều loài cá có nguồn gốc từ biển vào nước ngọt và địa lý phân bố của chúng. Khu hệ cá nước ngọt Nam Trung Bộ: có công trình luận án Phó Tiến sĩ Sinh học của Nguyễn Hữu Dực (1995), tác giả đã thống kê khu hệ cá Nam Trung Bộ có 134 loài thuộc 81 giống, 31 họ và 10 bộ.
Tác giả chia khu hệ cá Nam Trung Bộ thành ba nhóm địa đông vật: nhóm phía Bắc, nhóm phía Nam và nhóm đặc hữu. Khu hệ cá nước ngọt Tây Nguyên: có công trình của Nguyễn Thị Thu Hè (2000) trên cơ sở khảo sát 3 lưu vực sông (Mê Kông, sông Ba và sông Đồng Nai), tác giả đã thống kê 160 loài thuộc 70 giống, 28 họ và 10 bộ. Công trình nghiên cứu 11 khu hệ cá hệ thống sông Ba của Nguyễn Minh Ty (2010) thống kê mới nhất có 182 loài thuộc 111 giống, 55 họ và 15 bộ. Khu hệ cá nước ngọt Nam Bộ, có các công trình nghiên cứu sau: Khu hệ cá nước ngọt Nam Bộ của Mai Đình Yên và công sự (1992), các tác giả đã thống kê khu hệ cá nước ngọt Nam Bộ gồm 225 loài thuộc 193 giống, 43 họ và 14 bộ.
Khu hệ cá đồng bằng sông Cửu Long của Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), gồm 137 loài thuộc 99 giống, 39 họ và 13 bộ. Biến động thành phần loài cá trước và sau khi thành lập hồ Dầu Tiếng của Tống Xuân Tám, Nguyễn Hữu Dực (2009), đã xác định được 139 loài thuộc 30 họ và 10 bộ. Khu hệ cá cửa sông ven biển, có các công trình sau: Khu hệ cá đầm phá Thừa Thiên Huế của Võ Văn Phú (1998), gồm 163 loài thuộc 60 họ và 17 bộ. Khu hệ cá vùng triều ven biển Việt Nam của Phạm Thược và cộng sự (1994), gồm có 258 loài thuộc 140 giống, 70 họ.
Khu hệ cá cửa sông ven biển của Vũ Trung Tạng (1994) gồm 580 loài thuộc 110 họ, 25 bộ. Nghiên cứu cấu trúc quần xã cá rạn san hô trong khu bảo tồn vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa của tác giả Nguyễn Văn Quân (2010), gồm 420 loài thuộc 198 giống, 77 họ. Các tài liệu chuyên khảo về cá nước ngọt Việt Nam: có các công trình sau: Nguồn lợi thủy sản Việt Nam của Bộ thủy sản (1996), thống kê thành phần cá nước ngọt gồm 554 loài thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ. Danh mục các loài cá nước ngọt đã biết của Mai Đình Yên, Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (2002), tác giả đã chỉnh sửa và đưa ra danh sách khu hệ cá nước ngọt Việt Nam gồm 546 loài thuộc 226 giống, 57 họ và 18 bộ.
Trong tài liệu “Cá nước ngọt Việt Nam” của Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân (2001) và Nguyễn Văn Hảo (2005a, 2005b), tác giả đã thống kê hệ thống cá nước ngọt Việt Nam có 1.027 loài và phân loài thuộc 427 giống, 98 họ và 22 bộ. Bộ sách được xem là cẩm nang về khu hệ cá nước ngọt ở nước ta bao gồm cả khóa định loại, mô tả các loài và sự phân bố cũng như đặc điểm sinh học, sinh thái của những loài phổ biến. Lược sử nghiên cứu cá ở khu vực KBTTN Pù Hoạt Đã có một số nghiên cứu về thành phần loài cá ở khu vực Tây Bắc Nghệ An, như: Năm 1983, Nguyễn Thái Tự nghiên cứu về khu hệ cá sông Lam đã thống kê được 157 loài; trong đó khu vực sông Hiếu Tây Bắc Nghệ An có 4 loài. Năm 2006, Lê Văn Đức nghiên cứu đa dạng sinh học cá sông Hiếu Tây Bắc Nghệ An đã ghi nhận 88 loài Cá thuộc 54 giống, 16 họ, 5 bộ; trong đó đã lần đầu tiên phát hiện giống cá Esomus ở khu vực Bắc Trung Bộ với mẫu vật thu được tại Quế Phong.
Năm 2008, trong báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước: “Đánh giá đa dạng sinh học cá, lưỡng cư, bò sát khu vực Tây Bắc Nghệ An và đề xuất các giải pháp bảo tồn”; Hoàng Xuân Quang đã lập danh lục nhóm Cá có 103 loài thuộc 60 giống, 18 họ và 05 bộ (Hoàng Xuân Quang và cộng sự, 2008). Rõ ràng nghiên cứu về khu hệ Cá ở KBTTN Pù Hoạt chưa được tiến hành một cách đầy đủ; các nghiên cứu trước có vùng nghiên cứu rộng hơn và chỉ lựa chọn một số điểm điều tra thuộc KBTTN Pù Hoạt hiện nay. 13 Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung: Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học Cá tại KBTTN Pù Hoạt 2.