Chương 1. Đặt van đề Cây mè (Sesamum indicum L.) hay còn gọi là cây vig, là cây thân thảo sống hàng năm, là một loại cây dễ trồng, dễ canh tác, không kén đất, có tính chịu hạn tốt, thích nghĩ tốt với điều kiện khí hậu, đất đai. Cây mè có nhiều đặc tính có lợi về dinh dưỡng, y học, sản xuất dau diesel sinh học, có tầm quan trọng trong công nghiệp và mỹ phẩm. Đặc biệt hạt mè là một loại hạt có chứa nhiều giá trị đinh dưỡng, có hàm lượng dau cao (50 tới trên 60 %), cho chất lượng dầu tốt và có chứa các chất chống oxy hóa.
Trên thế giới cây mè được trồng nhiều ở các nước như: Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước ở Châu Phi, Châu Á. Ở nước ta cây mè được trồng nhiều ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ và Trung Bộ. Hiện nay, giá trị thương mại của dau mè và hạt đã tăng lên do ngày càng có nhiều thông tin liên quan đến lợi ích sức khỏe và giá trị đinh dưỡng của mè đã được công bồ. Đã có rất nhiều phương pháp đề nghiên cứu, đánh giá sự đa dạng di truyền của các giống cây trồng nói chung và cây mè nói riêng như qua hình thái học, chỉ thị sinh học phân tử RAPD, SSR, ISSR,.
Trong nghiên cứu này tiến hành đánh giá da dang và phân nhóm di truyền các giống mè trắng dựa trên các đặc điểm yếu tố cau thành năng suất, kết hợp với chỉ thị phân tử ISSR. Đặc biệt quan tâm là chỉ tiêu trên 70% số hạt đạt chiều dài từ 1,6 mm trở lên, dé có thé đáp ứng cho yêu cầu xuất khẩu sang thị trường Châu Au. Mục tiêu đề tài: Đánh giá da dạng và phân nhóm di truyền các giống mè trắng (Sesamum indicum L.) dựa trên các đặc điểm yếu tố cấu thành năng suất và trên chỉ thị sinh học phân tử ISSR. Nội dung thực hiện: Tuyển chon và trồng 12 mẫu giống mè trang từ tập đoàn nguồn gen của viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm TP.
Hồ Chí Minh. Theo dõi đánh giá các chỉ tiêu bao gôm ngày ra hoa, sô trái trên cây, số trái trên nách lá, sô khía trên trái, sô hạt trên trái, chiêu cao cây, chiêu cao từ gôc đên trái đâu tiên, trọng lượng cua 100 hạt, kích thước hạt trung bình (d/r) và thời gian thu hoạch. Ly trích DNA tổng số và định tính DNA bằng phương pháp điện di tổng số. Thực hiện phản ứng PCR — ISSR giữa các mẫu mè với các primer ISSR.
Từ kết quả thu nhận được phân tích đánh giá đa dạng di truyền bằng phần mềm NTSYSpc 2. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu về cây mè (Sesamum indicum L. Nguồn gốc và phân bố của cây mè Cây mè (Sesamum indicum L.) hay còn gọt là cây ving.
Tên khoa học là Sesamum indicum L., thuộc bộ hoa môi (Lamiales), họ ving (Pedaliaceae), chi vừng (Sesamum), loài Sesamum indicum. Mé (Sesamum indicum L.) là một loại hạt có đầu cỗ xưa được trồng ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ như một nguồn hạt ăn được và có dầu chất lượng cao. Nguồn gốc chính xác của cây mẻ trồng vẫn chưa được xác định một cách chắc chắn. Mặc đù ở Châu Phi có hầu hết các họ hàng hoang đã của cây mè được trông, và có nhiêu lập luận di truyền ủng hộ nguồn gôc An Độ của cây mè.
Là một loại cây dé trồng, dé canh tác, không kén đất, có tính chịu hạn tốt, thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, đất đai đặc biệt là ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Hiện nay trên thé giới cây mè được trồng nhiều ở các nước như: Trung Quốc, An Độ và một số nước ở Châu Phi, Châu Á (Lê Vĩnh Thúc và Huỳnh Kỳ, 2020). Phân loại cay mè Mè có nhiều dòng và nhiều giống, khác nhau về dạng cây, màu sắc của hạt và thời gian sinh trưởng. Nhưng mè được trồng trên thế giới là Sesamun indicum L.
có số lượng nhiễm sắc thể 2n=26. Phân loại mè dựa vào một số đặc điểm thực vật học như sau: Thời gian sinh trưởng: phân loại giữa giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày (dưới 100 ngày) với giống có thời gian sinh trưởng dài ngày (trên 100 ngày). Cách phân loại này rat quan trọng khi chọn giống dé luân canh với các cây trồng khác. So khía trên trái: phân loại các giông mè trái có bon khía, sáu khía, tam khía.
Cách phân loại này dùng dé chọn kích cỡ hạt. Trái bị nut hay không bị nứt khi thu hoạch: phân loại nay giúp cho việc thu hoạch được đồng loạt và giảm thiêu hao hut, thất thoát hạt khi thu hoạch, vì những giống không bị nứt trái khi thu hoạch trái sẽ không bị nứt ra làm mất hạt. Mau hạt: đây là cách phân loại phổ biến nhất. Phân biệt hai loại mè chủ yếu là: mè den và mè vang.
Ngoài các cách phân loại trên, người ta còn phân loại mè theo thời vụ trong, sô hoa ở nách lá, sự phân cành trên thân (Lê Vĩnh Thúc và Huỳnh Kỳ, 2020). Đặc điểm thực vật học của cây mè Rễ: thuộc loại rễ cọc, rễ chính ăn sâu xuống đất, đồng thời hệ rễ bên cũng rất phát triển về bề ngang. Rễ mè phân bố chủ yếu ở lớp đất từ 0 - 25 cm, nếu ở vùng đất cát, vùng khô hạn, rễ cái có thể ăn sâu đề tìm nguồn nước ngầm. Rễ mè phát triển kém, tốc độ ra rễ chậm, dé đồ ngã khi có mưa gió, vì vậy phải chú ý vun gốc, làm rãnh thoát nước (nhất là vào mùa mưa).
Rễ mọc tốt hơn trên đất cát và không chịu ngập trong thời gian ngắn. Thân: mè thuộc thân thảo, cao từ 60 - 120 cm, có giống đạt đến 3m có thể thấp hơn trong điều kiện khô hạn. Thân thường có hình 4 cạnh với những tiết điện vuông và những rãnh dọc. Tuy nhiên, có những dạng thân rất rỗng hình chữ nhật hoặc có thé tròn, trên thân có nhiều long hoặc it long, đặc tính này giúp dé phân biệt giống.
Màu sắc của thân thay đổi 4 từ màu xanh nhạt đến màu tím, phổ biến nhất là màu xanh đậm. Số lượng cành trên cây phụ thuộc vào giống. Các dạng thân ngắn đâm cành ít thường chín sớm, cây cao thường chín trễ và có khả năng chịu hạn tốt hơn. Các giống dài ngày thường phát triển chậm ở giai đoạn cây con, nhưng tăng trưởng nhanh ở giai đoạn sau.
Lá: lá mè rất biến đổi về dạng và kích thước trên cùng một cây và giữa các giống với nhau. Lá dưới thường rộng hơn đôi khi có thùy, mép lá (rìa) hình răng cưa hướng ra ngoài, lá giữa thường nguyên hình móc, đôi khi có răng cưa, lá trên hẹp hơn. Lá sẽ mọc đối hay luân phiên tùy thuộc vào giống, cách sắp xếp của lá sẽ ảnh hưởng đến số hoa trên nách lá và năng suất hạt trên cây. Lá mọc đối tạo điều kiện có nhiều hoa, tăng năng xuất.
Kích thước của lá từ 3 - 17,5 em về chiều dai và 1 - 1,5 cm về chiều rộng. Lá có màu xanh đậm hoặc xanh nhạt tùy thuộc vào giống. Mặt trên của lá có lông tơ bao phủ. Canh: cành mọc ra từ các nách lá gân gôc của thân chính, cảnh có thé mọc cách hoặc mọc đôi nhau, cành sẽ mang hoa va trái, trên các cành chính còn có thê có cành cap hai.
Sự phân cành trên thân chính cũng là một yêu tô đê phân biệt các giông mè với nhau, thường mau của cảnh sẽ giông màu thân chính. Hoa: hoa mè có hình chuông. Cuống hoa ngắn, tràng hoa gồm 5 cánh hợp thành hình chuông. Đài hoa màu xanh, 5 cánh can, ống hoa dai 3 — 4 em.
Hoa mọc ở nách lá và mọc thành chum, mỗi chùm có 4 — 8 hoa. Nhị đực 5 nhưng có | bat dục. Bầu nhụy nam trên đài hoa, có 2 ngăn với nhiêu vách giả. Qua: là một loại qua nang, tiết điện hình chữ nhật, có rãnh sâu, có đầu nhọn hình tam giác ngắn, thường có lông tơ bao phủ.
Hình dang của quả cũng là một đặc điểm dé phân biệt các giống với nhau. Chiều dài trái thay đổi từ 2,5 — 8 cm, đường kính trái thay đổi từ 0,5 - 2 cm số vách ngăn từ 1 - 12 vách. Trái mở ra bằng cách chẻ doc các vách ngăn từ trên xuống. Mức độ mở trái là đặc tính quan trọng khi chọn giống để trồng cho phù hợp với điều kiện thu hoạch, tránh hao hụt, thất thoát hạt khi thu hoạch.
Chất lượng quả cũng khác nhau tùy vị trí đóng quả, thường quả ở vị trí thấp sẽ có hạt lớn hơn ở vị trí cao. Hạt: hạt mè là hạt song tử điệp. Cấu tạo hạt có nội phôi nhủ. Hạt mè nhỏ thường có hình trứng hoi dep trọng lượng 1000 hat từ 2 — 4 g.
Vỏ hạt láng hoặc nhăn màu den, trắng, 5 vàng, nâu đỏ hay xám, cũng có hạt màu xám nâu, xanh olive va nâu đậm. Hạt mè tương đối mảnh và có chứa rất nhiều dầu, do đó dé mắt sức nảy mam sau khi thu hoạch. Giống có trái nhiều khía thì hạt sẽ nhỏ hơn so với giống có trái ít khía (Lê Vĩnh Thúc và Huỳnh Kỳ, 2020). Sự sinh trưởng và phát triển của cây mè Thời gian sinh trưởng của cây mè biến động từ 75 - 120 ngày.
Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng sẽ kéo dài 40 - 60 ngày tùy thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh (đặt biệt là nhiệt độ và độ dài ngày). Trong thời ky sinh trưởng dinh dưỡng, quá trình sinh lý quan trọng nhất của mè 1a sự sinh trưởng của các bộ phận dinh dưỡng và sự phân hóa mầm hoa. Thời kỳ sinh trưởng phát triển đặc trưng là sự ra hoa, kết quả, hình thành hạt và chín. Cây mè ra hoa trong khoảng thời gian 15 - 20 ngày.
Tốc độ tăng trưởng của quả rất nhanh, quả phát triển tối đa trong khoảng 9 ngày sau khi nở hoa mặc dù còn tiếp tục phát triển trong 24 ngày, trong thời kỳ quả chín trọng lượng khô của quả đạt tối đa vào khoảng ngày thứ 27 sau khi hoa nở. Quả chín hoàn toàn vào khoảng 35 - 40 ngày (Lê Vĩnh Thúc và Huỳnh Kỳ, 2020). Công dụng của cay mè Hạt mè được sử dụng phổ biến dé chế biến nhiều dạng thức ăn (kẹo mè, chè mè. Hạt mè có lợi cho gan, thận, lách, dạ dày.
Dầu mè được tiêu thụ nhiều nhất, dầu mè có tác dụng ngăn cản quá trình oxy hóa.