Đặt vấn đề Hiện nay, với sự của phát triển kinh tế xã hội đã làm cho đời sống ở các vùng quê có nhiều đổi mới. Sự gia tăng dân số và tốc độ phát triển kinh tế xã hội cao làm tăng các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của con người, điều này cũng tác động mạnh, lâu dài đến môi trường. Tình hình rác thải sinh hoạt ở nông thôn đang dần trở thành vấn đề nan giải cần được quan tâm để bảo vệ cảnh quan và môi trường sống của cả cộng đồng dân cư. Với sự phối hợp của ban lãnh đạo các cấp trong những năm gần đây đã có những chủ trương chính sách, biện pháp giải quyết các vấn đề về môi trường như : Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi trường.
Trong quá trình xây dựng nông thôn mới giúp cho kinh tế xã hội phát triển một mặt tạo sự phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống cho người dân mặt khác lại là nguy cơ là chất lượng môi trường này càng kém. Ngày nay ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề của toàn cầu. Nếu con người không có những biện pháp bảo vệ môi trường kịp thời để ngăn chặn, phòng ngừa các mức độ ô nhiễm thì sự suy thoái và sự cố môi trường là điều không thể tránh khỏi và có nguy cơ xảy ra là rất cao. Rác thải sinh hoạt đang là một trong những vấn đề bức xúc ở nước ta hiện nay cần được giải quyết.Theo tính toán trong một ngày mỗi người thải ra môi trường trung bình là 0,5-1,3 kg/người trên toàn thế giới.
Nền kinh tế càng phát triển, dân số gia tăng nhu cầu tiêu thụ của con người cũng tăng theo và theo đó lượng rác thải phát sinh ngày càng nhiều. Lượng tài nguyên được đưa vào sản xuất và tiêu dùng có thể đo trường thì khó có thể cân đong, đo, đếm được.Việc gia tăng chất thải sinh đếm được bằng khối lượng hoặc bằng tiền nhưng lượng rác thải được thải ra môi hoạt là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây nên ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người làm mất đi cảnh quan thiên nhiên vốn có. Nga phú, Nga Sơn, Thanh Hóa là một xã Nga phú nằm trong vùng đồng bằng ven biển có nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, việc đánh giá một n 2 cách chưa đầy đủ về rác thải sinh hoạt.
Trong quá trình phát triển việc thu gom và quản lý gặp nhiều khó khăn và cũng chưa có các biện pháp xử lý phù hợp. Vì vậy, việc đánh giá hiện trạng thu gom và quản lý giảm thiểu, phòng ngừa các tác động xấu của rác thải sinh hoạt là một vấn đề cấp bách hiện nay cần được giải quyết. Xuất phát từ thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề trên và được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Môi Trường thuộc Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th.S Nguyễn Duy Hải, em tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu chung Dựa trên cơ sở đánh giá hiện trạng thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã Nga Phú, từ đó làm cơ sở khoa học và thực tiễn để hướng dẫn cộng đồng có ý thức và thói quen thu gom và phân loại rác tại nguồn nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Đồng thời đề xuất các giải pháp xử lý phù hợp với điều kiện của địa phương để đạt hiệu quả cao nhất nhằm nâng cao công tác quản lý môi trương một cách khoa học và bền vững. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá hiện trạng thu gom rác thải sinh hoạt tại xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. - Đánh giá nhận thức của cộng đồng dân cư tại xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa về quản lý rác thải sinh hoạt.
- Đề xuất một số biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt phù hợp với điều kiện của địa bàn nghiên cứu. Yêu cầu của đề tài - Điều tra đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tại xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. - Tiến hành điều tra phỏng vấn thu thập số liệu. Các số liệu thu thập được phải đúng và khách quan.
- Đưa ra đánh giá về thực trạng thu gom, vận chuyển, xử lỷ rác thải sinh hoạt trên địa bàn. n 3 - Tìm ra những khó khăn hiện tại và đưa ra các biện pháp khắc phục - Đưa ra một số biện pháp có tính khả thi có thể áp dụng tại địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Tạo ra cơ hội cho sinh viên tiếp cận với thực tế để hiểu rõ hơn các kiến thức đã học trên giảng đường.
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rác thải sinh hoạt. - Việc nghiên cứu đề tài sẽ là cầu nối giữa kiến thức học tập và thực tế ,nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra kinh nghiêm thực tế phục vụ cho công tác sau này. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, tình hình thu gom,vận chuyển và quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã. - Đánh giá được thực trạng rác thải sinh hoạt và công tác quản lý rác thải trên địa bàn Xã.
- Đề xuất một số biện pháp khả thi để xử lý rác thải sinh hoạt. - Đề xuất một sồ kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn Xã. - Kết quả của đề tài sẽ là một trong những căn cứ để tăng cường công tác quản lý, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng về môi trường. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Tổng quát về rác thải sinh hoạt 2. Khái niệm về chất thải - Theo khoản 10 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường 2005 thì khái niệm chất thải như sau: “ Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”. Hay nói cách khác chất thải là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng …).
Khái niệm về rác thải sinh hoạt - Rác thải sinh hoạt là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật. Rác thải sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng … Trong đó rác thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao nhất. Số lượng, thành phần, chất lượng chất thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, kĩ thuật. Hoạt động quản lý chất thải rắn Hoạt động quản lý CTR: Bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe con người.
Nguồn phát sinh và phân loại rác thải sinh hoạt Các nguồn phát sinh chất thải rắn bao gồm: Cùng với những hoạt động sản xuất của con người và sự phát triển của các ngành đã tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu của con người ngày càng tăng lên, cùng với đó là lượng RTSH của các hoạt động này cũng gia tăng. n 5 RTSH được thải ra từ mọi hoạt động sản xuất cũng như tiêu dùng trong đời sống xã hội, trong đó lượng rác thải chiếm khối lượng lớn chủ yếu ở khu dân cư và các nhà máy, xí nghiệp. Cơ quan, Trường học Khu dân cư Công viên RT SH Bệnh viện Chợ, bến Cơ sở y tế xe Xây dựng Nhà máy Xí nghiệp Hoạt động nông nghiệp Hình 2.1: Sơ đồ nguồn phát sinh RTSH Rác thải sinh hoạt có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau: - Theo phương diện khoa học, có thể phân biệt các loại chất thải rắn sau: + Chất thải thực phẩm bao gồm các phần thừa thãi, không ăn được sinh ra trong khâu chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn… Đặc điểm quan trọng của loại chất thải này là phân hủy nhanh trong điều kiện thời tiết nóng ẩm. Quá trình phân hủy thường gây ra các mùi hôi thối khó chịu.
+ Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: vật chất còn lại trong quá trình đốt củi, than, rơm rạ, lá…Ở các gia đình, công sở, nhà hàng, nhà máy, xí nghiệp. + Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là lá cây, que, củi, nilon, vỏ bao gói. + Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm của người và phân của các động vật khác. n 6 - Theo vị trí hình thành: Phân biệt rác hay rác thải sinh hoạt trong nhà, ngoài nhà, chợ, trên đường phố,… - Theo thành phần hóa học và vật lí: Phân biệt theo các thành phần vô cơ và hữu cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại,… 2.
Thành phần rác thải sinh hoạt - Rác thải sinh hoạt bao gồm 2 thành phần chính đó là vô cơ và hữu cơ. Tùy theo điều kiện cụ thể của từng vùng như mức sống, thu nhập, các điều kiện kinh tế, các mùa khí hậu,… mà mỗi nơi thành phần rác thải sinh hoạt là khác nhau. Tính chất lý học, hóa học, sinh học của chất thải rắn sinh hoạt - Tính chất lý học a/ Khối lượng riêng Khối lượng riêng được định nghĩa là khối lượng riêng trên một đơn vị thể tích, được tính bằng kg/m3. Khối lượng riêng của chất thải rắn nông thôn sẽ rất khác nhau tùy theo phương pháp lưu trữ : (1) để tự nhiên không chứa trong thùng, (2) chứa trong thùng và không nén, (3) chứa trong thùng và nén b/ Độ ẩm của chất thải rắn thường được biểu diễn theo một trong 2 cách: Độ ẩm của chất thải rắn thường được biểu diễn theo một trong 2 cách: Tính theo thành phần phần trăm khối lượng ướt và thành phần phần trăm khối lượng khô.
Trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn, phương pháp khối lượng ướt thông dụng hơn.