MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, nó có ý nghĩa quan trọn trong sản suất và trong đời sống. Trong cơ chế thị trường, đất đai được coi là một loại hàng hóa. Và coi đất đai là hàng hóa thì cần xác định cho nó một sự “sở hữu” nhất định để mỗi người dân cũng như cơ quan Nhà nước có thẩm quyền dễ dàng hơn trong việc sử dụng và quản lí đất đai.
Ở Việt Nam, Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất đối với đất đai nhưng không trực tiếp khai thác, sử dụng đất mà trao quyền sử dụng cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân… Chứng thư pháp lí xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng đất trong việc sử dụng đất là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ).Vì vậy theo quy định của pháp luật đất đai, cấp GCNQSDĐ là một trong những nội dung của hoạt động quản lí Nhà nước về đất đai, đồng thời của là quyền đầu tiên mà bất kì người sử dụng đất hợp pháp nào cũng được hưởng. Để đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý nhà nước về đất đai thì công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, điều đó không chỉ đảm bảo sự thống nhất trong quản lý mà còn đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất, GCNQSDĐ là cơ sở để họ được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp, là tiền đề để họ có thể thực hiện các quyền mà pháp luật đã trao cho người sử dụng đất.Trong những năm qua Nhà nước ta luôn chú trọng quan tâm đến hoạt động cấp GCNQSDĐ và đã ban hành rất nhiều quy định về cấp GCNQSDĐ cho cá hộ gia đình, cá nhân tuy nhiên với thực trạng sử dụng đất hiện nay những quy định vẫn phần nào chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đặt ra điển hình như tại địa bàn xã Trung Mầu – huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội việc tranh chấp, lấn chiếm, khiếu nại, tố cáo về đất đai vẫn thường xuyên xảy ra và việc giải quyết 2 các vấn đề này còn rất nan giải do thiếu các giấy tờ pháp lý như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bản đồ, sổ sách … hoặc nếu có thì những tài liệu đã quá cũ, không được cập nhật bổ sung kịp thời. Vì vậy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân trong xã để người sử dụng đất yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh nông nghiệp là hết sức cần thiết. Từ thực tế trên, được sự nhất trí của ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự phân công của khoa Quản lý Tài nguyên - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và dưới sự hướng dẫn của Khoa Quản lí Tài Nguyên cùng sự hướng dẫn tận tình của giảng viên TS Nguyễn Thị Lợi, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân tại xã Trung Mầu, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội giai đoạn 2014 - 2017”.
Mục tiêu nghiên cứu - Tìm hiểu tình hình công tác quản lý đất đai xã Trung huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội giai đoạn 2014 – 2017. - Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình cá nhân của xã Trung Mầu giai đoạn 2014 – 2017. - Đánh giá những khó khăn thuận lợi trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Trung Mầu. - Đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đảm bảo các quyền của người sử dụng đất, cũng như công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Trung Mầu.Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Bổ sung hoàn thiện những kiến thức đã học trong nhà trường cho bản thân, đồng thời thấy được những thuận lợi và khó khăn trong công tác cấp GCN QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất trong thực tế. 3 - Nắm vững những quy định của Luật Đất đai và các văn bản dưới Luật về Đất đai của Trung ương và địa phương về cấp GCN QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan có thẩm quyền trong công tác cấp GCNQSDĐ và từ kết quả nghiên cứu đó đưa ra một số giải pháp phù hợp với công tác cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất nói riêng và công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung được tốt hơn. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Tại điều 22, Luật Đất đai năm 2013 quy định nội dung quản lý nhà nước về đất đai, bao gồm:[10] - Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó. - Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. - Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất.
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. - Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. - Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thống kê, kiểm kê đất đai. - Xây dựng hệ thống thông tin đất đai. - Quản lý tài chính về đất đai và giá đất. - Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. - Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai. - Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai. 5 - Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai: * Dựa trên quy định trên thì người sử dụng đất được Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp đối với quyền sử dụng đất của mình.
Các biện pháp bảo đảm của Nhà nước với người sử dụng đất bao gồm: - Bảo hộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người sử dụng đất. - Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. - Khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật. - Có chính sách tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không có đất sản xuất do quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế được đào tạo nghề, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm.
- Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Qua 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai như vậy ta thấy được sự chặt chẽ trong quản lý về đất đai có thể nắm bắt đầy đủ chính xác các thông tin về đất đai một cách khoa học. Đây cũng chính là cơ sở khoa học và là căn cứ pháp lý để có thể nắm chắc, quản lý chặt toàn bộ quỹ đất cũng như giải quyết các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai. Đồng thời bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ cho mọi công dân để có thể yên tâm đầu tư sản xuất, bồi bổ cho đất tạo nên hiệu quả kinh tế cao nhất.
Nhà nước quản 6 lý đất đai theo quy hoạch và kế hoạch đó phân bổ quỹ đất đai cho hợp lý nhằm tạo nên hiệu quả sử dụng cao nhất và các biện pháp bảo vệ môi trường. Trong 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai thì công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ là nội dung chính, nhằm liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ và quyền lợi của người sử dụng đất, giúp cơ quan quản lý đất đai được chặt chẽ hơn. Nó là nội dung liên quan đến nhiều nội dung chủ yếu của công tác quản lý đất đai như: Ban hành các văn bản quy phạm pháp Luật về quản lý và sử dụng, điều tra đo đạc, phân hạng và định giá đất, công tác lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai…Đây là nội dung nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Chỉ khi chúng ta làm tốt công tác đăng ký, thống kê kiểm kê, lập hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ thì chúng ta mới có thể làm tốt công tác quản lý nhà nước về đất đai từ số lượng, chất lượng đến tình hình sử dụng toàn bộ quỹ đất.
Thông qua việc lập hồ sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ đã quy định trách nhiệm pháp lý giữa cơ quan nhà nước về đất đai và nười sử dụng đất trong việc chấp hành pháp luật đất đai. Hồ sơ địa chính và GCNQSDĐ cung cấp đầy đủ thông tin nhất và là cơ sở pháp lý chặt chẽ để xác định các quyền của người sử dụng đất được bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra, xác định nghĩa vụ mà người sử dụng đất phải tuân thủ theo pháp luật như: nghĩa vụ tài chính vì sử dụng đất, nghĩa vụ bảo vệ và sử dụng đất có hiệu quả.