Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt, vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu, vừa là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống và địa bàn phân bố dân cư, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và gia tăng dân số, áp lực đối với quỹ đất ngày càng gia tăng, trong khi diện tích đất tự nhiên có giới hạn cố định. Các quan hệ đất đai thực tiễn phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi công tác quản lý nhà nước phải được củng cố chặt chẽ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) là chứng thư pháp lý xác lập và bảo vệ quyền, nghĩa vụ hợp pháp của người sử dụng đất, tạo cơ sở để người dân yên tâm đầu tư sản xuất và chủ động khai thác hiệu quả tài nguyên đất. Sau khi Luật Đất đai năm 2013 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2014, hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ hơn cho công tác đăng ký, lập hồ sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ.
Xuất phát từ thực tiễn quản lý địa phương tại thị trấn Bình Liêu — trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của huyện miền núi biên giới Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh — khóa luận tốt nghiệp ngành Quản lý đất đai đã thực hiện đề tài nhằm đánh giá đúng thực trạng, làm rõ mặt tích cực và các hạn chế tồn tại.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm:
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất trên địa bàn thị trấn Bình Liêu, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.
- Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn thị trấn Bình Liêu, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015 đến 2017.
- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp khắc phục cho công tác cấp GCNQSD đất của thị trấn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Kết quả cấp GCNQSD đất cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thị trấn Bình Liêu.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn thị trấn Bình Liêu, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.
- Phạm vi thời gian: Số liệu đánh giá công tác cấp GCNQSD đất được thu thập trong giai đoạn 2015 – 2017; thời gian tác giả trực tiếp thực hiện nghiên cứu tại địa phương từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên khung lý luận quản lý nhà nước về đất đai theo Điều 22 Luật Đất đai năm 2013, bao gồm 15 nội dung quản lý; trong đó công tác đăng ký đất đai, lập, chỉnh lý hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là một nội dung trọng tâm. Bên cạnh đó, nghiên cứu hệ thống hóa các khái niệm, thành phần hồ sơ địa chính (dạng giấy và dạng số) theo Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, trách nhiệm quản lý của các cấp hành chính, cùng nguyên tắc cấp giấy chứng nhận theo từng thửa đất, xác nhận tài sản chung vợ chồng và xử lý chênh lệch diện tích đo đạc thực tế theo Điều 98, Điều 102 Luật Đất đai năm 2013.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả trích dẫn làm căn cứ pháp lý gồm:
- Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Luật Đất đai năm 2013;
- Chỉ thị số 05/2006/CT-TTg ngày 22/2/2006 của Thủ tướng Chính phủ;
- Các Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (hướng dẫn thi hành Luật Đất đai), Nghị định số 44/2014/NĐ-CP (về giá đất), Nghị định số 45/2014/NĐ-CP (thu tiền sử dụng đất), Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (bồi thường, hỗ trợ, tái định cư), Nghị định số 102/2014/NĐ-CP (xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai);
- Các Thông tư, Quyết định chuyên ngành: Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT, Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT, Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Thông tư số 76/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính; Quyết định số 499/QĐ-ĐC ngày 27/01/1995 của Tổng cục Địa chính; Quyết định số 851/QĐ-UBND ngày 31/3/2015 của UBND tỉnh Quảng Ninh về thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền Sở TN&MT.
Các phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả áp dụng:
- Phương pháp thống kê, thu thập số liệu, tài liệu: Thu thập số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất, hồ sơ cấp GCNQSDĐ từ UBND thị trấn Bình Liêu và Phòng Tài nguyên và Môi trường. Thu thập số liệu sơ cấp thông qua điều tra xã hội học bằng bảng câu hỏi soạn sẵn nhằm khảo sát nhận thức người dân về pháp luật và thủ tục cấp GCNQSDĐ (chia nhóm khảo sát, trong đó kết quả xử lý thực tế phân tích 35 phiếu của người dân trên 7 khu phố).
- Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu: Xử lý, phân nhóm dữ liệu thu thập được theo loại đất, theo từng năm và theo các lý do chưa được cấp giấy để phản ánh bức tranh toàn diện của công tác quản lý.
- Phương pháp so sánh và đánh giá: So sánh số liệu biến động diện tích đất đai và kết quả giải quyết hồ sơ qua các năm 2015, 2016, 2017 nhằm nhận diện quy luật tăng giảm và nguyên nhân biến động.
Nguồn dữ liệu sử dụng: Dữ liệu hành chính, địa chính do UBND thị trấn Bình Liêu và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Liêu cung cấp; dữ liệu khảo sát thực địa và phỏng vấn trực tiếp người dân tại 7 khu dân cư thuộc thị trấn Bình Liêu.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu xác định tính cấp thiết của công tác quản lý và cấp GCNQSDĐ trong bối cảnh công nghiệp hóa và hoàn thiện thể chế theo Luật Đất đai năm 2013; công bố 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể; xác định ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp nguồn tư liệu thực chứng cho chuyên ngành Quản lý đất đai và ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, nhận diện khó khăn tại cơ sở.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận về 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai; phân tích thành phần hồ sơ địa chính gồm bản đồ địa chính, sổ mục kê, sổ địa chính, bản lưu Giấy chứng nhận và sổ theo dõi biến động đất đai; phân định thẩm quyền của Sở TN&MT, Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh VPĐKĐĐ và UBND cấp xã. Phần này trình bày quy trình cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân qua 2 bước (thời hạn không quá 55 ngày làm việc) và thủ tục cấp cho tổ chức theo Điều 102 Luật Đất đai năm 2013. Tác giả cũng tổng thuật tình hình cấp giấy trên cả nước và tỉnh Quảng Ninh, nêu rõ kết quả thực hiện 5 chỉ tiêu chính trên địa bàn tỉnh (đều đạt trên 82% đến 95% diện tích cần cấp) cùng việc triển khai Trung tâm Hành chính công và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung phần này quy định khung thiết kế nghiên cứu: giới hạn đối tượng là hồ sơ cấp GCNQSDĐ của hộ gia đình, cá nhân tại thị trấn Bình Liêu; thời gian nghiên cứu từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2018 cho dữ liệu 2015 – 2017. Trình bày chi tiết 4 nội dung nghiên cứu (khái quát địa bàn; hiện trạng quản lý sử dụng đất; đánh giá kết quả cấp giấy; đánh giá thuận lợi, khó khăn, giải pháp) và các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp, thứ cấp, phân tích thống kê và so sánh đối chiếu.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh các phát hiện nghiên cứu thực nghiệm tại địa bàn:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Thị trấn Bình Liêu có tổng diện tích tự nhiên 153,04 ha, nằm dọc quốc lộ 18C nối với cửa khẩu Hoành Mô. Địa hình đồi núi chiếm 26,72% diện tích, độ cao 150 – 200 m; khí hậu có nhiệt độ trung bình 22,4°C, lượng mưa bình quân 1.868 mm/năm; chịu ảnh hưởng trực tiếp của sông Tiên Yên (lưu lượng bình quân 28 m³/s, lớn nhất 2.090 m³/s). Dân số tính đến tháng 6/2017 là 3.990 người (962 hộ) thuộc 7 khu dân cư, gồm 4 dân tộc: Kinh, Tày, Sán Chỉ, Dao. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2016 còn 0,72%.
- Hiện trạng quản lý và sử dụng đất năm 2017: Thị trấn có bản đồ địa chính tỷ lệ 1/2000 và 1/1000 nhưng hệ thống hồ sơ mới lưu trữ ở dạng giấy, chưa có phòng và tủ bảo quản chuyên dụng dẫn đến nguy cơ hư hỏng tài liệu. Tổng diện tích tự nhiên 153,04 ha gồm: đất nông nghiệp 91,72 ha (chiếm 59,93%), đất phi nông nghiệp 57,61 ha (chiếm 37,64%) và đất chưa sử dụng 3,71 ha (chiếm 2,42%). Đất cơ sở tôn giáo và tín ngưỡng không phát sinh (0 ha).
- Biến động đất đai 2015 – 2017: Tổng diện tích tự nhiên năm 2015 là 153,73 ha, giảm 0,69 ha vào năm 2016 và duy trì 153,04 ha đến năm 2017. Đất nông nghiệp tăng từ 71,43 ha (năm 2015) lên 91,72 ha (năm 2017), tức tăng 20,29 ha. Đất phi nông nghiệp giảm từ 78,81 ha (năm 2015) xuống 57,61 ha (năm 2017), giảm 21,2 ha. Đất chưa sử dụng dao động từ 3,49 ha (2015) lên 6,35 ha (2016) và giảm về 3,71 ha (2017).
- Kết quả cấp GCNQSDĐ giai đoạn 2015 – 2017: Tổng số tiếp nhận 130 hồ sơ đăng ký, đã cấp được 111 giấy (đạt 85,38%) với tổng diện tích 4,23 ha; còn 19 hồ sơ chưa được cấp (chiếm 14,62%). Tiến độ giảm dần theo các năm: năm 2015 tiếp nhận 68 hồ sơ (cấp 60 giấy, đạt 88,23%); năm 2016 tiếp nhận 35 hồ sơ (cấp 28 giấy, đạt 80,00%); năm 2017 tiếp nhận 27 hồ sơ (cấp 23 giấy, đạt 85,18%).
- Kết quả cấp giấy theo loại đất: Đất ở chiếm tỷ trọng lớn với 93 hồ sơ đăng ký (diện tích 3,75 ha), đã cấp 77 giấy (diện tích 1,89 ha, đạt 77,33% về diện tích). Đất nông nghiệp tiếp nhận 37 hồ sơ (diện tích 1,63 ha), đã cấp 34 giấy (diện tích 1,33 ha, đạt 81,59% về diện tích).
- Nguyên nhân hồ sơ chưa được cấp: Trong 19 trường hợp tồn đọng, nguyên nhân do tranh chấp đất đai chiếm đa số với 10 hộ (52,63%); hồ sơ không hợp lệ có 6 hộ (31,58%); ranh giới chưa rõ ràng có 3 hộ (15,79%). Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ việc đo đạc ranh giới trước đây chủ yếu bằng thước dây và ước chừng, công tác quản lý có giai đoạn bị buông lỏng, cộng với tình trạng người dân tự ý chuyển mục đích, xây dựng công trình không phép hoặc đất vướng quy hoạch.
- Điều tra nhận thức của người dân: Tổng hợp 35 phiếu điều tra tại 7 khu dân cư cho thấy tỷ lệ người dân trả lời "không biết" đối với các quy định pháp luật đất đai rất cao: 68,57% không biết về việc sử dụng đất sai mục đích có được cấp giấy hay không; 62,86% không biết quy định hồ sơ chưa hoàn thiện thì có được cấp hay không; 57,14% không biết việc cấp giấy có giới hạn riêng cho đất nông nghiệp hay không; 48,57% không biết thông tin thời hạn sử dụng đất ghi trên giấy chứng nhận; 51,43% không biết các hình thức cấp giấy (chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế...).
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Khóa luận tổng kết toàn bộ các kết quả đạt được về hiện trạng đất đai, số lượng hồ sơ cấp giấy và tỷ lệ hoàn thành tại thị trấn Bình Liêu; chỉ ra những vướng mắc nội tại về lưu trữ hồ sơ giấy, tranh chấp ranh giới và nhận thức người dân; từ đó đề xuất định hướng giải pháp đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu thực chứng chi tiết về công tác cấp GCNQSDĐ tại thị trấn Bình Liêu trong chu kỳ 3 năm (2015 – 2017), phản ánh cụ thể qua các bảng số liệu sau:
Bảng 1: Kết quả cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân qua các năm
| STT |
Năm |
Số hồ sơ đăng ký |
Số hồ sơ đã giải quyết (cấp GCN) |
Số hồ sơ chưa được cấp |
Tỷ lệ giải quyết thành công (%) |
| 1 |
2015 |
68 |
60 |
8 |
88,23 |
| 2 |
2016 |
35 |
28 |
7 |
80,00 |
| 3 |
2017 |
27 |
23 |
4 |
85,18 |
| Tổng |
Giai đoạn 2015–2017 |
130 |
111 |
19 |
85,38 |
Bảng 2: Kết quả cấp GCNQSDĐ phân theo loại đất giai đoạn 2015 – 2017
| STT |
Loại đất |
Số hộ đăng ký |
Diện tích đăng ký (ha) |
Số hộ được cấp |
Diện tích được cấp (ha) |
Tỷ lệ diện tích được cấp (%) |
| 1 |
Đất nông nghiệp |
37 |
1,63 |
34 |
1,33 |
81,59 |
| 2 |
Đất ở đô thị |
93 |
3,75 |
77 |
1,89 |
77,33 |
| Tổng |
Cả hai loại đất |
130 |
5,38 |
111 |
3,22 |
— |
Bảng 3: Tổng hợp 19 trường hợp chưa được cấp GCNQSDĐ theo địa bàn và nguyên nhân
| STT |
Khu phố |
Tổng số hộ chưa cấp |
Nguyên nhân tranh chấp (hộ) |
Nguyên nhân ranh giới chưa rõ ràng (hộ) |
Nguyên nhân hồ sơ không hợp lệ (hộ) |
| 1 |
Khu Bình Đẳng |
1 |
1 |
0 |
0 |
| 2 |
Khu Bình Quyền |
2 |
0 |
1 |
1 |
| 3 |
Khu Bình Công 1 |
4 |
3 |
0 |
1 |
| 4 |
Khu Bình Công 2 |
2 |
1 |
0 |
1 |
| 5 |
Khu Bình An |
4 |
2 |
2 |
0 |
| 6 |
Khu Bình Dân |
2 |
1 |
0 |
1 |
| 7 |
Khu Bình Quân |
4 |
2 |
0 |
2 |
| Tổng |
Toàn thị trấn |
19 |
10 |
3 |
6 |
Giải pháp tác giả đề xuất:
- Khắc phục tình trạng lưu trữ hồ sơ giấy thủ công, đầu tư trang thiết bị, tủ tài liệu và xúc tiến số hóa cơ sở dữ liệu địa chính nhằm tránh thất lạc, hư hỏng.
- Tăng cường kiểm tra thực địa, sử dụng thiết bị đo đạc kỹ thuật số thay cho phương pháp đo đạc thủ công (thước dây, ước lượng) để xác định rõ ranh giới thửa đất, giải quyết dứt điểm các tranh chấp phát sinh giữa các hộ liền kề.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai cho người dân qua các cuộc họp khu phố và hệ thống truyền thanh nhằm xóa bỏ khoảng trống hiểu biết về điều kiện cấp giấy, nghĩa vụ tài chính và mục đích sử dụng đất.
- Tăng cường phối hợp giữa cán bộ địa chính thị trấn, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Phòng TN&MT huyện trong việc thẩm định và tháo gỡ vướng mắc đối với các hồ sơ tồn đọng do vướng quy hoạch hoặc xây dựng sai phép.
Đóng góp của đề tài:
- Về mặt lý luận và khoa học: Bổ sung nguồn số liệu thực chứng đáng tin cậy về tình hình biến động đất đai và kết quả thực thi Luật Đất đai năm 2013 tại một địa bàn thị trấn miền núi biên giới, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu chuyên sâu về quản lý nhà nước đối với đất đai.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp bức tranh phân tích chi tiết về 19 trường hợp hồ sơ tồn đọng và thực trạng nhận thức pháp luật của người dân tại 7 khu phố, giúp chính quyền cơ sở thị trấn Bình Liêu có cơ sở thực tế để xây dựng phương án giải quyết dứt điểm các tranh chấp và hoàn thiện công tác cấp GCNQSDĐ trong các năm tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Dữ liệu nghiên cứu chỉ bao quát giai đoạn 2015 – 2017, phản ánh thời kỳ đầu triển khai đồng bộ Luật Đất đai năm 2013 tại cơ sở, chưa theo dõi được các biến động và chính sách phát sinh sau năm 2017.
- Khảo sát xã hội học về trình độ hiểu biết của người dân mới thực hiện trên quy mô mẫu 35 phiếu tại 7 khu phố; chưa hoàn thiện đầy đủ việc lấy ý kiến nhóm cán bộ, công chức như dự kiến ban đầu (10 phiếu cán bộ chưa được đưa vào bảng phân tích độc lập).
- Nghiên cứu chịu ảnh hưởng bởi tình trạng thiếu thốn cơ sở dữ liệu số tại địa bàn; hồ sơ địa chính lưu trữ của thị trấn Bình Liêu còn phân tán ở dạng giấy nên việc thu thập số liệu lịch sử đo đạc gặp nhiều rào cản kỹ thuật.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các giai đoạn tiếp theo để đánh giá tác động của việc hiện đại hóa cơ sở dữ liệu đất đai tỉnh Quảng Ninh tại huyện Bình Liêu.
- Mở rộng dung lượng mẫu khảo sát xã hội học đến từng đối tượng cán bộ quản lý và đại diện cộng đồng các dân tộc thiểu số (Tày, Sán Chỉ, Dao) nhằm đề xuất các hình thức tuyên truyền pháp luật phù hợp hơn với đặc thù văn hóa địa phương.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Quản lý đất đai, Quản lý tài nguyên môi trường tham khảo về cấu trúc khóa luận đánh giá chuyên môn, phương pháp tổng hợp số liệu biến động đất đai từ báo cáo kiểm kê và cách thiết kế bảng hỏi khảo sát nhận thức pháp luật đất đai tại cơ sở.
- Cán bộ công chức địa chính - xây dựng tại UBND cấp xã, thị trấn miền núi tham khảo bài học kinh nghiệm trong việc phân loại nguyên nhân hồ sơ ách tắc (tranh chấp ranh giới, hồ sơ không hợp lệ, đo đạc thiếu chính xác) để xây dựng kế hoạch rà soát, xử lý hồ sơ tồn đọng.
- Cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện, thị xã tham khảo đánh giá thực tế về hiện trạng cơ sở vật chất lưu trữ hồ sơ địa chính cấp xã, từ đó có kế hoạch bố trí kinh phí số hóa và mua sắm thiết bị bảo quản hồ sơ tài liệu địa chính.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDĐ tại thị trấn Bình Liêu giai đoạn 2015 – 2017 đạt bao nhiêu phần trăm?
Trong toàn bộ giai đoạn 2015 – 2017, thị trấn Bình Liêu tiếp nhận 130 hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ của hộ gia đình, cá nhân và đã giải quyết cấp được 111 hồ sơ, đạt tỷ lệ chung là 85,38%. Số lượng hồ sơ tiếp nhận có xu hướng giảm dần qua từng năm (năm 2015 là 68 hồ sơ, năm 2016 là 35 hồ sơ và năm 2017 là 27 hồ sơ).
2. Giữa đất ở đô thị và đất nông nghiệp, loại đất nào chiếm nhu cầu cấp GCNQSDĐ lớn hơn tại thị trấn?
Đất ở đô thị chiếm nhu cầu vượt trội với 93 hồ sơ đăng ký (chiếm 71,54% tổng số hồ sơ), đã cấp được 77 giấy với diện tích 1,89 ha (đạt 77,33% về diện tích). Trong khi đó, đất nông nghiệp chỉ có 37 hồ sơ đăng ký (chiếm 28,46%), đã cấp được 34 giấy với diện tích 1,33 ha (đạt 81,59% về diện tích).
3. Đâu là nguyên nhân chủ yếu khiến 19 hồ sơ chưa được cấp GCNQSDĐ trong giai đoạn nghiên cứu?
Nguyên nhân lớn nhất là do tranh chấp đất đai, chiếm 10/19 hồ sơ (chiếm 52,63%). Tiếp theo là do hồ sơ không hợp lệ (xây dựng không phép, sai mục đích, vướng quy hoạch) với 6/19 hồ sơ (31,58%) và ranh giới thửa đất chưa rõ ràng do đo đạc thủ công trước đây với 3/19 hồ sơ (15,79%).
4. Hiện trạng lưu trữ hồ sơ địa chính của thị trấn Bình Liêu có những điểm hạn chế gì?
Thị trấn đã có bản đồ địa chính tỷ lệ 1/2000 và 1/1000 nhưng toàn bộ công tác lưu trữ mới dừng lại ở dạng hồ sơ giấy và bản đồ giấy. Địa phương chưa có phòng chuyên dụng và tủ bảo quản hồ sơ, cơ sở trang thiết bị công nghệ chưa được đầu tư theo yêu cầu, dẫn đến nguy cơ hư hỏng và mất mát tài liệu địa chính.
5. Kết quả khảo sát 35 phiếu người dân phản ánh lỗ hổng nhận thức nào đáng chú ý nhất về pháp luật đất đai?
Khảo sát chỉ ra tỷ lệ người dân không nắm rõ các quy định điều kiện cấp giấy rất cao: 68,57% người dân không biết việc sử dụng đất sai mục đích có được cấp giấy hay không, 62,86% không biết quy định về hoàn thiện hồ sơ trước khi cấp giấy, và 51,43% không nắm được các hình thức cấp GCNQSDĐ (chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Mạ Anh Lan đã phản ánh bức tranh thực tế về công tác quản lý và cấp GCNQSDĐ tại thị trấn Bình Liêu giai đoạn 2015 – 2017, ghi nhận tỷ lệ cấp giấy thành công đạt 85,38% trên tổng số 130 hồ sơ đăng ký. Nghiên cứu chỉ rõ những khó khăn cốt lõi của địa bàn miền núi biên giới, bao gồm tình trạng tranh chấp đất đai do đo đạc thủ công trước đây, việc lưu trữ hồ sơ địa chính bằng giấy thiếu an toàn và tỷ lệ người dân chưa nắm vững các quy định pháp luật đất đai còn cao. Công trình cung cấp hệ thống số liệu cụ thể và các đề xuất thực tiễn, phục vụ công tác hoàn thiện quản lý đất đai và quy hoạch tại địa phương.