Đặt vấn đề Việt nam là một nước đang phát triển. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện nền kinh tế theo cơ chế thị trường – định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và nhà nước ta đã và đang không ngừng đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh, nhu cầu sử dụng đất đai cho các mục đích mở rộng phát triển đô thị, xây dựng các khu công nghiệp, khu du lịch – dịch vụ, khu dân cư, các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình khác phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội cũng như quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân ngày càng tăng đòi hỏi nhu cầu về mặt bằng đất đai ngày càng lớn. Chính vì vậy, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) là một trong những nhân tố đầu tiên quyết định đến sự phát triển và tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý nhà nước về đất đai.
Trong những năm qua, công tác bồi thường GPMB, hỗ trợ và tái định cư trên cả nước đã đạt những hiệu quả nhất định, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của các vùng, miền, khu vực. Tuy nhiên, do công tác bồi thường GPMB, hỗ trợ và tái định cư là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp tác động tới mọi mặt đời song kinh tế, xã hội tới mỗi người dân và cộng đồng dân cư,. Giải quyết không tốt, không thỏa đáng quyền của người bị thu hồi đất sẽ gây ra những mâu thuẫn, khiếu kiện, biểu tình tập thể… làm mất ổn định xã hội. Đặc biệt là tình trạng khiếu kiện đối với lĩnh vực đất đai đang có chiều hướng gia tăng, trong đó nội dung khiếu nại chủ yếu là chính sách thu hồi đất, giá bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Điều đó đã ảnh hưởng đến tiến độ thi công các công trình xây dựng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nhiều dự án phải “ treo “ nhiều năm thậm chí hàng chục năm vì 2 không giải phóng được măt bằng. Cũng từ các tiêu cực xã hội nảy sinh, chất lượng công trình giảm sút, giá đất tăng cao, các khoản tiền bồi thường của người dân không còn nguyên vẹn Xã Minh Thanh – Huyện Nguyên Bình - Tỉnh Cao Bằng là một xã thuần nông tuy nhiên , sau khi tiến hành xây dựng nông thôn mới bộ mặt của xã dã có nhiều thay đổi nhiều dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đã và đang được triển khai thực hiện trong đó có dự án nâng cấp QL 34 đoạn KM 0- KM 38. Tuyến đường nâng cấp có chiều dài là 36 KM tuyến có điểm dầu tại KM 0 nối với quốc lộ 3 tại ngã ba Khau Đồn, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, điểm cuối tại KM 38 + 189 QL 34 tại thị trấn Nguyên Bình, huyện Nguyên Bình Tuyến đường đi qua địa bàn 6 xã , thị trấn là xã Hưng Đạon Hoàng Tung – huyện Hòa An; xã Lang Môn, Bắc Hợp, Minh Thanh, thị trấn Nguyên Bình – huyện Nguyên Bình Vì vậy, việc thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án nâng cấp Đường quốc lộ 34 từ KM0 – KM36 đoạn chạy qua xã Minh Thanh – huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng”.
là cần thiết trong thời điểm hiện nay. Mục đích đề tài Đánh giá việc thực hiện chính sách BT, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất trên dịa bàn xã Minh Thanh – huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng, nhằm đề xuất một số giải pháp đấy nhanh tiến đọ bồi thường, giải phóng mặt bằng và góp phần hoàn thiện chính sách bồi thường phù hợp với thực tiễn. Yêu cầu của đề tài - Tìm hiểu Luật đất đai năm 2003, các Nghị định, thông có liên đến công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng. - Điều tra thu thập kết quả công tác bồi thương và giải phóng mặt bằng, phân tích và nhận xét rút ra thuận lợi, khó khăn khi bồi thường dự án.
- Đề xuất phương án giải quyết trên cơ sở các văn bản pháp quy. 3 - Đánh giá trung thực và khách quan quá trình thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn xã Minh Thanh và tại dự án điều tra. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong học tập và nghiên cứu khoa học, giúp cho người học tập nghiên cứu củng cố lại những kiến thức đã học, biết cách thực hiện một đề tài khoa học và hoành thành khóa luận tốt nghiệp.
Nắm chắc các quyết định về bồi thường và giải phóng mặt bằng bằng việc áp dụng trực tiếp vào thực tế.2 Ý nghĩa trong thực tiễn - Đối với thực tiễn, đề tài góp phần đề xuất các giải pháp để thực hiện công tác BT & GPMB khi Nhà nước thu hồi đất ngày càng có hiệu quả hơn. - Đánh giá được thực trạng sử dụng đất, xác định những tồn tại chủ yếu trong công tác thực hiện BT&GPMB, nguyên nhân và giải pháp khắc phục cho xã Minh Thanh trong việc thực hiện BT&GPMB đạt được hiệu quả cao nhất. 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU 2. Khái quát về công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng 2.
Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 2. Bồi thường Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra. Đền bù là trả lại xứng với giá trị hoặc công lao. Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thê khác.
Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi. Hỗ trợ Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí di dời đến địa điểm mới…[2] 2. Tái định cư Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi ở mới để sinh sống và làm ăn. Tái định cư bắt buộc là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi nhà nước thu hồi đất hoặc trưng dụng đất để thực hiện các dự án phát triển.
TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản, di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu thập, cơ sở vật chất, tinh thần ại đó. TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về KT-XH đối với bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung của đất nước. Hiện nay nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng hình thức sau: - Bồi thường bằng nhà ở. - Bồi thường bằng đất ở mới.
5 - Bồi thường bằng tiền để xây dựng nơi ở mới. TĐC là việc không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách giải phóng mặt bằng. Đặc điểm của quá trình bồi thường GPMB Công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư luôn tồn tại 3 mối quan hệ: Nhà nước, người bị thu hồi đất, nhà đầu tư. Mỗi bên có những nhiệm vụ và quyền lợi khác nhau vì vậy chính sách bối thường, hỗ trợ và tái định cư phải xây dựng phù hợp với mối quan hệ phức tạp này.
Những yếu tố tác động đến công tác GPMB 2. Các yếu tố cơ bản trong quản lý nhà nước về đất đai. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó + Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội. Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao và phù hợp với tính hình thực tế.
Ở nước ta, do các đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội của đất nước trong mấy thập kỷ qua, có nhiều biến động lớn, nên các chính sách về đất đai cũng theo đó không ngừng được sửa đổi bổ sung. Từ năm 1993 đến năm 2003, Nhà nước đã ban hành hơn 200 văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất. Sauk hi quốc hội thông qua Luật đất đai 2003 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã nhanh chóng đi vào cuộc sống. Với một hệ thống quy phạm khá hoàn chỉnh, chi tiết, cụ thể, rõ rang, đề cập mọi quan hệ đất đai phừ hợp với thực tế.
Theo đó, chính sách bồi thường GPMB cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi nhằm giải quyết các vướng mắc trong công tác bồi thường GPMB, phù hợp với yêu cấu thực tế triển khai. Với những đổi 6 mới về pháp luật đất đai, thời gian qua công tác GPMB đã đạt những kết quả đáng khích lệ, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho việc phát triển các dự án đầu tư. Tuy nhiên bên cạnh đó, do tính chưa ổn định, chưa thống nhất của pháp luật đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường GPMB đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở. Thực tiến triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường GPMB.
Hệ thống văn bản pháp luậ đất đai còn có những nhược điểm như là số lượng nhiều, mức độ phức tạp cao, không thuận lợi trong sử dụng, nội bộ hệ thống chưa đồng bộ, chặt chẽ gây lung túng trong xử lý và tạo kẽ hở trong thực thi pháp luật. Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng. Kết quả kiểm tra thi hành Luật đất đai năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy UBND các cấp đều có ý thức quán triệt việc thực thi pháp luật về đất đai nhưng nhận thức về các quy định của pháp luật nói chung còn yếu, ở cấp cơ sở còn rất yếu.