Đặt vấn đề Đất đai là tài sản quốc gia có giá trị lớn, có vị trí đặc biệt, là điều kiện tối thiểu đảm bảo cho quá trình tái sản xuất giúp xã hội không ngừng phát triển. Nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp, nhà máy, các khu đô thị mới, khu dân cư đang được triển khai một cách mạnh mẽ. Vật, để thực hiện các dự án phát triển kinh tế- xã hội Nhà nước phải thu hồi một phần đất của người dân đang sử dụng. Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng là một việc hết sức khó khăn, phức tạp và được xã hội đặc biệt quan tâm.Bởi công tác bồi thường giải phóng mặt bằng liên quan đến một loại tài sản có giá trị rất lớn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các tổ chức, hộ giá đình và cá nhân.
Thực tế, qua nhiều dự án đã cho thấy công tác giải phóng mặt bằng vẫn tồn tại nhiều bất cập. Khó khăn lớn nhất của công tác giải phóng mặt bằng là việc xác định giá bồi thường nhưng giá bồi thường lại luôn thấp hơn so với giá thị trường, do vậy ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người dân, họ luôn cảm thấy mức giá bồi thường là chưa thỏa đáng. Đó cũng là lí do chính khiến cho người dân không tình nguyện chuyển đi, không ủng hộ công tác giải phóng mặt bằng. Cùng với sự phát triển của cả nước nói chung và thành phố Tuyên Quang.
nói riêng trong những năm gần đây đã có nhiều công trình, dự án được triển khai nhằm mục đích đẩy mạnh nền kinh tế của tỉnh, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển chung của cả nước. Để đảm bảo tiến độ thực hiện các dự án trên địa bàn thành phố thì công tác thu hồi, bồi thường và giải phóng mặt bằng phải được thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả. Tuy nhiên, trên thực tế thì công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng cho đơn vị thi công còn chưa kịp thời, làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các dự án trên địa bàn thành phố. c 2 Xuất phát từ những vấn đề trên và nhận thức được tầm quan trọng của công tác giải phóng mặt bằng, được sự đông ý và giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên, cùng với sự giúp đỡ của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tuyên Quang.
Đặc biệt dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo PGS.TS Phan Đình Binh, em tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án cải tạo, nâng cấp Đại Lộ Tân Trào trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang”. Mục tiêu của đề tài 1.1 Mục tiêu tổng quát: - Đánh giá công tác thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng dự án cải tạo, nâng cấp Đại Lộ Tân Trào trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang”. Mục tiêu cụ thể: - Nghiên cứu tổng quan dự án - Nghiên cứu điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội - Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng của dự án cải tạo, nâng cấp Đại lộ Tân Trào giai đoạn 1 – Phường Tân Quang. - Đánh giá ảnh hưởng của công tác mặt bằng đến đời sống của người daantrong khu vực giải phóng mặt bằng.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng và đề xuất phương án giải quyết trong khu vực dự án. Yêu cầu của đề tài - Nắm chắc luật đất đai, các nghị định, thông tư văn bản luật, dưới luật, các quyết định có liên quan đến bồi thường giải phóng mặt bằng. - Điều tra, thu thập kết quả của việc giải phóng mặt bằng từ đó phân tích và nhận xét. - Tài liệu, só liệu đảm bảo chính xác trung thực, khách quan.
c 3 - Đề xuất các giải pháp trên cơ sở các văn bản pháp quy và những bài học kinh nghiệm đã thu được. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Giúp cho người học tập nghiên cứu củng cố lại những kiến thức đã học, biết cách thực hiện một đề tài khoa học và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. - Nắm chắc các quyết định về bồi thường và giải phóng mặt bằng bằng việc áp dụng trực tiếp vào thực tế.
Ý nghĩa thực tiễn - Góp phần đề xuất các giải pháp để thực hiện công tác giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ngày càng có hiệu quả hơn. - Đánh giá được thực trạng sử dụng đất, xác định những tồn tại chủ yếu trong công tác thực hiện giải phóng mặt bằng, nguyên nhân và giải pháp khắc phục cho dự án cải tạo, nâng cấp Đại lộ Tân Trào giai đoạn 1 trên địa bàn phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang trong việc thực hiện bồi thường và giải phóng mặt bằng đạt được hiệu quả cao nhất. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái quát về công tác bồi thường GPMB 2.
Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 2. Bồi thường Khi các công trình được xây dựng nhằm phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia được triển khai thì Nhà nước cần phải có mặt để thực hiện dự án. Thế nhưng đất đai thuộc sở hữu toàn dân, với tư cách là người quản lý, nhằm đảm bảo được lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhân dân, khi đó nhà nước sẽ ra quyết định thu hồi quyền sử dụng đất của người dân hoặc đất được Nhà nước giao quản lý. Theo điều 4, Luật đất đai 2003 “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu hồi quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý”.Việc xây dựng những khu công nghiệp cho mục tiêu phát triển kinh tế, những con đường quốc gia để phục vụ lợi ích chung cá nhân, những nhóm người.
Do đó, khu quyền sử dụng đất của người dân bị thu hồi thì Nhà nước sẽ bồi thường thiệt hại. Vậy, “ Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất”(theo khoản 12, Điều 3, Luật Đất đai sửa đổi 2013). “Bồi thường” là sự đền trả lại tất cả những thiệt hại mà chủ thể gây ra một cách tương xứng, trong quy hoạch xây dựng thiệt hại gây ra có thể là thiệt hại vật chất, thiệt hại phi vật chất. Trong giải phóng mặt bằng, cùng với chính sách hỗ trợ và tái định cư, chính sách bồi thường là một phần quan trọng trong chính sách đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất.
Chính sách này nhằm giúp cho người bị thu hồi đất có thể tái lập, ổn định cuộc sống mới do những thiệt hại gây ra, mặt khác giúp họ giải quyết được những khó khăn khi phải thay đổi nơi ở mới. Hỗ trợ Theo khoản 7 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 thì: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới”. Định nghĩa này tuy có liệt kê các trường hợp hỗ trợ, nhưng không đầy đủ. Hỗ trợ là chính sách “mềm” nên ngoài các trường hợp hỗ trợ vừa nêu, còn có những trường hợp hỗ trợ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh quyết định.
Chính vì vậy, Dự thảo đã rút gọn khái niệm như sau: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất bị thu hồi.” Sự khác nhau căn bản giữa bồi thường và hỗ trợ là: bồi thường là khái niệm xuất phát từ ngành luật dân sự mang tính tương xứng với các nguyên tắc: chủ thể nào gây thiệt hại, chủ thể đó phải bồi thường; thiệt hại đến đâu, bồi thường đến đó. Trong khi đó, khái niệm hỗ trợ (còn gọi là hộ trợ) là “giúp đỡ”, mang tính chính sách, thể hiện việc cộng thêm vào nên không đòi hỏi tính tương xứng như bồi thường. Tuy nhiên, cho đến nay, pháp luật nước ta chưa thật sự “rạch ròi” hai khái niệm này và một số trường hợp mang bản chất “bồi thường” nhưng lại được xác định trong pháp luật là “hỗ trợ”. Ví dụ điển hình là hỗ trợ về giá đất nông nghiệp đối với đất nông nghiệp là đất vườn ao, đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất nông nghiệp tiếp giáp với khu dân cư.
Bản chất là bồi thường về đất, nhưng do pháp luật quy định là giá đất nông nghiệp định theo phương pháp thu nhập từ sản xuất nông nghiệp nên giá đất quá thấp, rồi áp dụng thêm khoản gọi là “hỗ trợ”. Hơn nữa, theo chúng tôi, một khi việc thu hồi đất làm người nông dân mất đất sản xuất, dẫn đến phải chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp thì bản chất là đã gây ra thiệt hại do mất việc làm. Nếu xác định như vậy thì chúng ta nên dùng cụm từ “bồi thường cho người nông dân do mất việc làm” thay vì “hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm” như hiện nay. Điều này sẽ khắc được tình trạng hỗ trợ nghề nghiệp bằng một khoản tiền qua loa, sau đó c 6 không quan tâm đến việc người được chuyển đổi nghề nghiệp có việc làm hay không.
Mặt khác, điều này tạo ra một cách hiểu và thực thi pháp luật rằng, chi phí thiệt hại do mất việc phải được tính toán sòng phẳng, bảo đảm thực sự tái lập và cải thiện chất lượng cuộc sống người dân sau khi quá trình thu hồi đất. Tái định cư Tái định cư được hiểu là quá trình bồi thường, hỗ trợ các thiệt hại về đất đai và tài sản, di chuyển, tái định cư, ổn định và khôi phục cuộc sống cho những người dân bị thu hồi đất để xây dựng các dự án nhằm mục đích phát triển. Tái định cư còn bao gồm hàng loạt các hoạt động nhằm hỗ trợ cho những người bị ảnh hưởng do việc thực hiện dự án gây ra, khôi phục và cải thiện mức sống tạo điều kiện phát triển những cơ sở kinh tế và văn hoá - xã hội của hộ bị thu hồi đất và cộng đồng. Nói tóm lại, tái định cư là nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế, văn hoá xã hội đối với một bộ phận dân cư bị thu hồi đất, đã gánh chịu vì sự phát triển chung.