phần mở đầu và phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có cơ cấu gồm 3 chương: 5 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đánh giá công chức cấp xã Chƣơng 2: Thực trạng công tác đánh giá công chức phường, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đánh giá công chức phường, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Khái lƣợc về công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức cấp xã Khái niệm “công chức” thường được hiểu theo nhiều cách khách nhau ở mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm “công chức” có sự thay đổi nhiều lần.
Sự hình thành khái niệm này gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước. Theo quy định tại Điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về quy chế công chức Việt Nam, “công chức” là: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Sau đó, khái niệm “công chức” bị thay thế bởi khái niệm “cán bộ, công chức, viên chức nhà nước” dẫn đến không có sự phân biệt giữa công chức, cán bộ và viên chức nhà nước. Bước vào thời kỳ đổi mới, trước yêu cầu khách quan phải cải cách nền hành chính nhà nước và chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, khái niệm “công chức” được sử dụng trở lại và quy định tại Nghị định 169/HĐBT ngày 25 tháng 5 năm 1991.
Theo đó, “công chức” là những người phải đáp ứng các điều kiện sau: (1) Là công dân Việt Nam; (2) Được tuyển dụng và làm việc trong biên chế chính thức của nhà nước; 7 (3) Được giao giữ một công vụ thường xuyên trong các công sở của Nhà nước, ở trung ương hay địa phương, ở trong hay ngoài nước; Sau đó, cùng với sự ra đời và có hiệu lực của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, tất cả những người là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước làm việc trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội đều được gọi chung là cán bộ, công chức. Tuy nhiên, phải đến khi Luật cán bộ, công chức được ban hành năm 2008 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 thì khái niệm “công chức” mới được quy định một cách rõ ràng và thống nhất, có phạm vi rộng hơn so với các quy định trước đó về khái niệm “công chức”. Theo đó, “công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định pháp luật”. [23] Khái niệm “công chức” này sau đó đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật cán bộ, công chức, viên chức như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng 8 Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền thấp nhất trong hệ thống chính quyền ở nước ta.
Đây là chính quyền gần dân nhất, có tính tự quản, có tính độc lập cao. Yếu tố quản lý của chính quyền cấp xã rất đặc biệt. Chính quyền cấp xã “bị chi phối mạnh mẽ bởi các mối quan hệ cộng đồng gắn bó chằng chịt, những thói quen, lệ làng… hay nói cách khác bên cạnh việc bị chi phối bởi các thiết chế chính thức còn bị chi phối bởi các thiết chế phi chính thức trong đó có cả những quy định và thiết chế do chính những thành viên trong cộng đồng lập ra vô cùng phong phú, đa dạng".10-16] “Uỷ ban nhân dân cấp xã” là tên gọi chung của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, là cấp thứ 4 trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước. “Công chức cấp xã” là tên gọi chung của công chức xã, phường, thị trấn, đang làm việc trong hệ thống cơ quan cấp xã.
“Công chức cấp xã” không được quy định như là một bộ phận của khái niệm “công chức” nói chung mà được quy định cụ thể và tách bạch tại Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008. Theo đó, “công chức cấp xã” là: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. 9 Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: a) Trưởng Công an; b) Chỉ huy trưởng Quân sự; c) Văn phòng - thống kê; d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); đ) Tài chính - kế toán; e) Tư pháp - hộ tịch; g) Văn hóa - xã hội. Đặc điểm của công chức phƣờng Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính.
Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” [18, tr. Cơ quan hành chính cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống các cơ quan hành chính của nước ta và đây được xem là cấp gần gũi và tiếp xúc với Nhân dân nhiều hơn cả. Với tư cách là cơ quan nhà nước ở địa phương, cấp xã thể hiện vai trò quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương; đồng thời, cũng là cơ quan quản lý việc chấp hành, thực hiện các quyết định, chỉ đạo của Hội đồng nhân dân cấp xã và Uỷ ban nhân dân cấp huyện gắn với các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Thể hiện trên các hoạt động kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng và môi trường xã hội trên địa bàn.
10 Công chức cấp xã là những người giữ các chức danh chủ chốt, quan trọng trên các lĩnh vực, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước tại địa phương. Đội ngũ công chức cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cấp xã cũng như trong kết quả thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Chất lượng quản lý nhà nước của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung đều được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và kết quả công tác của đội ngũ công chức cấp xã. Vì lẽ đó mà đội ngũ này được xem là nhân tố chủ yếu, hàng đầu và "động" nhất của bộ máy chính quyền cấp xã.
Công chức cấp xã có vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng Nhân dân đồng thời trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nhiệm vụ và quyền hạn của công chức cấp xã được quy định cụ thể theo từng chức danh công chức. Mức độ hoàn thành nhiệm vụ là một trong những căn cứ quan trọng nhất được dùng để đánh giá công chức. Nhiệm vụ và quyền hạn của công chức cấp xã được chia là 3 nhóm chính.
Cụ thể: Nhóm thứ nhất, tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân xã trong lĩnh vực do công chức đó phụ trách. Mỗi công chức xã phụ trách các lĩnh vực khác nhau và có trách nhiệm tham mưu đối với các lĩnh vực do mình phụ trách, gồm: An ninh, trật tự, an toàn xã hội; quốc phòng, quân sự (Trưởng công an xã); Quốc phòng, quân sự (Chỉ huy trưởng Quân sự); Văn phòng, thống kê, tổ chức, nhân sự, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc và thanh niên (Văn phòng – thống kê); Đất đai, tài nguyên, môi trường, xây dựng, đô thị, giao thông, nông 11 nghiệp và xây dựng nông thôn mới (Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường); tư pháp và hộ tịch (tư pháp – hộ tịch); Văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, thông tin, truyền thông, lao động, thương binh, xã hội, y tế, giáo dục (Văn hoá – xã hội). Công tác tham mưu giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nhiệm vụ, quyền hạn của công chức xã cũng như trong sự pháp triển của cơ quan, tổ chức. Tham mưu là đưa ra kiến nghị, đề xuất, giải pháp, đưa ra các đề nghị, ý tưởng, sáng tạo dự trên cơ sở khoa học cho thủ trưởng cơ quan, đơn vị nhằm đề ra kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, hằng năm đạt được kết quả cao nhất.
Nhóm thứ hai, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về chức danh được giao và các văn bản liên quan của cơ quan có thẩm quyền. Nhóm thứ ba, thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao.