Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá công chức cấp xã Chương 2: Thực trạng đánh giá công chức cấp xã ở huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá công chức cấp xã của huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Khái quát về công chức cấp xã 1.
Khái niệm công chức, công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức Tại khoản 2 Điều 4 của Luật này quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội”. Trên cơ sở quy định trên của Luật cán bộ, công chức, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ đã quy định những ngƣời là công chức ở cấp xã gồm: Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: a) Trƣởng Công an; b) Chỉ huy trƣởng Quân sự; c) Văn phòng – thống kê; d) Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trƣờng (đối với xã); đ) Tài chính – kế toán; e) Tƣ pháp – hộ tịch; g) Văn hóa – xã hội. Về số lƣợng cán bộ, công chức cấp xã đƣợc bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã; cụ thể nhƣ sau: 7 a) Cấp xã loại 1: Không quá 25 ngƣời; b) Cấp xã loại 2: Không quá 23 ngƣời; b) Cấp xã loại 3: Không quá 21 ngƣời; 1.
Khái niệm công chức cấp xã Khái niệm công chức xã đƣợc quy định tại Khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức 2008 nhƣ sau: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Đặc điểm của công chức cấp xã Nhƣ chúng ta đã thấy, cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị, là cấp có bộ máy đơn giản nhất. Vì vậy, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cũng chịu ảnh hƣởng từ khía cạnh này. Các cán bộ cấp xã hiện nay (trừ 7 chức danh công chức) hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả trong các cuộc bầu cử.
Đặc điểm này vừa mang tính thể chế, vừa mang tính thực tế. Từ thời phong kiến thuộc Pháp, bộ máy làng xã mặc dù về bản chất là một cấp chính quyền, song Nhà nƣớc vẫn cho phép làng xã tự chọn ngƣời thông qua bầu cử. Cùng với việc duy trì lệ làng, làm cho làng xã về mặt hình thức có vẻ là tự quản, song với những ràng buộc bằng pháp luật (phê chuẩn, tƣớc bằng, triện của lý trƣởng.) thì thực chất làng xã không còn tự quản nữa [34]. Một đặc điểm nữa của đội ngũ công chức cấp xã hiện nay so với cán bộ, công chức khác là thiếu tính chuyên nghiệp và ít đƣợc đào tạo nhất, trình độ văn hoá, lý luận chính trị và chuyên môn thấp nhất trong hộ thống chính trị.
Điều này cũng một phần do hệ quả của việc hay thay đổi nhân sự qua bầu cử. Mặt khác, là do hệ quả lịch sử, những ngƣời có học vấn cao thƣờng ít ở lại địa phƣơng công tác, con em địa phƣơng đi học ở các nơi thƣờng lập nghiệp ở nơi khác ít trở về địa phƣơng. Chính quyền cấp trên lại không thể điểu động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt ở cơ sở đƣợc. 8 Trừ 07 chức danh công chức….Tất cả những nguyên nhân đó khiến cho hiện nay chất lƣợng công chức ở cơ sở là thấp so với đội ngũ công chức nói chung.
Đặc điểm thứ ba của công chức cấp xã là đội ngũ này có thu nhập rất thấp. Tuy đội ngũ này đã đƣợc hƣởng lƣơng thay cho chế độ hƣởng sinh hoạt phí trƣớc kia, song thực tế thu nhập của họ vẫn còn rất hạn hẹp. Trong khi đó khối lƣợng công việc lại nhiều. Điều đó làm ảnh hƣởng tới chất lƣợng và hiệu quả hoạt động của công chức cấp xã.
Trong chƣơng trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nƣớc giai đoạn 2001 - 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg (ngày 17/9/2001) thì vấn đề cải cách tiền lƣơng và các chế độ chính sách đãi ngộ đối với công chức là một vấn đề rất quan trọng. Cải cách tiền lƣơng theo quan điểm coi lƣơng là hình thức đầu tƣ trực tiếp cho con ngƣời, đầu tƣ cho phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao chất lƣợng cán bộ, công chức và hoạt động công vụ [28]. Công chức cấp xã hiện nay còn có một đặc điểm nữa đó là trong công việc họ thƣờng bị ảnh hƣởng, tác động của các quan hệ dòng họ, văn hoá ứng xử truyền thống, phong tục tập quán và lối sống riêng của địa phƣơng. Phần lớn đội ngũ này xuất thân từ địa phƣơng, trực tiếp sinh sống và làm việc ngay tại địa phƣơng.
Hàng ngày họ vừa sản xuất, kinh doanh vừa làm việc trong hệ thống chính trị địa phƣơng. Các quan hệ này vừa là thuận lợi, vừa là khó khăn cho công chức cấp xã trong quá trình thực thi công vụ. Công chức cơ sở có thể dễ dàng nắm bắt tâm tƣ, nguyện vọng của nhân dân địa phƣơng để làm việc đáp ứng tâm tƣ nguyện vọng chính đáng đó, dễ dàng thuyết phục nhân dân địa phƣơng thực hiện theo đúng chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc. Tuy nhiên, có một thực tế ở cấp xã đã và hiện chƣa hết tình trạng "chi bộ họ 9 ta".
Tình trạng thành viên cấp uỷ đƣợc phân bố theo dòng họ, theo cánh, theo làng vẫn còn [34]. Với những đặc điểm trên đây của công chức cấp xã hiện nay, đòi hỏi nâng cao hiệu quả hoạt động của công chức cấp xã góp phần vào việc "Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước" [28] 1. Nhiệm vụ của công chức cấp xã Một là, công chức cấp xã là ngƣời trực tiếp tuyên truyền, phổ biến các chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nƣớc đến nhân dân; làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ các chủ trƣơng, chính sách đó, đội ngũ công chức cấp xã càng có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho nhân dân biết và nắm đƣợc các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, trên cơ sở đó sẽ tham gia, đóng góp vào việc thực hiện thắng lợi các chủ trƣơng, chính sách đó. Hai là, công chức cấp xã là ngƣời có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, tăng cƣờng khối đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cƣ: Ba là, công chức cấp xã là ngƣời trực tiếp thực hiện ý trí, nguyện vọng cho quần chúng nhân dân lao động ở cơ sở.
Vì vậy, công chức cấp xã luôn bám sát dân, gần dân, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của nhân dân, trực tiếp giải quyết các yêu cầu, quyền lợi của nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nƣớc với nhân dân, có những cách thức tiến hành công việc phù hợp và đảm bảo cho lợi ích chính đáng của nhân dân. Bốn là, công chức cấp xã là những ngƣời đƣợc hình thành từ cơ sở (ngƣời của địa phƣơng), họ vừa trực tiếp tham gia lao động lao động sản xuất, vừa là ngƣời đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc, giải quyết các công việc của nhà nƣớc. Do đó, xét ở khía cạnh nào đó công 10 chức cấp xã bị chi phối, ảnh hƣởng rất nhiều bởi những phong tục tập quán làng quê, những nét văn hóa bản sắc riêng đặc thù của địa phƣơng, của dòng họ. Các quan hệ này vừa là thuận lợi, vừa là khó khăn cho công chức cấp xã trong quá trình thi hành công vụ.
Công chức cấp xã có thể dễ dàng nắm bắt tâm tƣ, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân địa phƣơng để làm việc đáp ứng nguyện vọng chính đáng đó, dễ dàng thuyết phục nhân dân địa phƣơng thực hiện theo đúng chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, Pháp luật của Nhà nƣớc. Bên cạnh đó chức năng nhiệm vụ cụ thể của công chức cấp xã đƣợc quy định tại Mục 2, Chƣơng I, Thông tƣ số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ Hƣớng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phƣờng, thị trấn công chức cấp xã còn phải trực tiếp thực hiện các công việc sau: * Công chức xã là Trưởng Công an xã Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về công an xã và các văn bản có liên quan của cơ quan có thẩm quyền. * Công chức xã là Chỉ huy trưởng Quân sự Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về dân quân tự vệ, quốc phòng toàn dân, nghĩa vụ quân sự và các văn bản có liên quan của cơ quan có thẩm quyền.