phần mở đầu lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và phần kết luận thì luận văn gồm có ba chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu về tăng trƣởng xanh, các vấn đề phát thải và sinh kế Trong chƣơng này , chúng tôi tìm hiểu các tài liệu , các nghiên cứu đã có về tăng trƣởng xanh, các vấn đề phát thải và sinh kế. Chƣơng 2: Các phƣơng pháp tính toán và xử lý số liệu Trong chƣơng này chúng tôi g iới thiê ̣u các phƣơng pháp tiń h toán ,cách thu thâ ̣p số liê ̣u trong pha ̣m vi nghiên cƣ́u và cách xƣ̉ lý số liê ̣u đã thu thâ ̣p. Chƣơng 3: Tác động của chuyển đổi sinh kế tới tăng trƣởng xanh ở xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Đây là chƣ ơng giới thiê ̣u các kế t quả chiń h của luâ ̣n văn , trong chƣơng này chúng tôi trình bày các kết quả về phát thải khí nhà kính , đồ ng thời đánh giá chuyể n đổ i sinh kế chăn nuôi bò sƣ̃a theo hƣớng tăng trƣởng xanh ở điạ bàn nghiên cƣ́u. Mô ̣t phầ n kế t quả của bài báo đã đƣơ ̣c đăng trong kỷ yế u hô ̣i nghi ̣ : “Tăng trưởng xanh”do Trung Tâm Nghiên Cƣ́u Tài Nguyên và Môi trƣờng , ĐHQGHN 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngày 22/11/2013 tổ chƣ́c dƣới tiêu đề Tìm hiể u vai trò của sinh kế nuôi bò sƣ̃a với giảm thiể u biế n đổ i khí hâ ̣u ta ̣i xã Vân Hoà, huyê ̣n Ba Vi,̀ Hà Nội.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TĂNG TRƢỞNG XANH, CÁC VẤN ĐỀ PHÁT THẢI VÀ SINH KẾ 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1. Các nghiên cứu về tăng trưởng xanh Có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề tăng trƣởng xanh và kinh tế xanh, các nghiên cứu này đã nêu nên những thách thức của nhân loại trong việc đƣơng đầu với các cuộc khủng khoảng đã và đang xảy ra nhƣ cuộc khủng khoảng biến đổi khí hậu. Việc cần thiết thực hiện một chính sách kinh tế phù hợp với thực tế các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày một khan hiếm.
Trong một phần tƣ thế kỷ qua, các nền kinh tế trên thế giới đã tăng gấp bốn lần và đem lại lợi ích to lớn cho hàng trăm triệu ngƣời. Tuy nhiên, 60% hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái phục vụ cho phát triển sinh kế hiện nay đang bị suy thoái hoặc sử dụng thiếu bền vững (UNEP, 2011). Điều này cho thấy sự tăng trƣởng kinh tế của thế giới trong những năm qua chủ yếu dựa vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách thiếu kiểm soát, chƣa chú trọng tới việc phục hồi các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Việc xây dựng các mô hình tăng trƣởng thân thiện với môi trƣờng đang ngày càng trở nên cần thiết.
Thuật ngữ “tăng trưởng xanh” dùng để mô tả con đƣờng tăng trƣởng kinh tế bằng cách sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên theo phƣơng thức bền vững. Nó đƣợc sử dụng trên toàn cầu nhằm cung cấp một khái niệm cho tăng trƣởng kinh tế phù hợp với chuẩn mực. Kinh tế xanh là con đƣờng để phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Tăng trƣởng xanh có thể cung cấp những giải pháp cho bồi dƣỡng và phát triển bền vững, bao gồm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Không kết hợp giảm nhẹ biến đổi khí hậu và vấn đề thích ứng vào chính sách phát triển có khả năng làm suy yếu tăng trƣởng kinh tế trong tƣơng lai, sự cải thiện liên tục của các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) sau năm 2015 và cơ bản đời sống của ngƣời nghèo (ADB, 2009). Tăng trƣởng xanh có xu thế hợp nhất các trụ cột kinh tế và môi trƣờng trong phát triển bền vững 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vào quá trình hoạch định chính sách, với mô hình phát triển kinh tế tăng trƣởng mạnh mẽ và bền vững. Ngân hàng Thế giới năm 2012 lại nêu khái niệm tăng trƣởng xanh là sự tăng trƣởng hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, là sự tăng trƣởng sạch không gây ô nhiễm và là sự tăng trƣởng có sức chống chịu, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu (World Bank, 2012). Nhƣ vậy trong quan hệ với phát triển bền vững, tăng trƣởng xanh giữ hai trụ cột là kinh tế và môi trƣờng.
Trong nghiên cứu: “Từ tăng trƣởng tới tăng trƣởng xanh: Một khuôn khổ” (World Bank, 2011) của Ngân hàng thế giới đã xác định tăng trƣởng xanh là quá trình tăng trƣởng sử dụng hiệu quả về tài nguyên, sạch hơn và có sức chống chịu tốt hơn. Trong nghiên cứu của World bank năm 2012 nêu vai trò của đổi mới công nghệ để sử dụng hiệu quả các nguồn vốn thiên nhiên và con ngƣời. Một nền kinh tế xanh đƣợc đặc trƣng bởi sự tăng trƣởng kinh tế bền vững, có thể duy trì và làm gia tăng các nguồn vốn tự nhiên, “Một nền kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con ngƣời và công bằng xã hội vừa giảm thiểu đáng kể những rủi ro về môi trƣờng và khủng hoảng sinh thái” (UNEP, 2011). Nhìn chung các nghiên cứu trên thế giới đều thống nhất rằng: tăng trƣởng xanh, là một mô hình tăng trƣởng tập trung vào hai trụ cột chính là kinh tế và môi trƣờng.
Biến những hạn chế về mặt con ngƣời và những thảm họa thiên nhiên do các hoạt động của con ngƣời tạo ra thành cơ hội kinh tế, giúp nâng cao tăng trƣởng kinh tế và giảm tác động xấu tới môi trƣờng. Việc sử dụng thông minh nguồn vốn tự nhiên là con đƣờng để hƣớng tới phát triển bền vững. Tăng trƣởng xanh và phát thải cacbon thấp có liên quan chặt chẽ với nhau, là xu hƣớng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, trong đó có Việt Nam. Tăng trƣởng xanh vừa là thách thức, song cũng là cơ hội mở ra cho các quốc gia trong tƣơng lai.
Nhiều sản phẩm mới có có hàm lƣợng chất xám cao, cacbon thấp, thân thiện với môi trƣờng, đƣợc sản xuất đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của con ngƣời, cũng vì thế mà hàng triệu việc làm mới đƣợc tạo ra trên thế giới. Có thể nói rằng tăng trƣởng xanh với lƣợng cacbon thấp đang làm thay đổi phƣơng thức sinh hoạt và tiêu dùng, kéo theo đó là sự thay đổi công 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghệ sản xuất và cả trong lĩnh vực nhận thức về văn hóa, xã hội. Chính bởi vậy mà vấn đề phát thải khí nhà kính đƣợc xã hội hết sức quan tâm, lấy làm cơ sở để xác định chiến lƣợc tăng trƣởng cho các quốc gia. Các nghiên cứu liên quan đế n tính toán phát thải khí nhà kính a.
Tính toán phát thải khí nhà kính từ trồng lúa Sự phát thải khí nhà kính mà cụ thể là khí CH4 từ trồng lúa đƣợc tính toán theo rất nhiều các phƣơng pháp khác nhau ở các quốc gia trên thế giới. Việc sử dụng phƣơng trình để tính toán phát thải khí mê-tan (CH4) đƣợc sử dụng tƣơng đối phổ biến, trong đó phải kể đến IPCC năm 1996 và 2006. IPCC năm 1996 đã tính phát thải mê-tan dựa vào phƣơng trình tính toán nhƣ sau: CH4 – Rice = A x EF x 10-12 (Với A là diện tích trồng lúa, EF là hệ số phát thải) Trong khi đó, IPCC năm 2006 lại sử dụng công thức: CH4 – Rice = ∑i, j, k (EFi, j, k x ti, j, k x Ai, j, k x 10-6) Trong đó : EF là hệ số phát thải, t là thời gian gieo trồng, A là diện tích gieo trồng. Điều này xuất phát từ việc gieo trồng lúa chỉ xảy ra vào một khoảng thời gian nhất định trong năm.
Còn các giá trị i, j, k là điều kiện các hệ sinh thái của các khu vực gieo trồng khác nhau nên việc áp dụng công thức cũng khác nhau cho từng khu vực. Có thể nói cho đến nay việc sử dụng phƣơng trình của IPCC (1996) để tính toán phát thải khí nhà kính vẫn là phƣơng pháp cơ bản đƣợc nhiều quốc gia áp dụng. Theo thố ng kê của IPCC năm 2000 thì đã có ít nhất 108 quố c gia đã sƣ̉ dụng công thức trên để tính toán phát thải CH 4 tƣ̀ lúa (IPCC, 2000), ví dụ ở Trung Quốc, hệ số phát thải EF đƣợc áp dụng cho phƣơng trình này là EF = 22 (kg/mẫu anh) (Wang Xiaoqin and, 2010. Một số quốc gia khác cũng sử dụng phƣơng trình của IPCC để tính toán phát thải CH4, tuy nhiên mỗi quốc gia lại áp dụng với hệ số khác nhau.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hệ số phát thải của một số quốc gia theo IPCC Quố c gia EF và Khoảng EF theo Nguồ n mùa (kg / ha / ngày) Úc 22.5 NGGIC, 1996 Trung Quố c 13 (10 – 22) Wassmann và cộng sự, 1993 Ấn Độ 10 (5 – 15) Mitra và cộng sự, 1996 ; Parashar và cộng sự, 1997 Inđô 18 (5 – 44) Nugroho và cộng sự, 1994 Ý 36 (17 – 54) Schutz và cộng sự, 1989 Nhâ ̣t Bản 15 Minami, 1995 Nam Triề u Tiên 15 Shin và cộng sự, 1995 Philipin (25 – 30) Neue và cộng sự, 1994; Wassmann và cộng sự, 1994 Thái Lan 16 (4 – 40) Towpryaoon và cộng sự, 1994 Mỹ (Bang Texas) 25 (15 – 35) Sass và Fisher, 1995 (Nguồ n: Good Practice Guidance and Uncertainty Management in National Greenhouse Gas Inventories, 2000) Theo nhóm tác giả S. Chang, của Đài Loan (S S Yang and H L Chang, 2001) trong nghiên cứu: “Phát thải khí CH4 từ lúa ở Đài Loan” cho rằng phát thải CH4 cao trong giai đoạn đẻ nhánh và thấp dần trong các giai đoạn sau, ở mùa thu hoạch thứ hai phát thải CH4 cao trong giai đoạn mới cấy và thấp dần trong giai đoạn canh tác lúa tiếp theo. Lƣợng phát thải CH4 hàng năm dao động trong khoảng từ 12,3-49,3 g/m2 với giả định là hệ thống thủy lợi hoạt động liên tục: 61,5 g/m2.
Bên cạnh phƣơng trình tính toán phát thải khí nhà kính của IPCC, thì một phƣơng trình khác cũng đƣợc sử dụng cho tính toán phát thải trong nông nghiệp. Một nghiên cứu về phát thải khí nhà kính từ sản xuất nông 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp và chăn nuôi ở Trung quốc, tác giả Wang Xiaoqin đã sử dụng phƣơng trình sau: Ep = (Ecp + Empx GWPm+ Enpx GWPn) Trong đó Ep, Ecp, Emp, Enp, lần lƣợt là lƣợng phát thải của khí nhà kính: cacbonic, mê-tan và nitơ-đioxit. GWPm, GWPn là tiềm năng giữ ấm toàn cầu của mê tan và nitơ-đioxit. Phƣơng trình này đƣợc tính toán trên mỗi đơn vị sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi.