Tổng quan nghiên cứu
Trong giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2008, Việt Nam đã thực hiện chương trình giảm nghèo ấn tượng khi hạ tỷ lệ đói nghèo từ 58% xuống còn 14,5%, giải thoát bình quân 6.000 người khỏi diện nghèo mỗi ngày theo số liệu từ Ngân hàng Thế giới. Tuy nhiên, tính đến cuối năm 2011, cả nước vẫn còn khoảng 2,58 triệu hộ nghèo (chiếm 11,76% dân số) và 1,53 triệu hộ cận nghèo (chiếm 9,58% dân số). Nhóm đối tượng này thường xuyên gặp thất bại thị trường khi tiếp cận nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại do thiếu tài sản thế chấp và nhu cầu vay vốn manh mún, nhỏ lẻ.
Hoạt động tài chính vi mô được triển khai nhằm cung cấp các dịch vụ tín dụng, tiết kiệm vi mô giúp người nghèo tạo sinh kế bền vững. Dù toàn ngành phục vụ khoảng 11,9 triệu khách hàng với tổng dư nợ trên 7,5 tỷ USD vào năm 2010, thị phần chủ yếu vẫn thuộc về Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Khối các tổ chức tài chính vi mô bán chính thức chỉ chiếm vỏn vẹn 5% lượng khách hàng và 1% tổng dư nợ.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tế sau gần 7 năm thi hành Nghị định 28/2005/NĐ-CP và Nghị định 165/2007/NĐ-CP, toàn quốc mới chỉ có 2 tổ chức đăng ký cấp phép chuyển đổi thành công. Mục tiêu của luận văn là phân tích những rào cản thể chế, cấu trúc sở hữu, trần lãi suất, giới hạn huy động vốn và nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp giai đoạn 2005 - 2012 tại Việt Nam. Nghiên cứu mang ý nghĩa sâu sắc trong việc cung cấp cơ sở khoa học để tái định hình chính sách, hướng tới mục tiêu hoàn thiện khung pháp lý cho tài chính vi mô đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết kinh tế thể chế của học giả Daron Acemoglu, khẳng định chất lượng thể chế và môi trường luật pháp là nguyên nhân cơ bản quyết định sự tăng trưởng kinh tế dài hạn. Bên cạnh đó, luận văn kết hợp lý thuyết chi phí giao dịch của Ronald Coase để chứng minh rằng một khung khổ pháp lý thiếu minh bạch, bất định sẽ làm gia tăng chi phí tuân thủ, buộc các tổ chức lựa chọn duy trì hình thức phi chính thức thay vì chính thức hóa hoạt động.
Khung phân tích tích hợp các khái niệm cốt lõi: thất bại thị trường tín dụng, cơ chế sàng lọc qua nhóm tự quản, tính bền vững tài chính và thương mại hóa tài chính vi mô. Luận văn còn tham chiếu mô hình thực tiễn từ 3 định chế quốc tế tiêu biểu: Ngân hàng Grameen tại Bangladesh với 8,349 triệu người vay và tỷ lệ sở hữu 90% của người nghèo; Ngân hàng Rakyat Indonesia với tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đạt 34,89% và quy mô vốn hóa 17,799 tỷ USD; cùng Ngân hàng CARD tại Philippines chuyển đổi thành công từ tổ chức phi chính phủ sang định chế tài chính chính thức với tỷ lệ thu hồi nợ đạt 99,18%.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích mô tả, phương pháp quy nạp và phân tích so sánh chi phí - lợi ích dựa trên khung tiêu chí đánh giá tác động quy định RIA của OECD. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích mô tả kết hợp khung RIA nhằm đo lường chính xác khoảng cách giữa mục tiêu quản lý nhà nước và hành vi thực tế của các đơn vị thực hành tài chính vi mô.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong mốc thời gian từ năm 2005 đến tháng 3/2012 từ các báo cáo chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á và Quỹ trợ vốn CEP với quy mô vốn chủ sở hữu 293,3 tỷ đồng. Về dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu với cỡ mẫu gồm 6 nhà quản lý và chuyên gia đầu ngành theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích. Cỡ mẫu phỏng vấn tập trung vào lãnh đạo các quỹ xã hội tiêu biểu tại Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bà Rịa - Vũng Tàu và Tiền Giang, đảm bảo thu thập các đánh giá chuyên sâu, khách quan về rào cản chuyển đổi.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, điều kiện thành lập và vốn pháp định tạo ra rào cản gia nhập thị trường nghiêm trọng. Quy định mức vốn pháp định 5 tỷ đồng khiến ít nhất 9 trên tổng số 18 tổ chức tài chính vi mô khảo sát năm 2009 (chiếm tỷ lệ 50%) không đủ điều kiện tài chính để đăng ký cấp phép chính thức. Hơn nữa, luật chỉ cho phép các tổ chức chính trị - xã hội lập định chế tài chính vi mô, làm triệt tiêu động lực gia nhập độc lập của khu vực tư nhân và ngân hàng thương mại.
Thứ hai, cấu trúc quản trị công ty trách nhiệm hữu hạn bị áp đặt cứng nhắc khi bắt buộc phải có cả Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, dẫn đến bộ máy cồng kềnh. Với định mức trung bình 1 nhân viên tín dụng quản lý 2,273 tỷ đồng dư nợ, một tổ chức có vốn 5 tỷ đồng chỉ cần 2 cán bộ tín dụng nhưng phải duy trì tối thiểu 7 vị trí quản lý và kiểm soát, tạo ra tỷ lệ bất hợp lý 1 nhân sự thừa hành trên 4 nhân sự quản trị.
Thứ ba, sự xung đột gay gắt giữa trần lãi suất dân sự và bài toán tự trang trải chi phí. Quy định trần lãi suất cho vay 150% lãi suất cơ bản (tương đương mức trần 13,5%/năm khi lãi suất cơ bản là 9%/năm) thấp hơn cả lãi suất huy động tiền gửi ngân hàng 14%/năm. Trong thực tế, các khoản vay nhỏ lẻ đòi hỏi chi phí vận hành lớn, khiến Quỹ CEP phải áp dụng mức lãi suất tính theo dư nợ giảm dần tương đương 23,46%/năm đến 27,49%/năm, và các đơn vị khác dao động quanh mức 33,36%/năm để đảm bảo an toàn tài chính.
Thứ tư, chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp thiếu khuyến khích và quy định huy động vốn bất cập. Mức thuế suất áp cho tổ chức tài chính vi mô giai đoạn 2005 - 2008 là 28%, giai đoạn 2009 - 2012 là 25%, và từ tháng 3/2012 là 20%, cao hơn nhiều so với việc duy trì quỹ xã hội phi lợi nhuận vốn được miễn thuế 100%. Đồng thời, quy định khống chế trần tiền gửi tiết kiệm dưới 50% vốn tự có đi ngược lại thực tế, khi tỷ lệ tiền gửi trên vốn chủ sở hữu của Quỹ CEP năm 2010 và 2011 lần lượt đạt 110,7% và 123,8%.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện phản ánh sự bất cân xứng giữa chi phí và lợi ích của việc chính thức hóa. Khi chuyển đổi, tổ chức mất đi quyền miễn thuế, gánh chịu chi phí vận hành bộ máy phình to và bị giới hạn huy động vốn, trong khi quyền lợi nhận lại chưa rõ ràng. Dữ liệu này hoàn toàn có thể biểu diễn trực quan qua bảng đối sánh thuế suất 20% - 28% và biểu đồ đường thể hiện tỷ lệ thâm nhập thị trường chỉ đạt 2 tổ chức được cấp phép sau 7 năm. Kết quả nghiên cứu đồng thuận với cảnh báo của các chuyên gia quốc tế về hiện tượng áp chế tài chính, làm suy giảm nguồn cung tín dụng vi mô chính thức và đẩy người nghèo vào vòng xoáy của tín dụng đen với lãi suất cao.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, mở rộng chủ thể thành lập và đa dạng hóa mô hình tổ chức. Ngân hàng Nhà nước cần cho phép các ngân hàng thương mại, doanh nghiệp và cá nhân có đủ nguồn lực tài chính được trực tiếp thành lập tổ chức tài chính vi mô độc lập. Đồng thời, luật hóa mô hình doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận hoạt động song song với mô hình thương mại, đặt mục tiêu thu hút ít nhất 15 đến 20 tổ chức phi chính phủ chuyển đổi chính thức trước năm 2020.
Thứ hai, tinh giản cơ cấu quản trị nội bộ theo hướng linh hoạt. Cơ quan quản trị cần trao quyền tự chủ cho chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn trong việc thiết lập Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, bãi bỏ quy định bắt buộc thành lập Hội đồng quản trị cho các đơn vị quy mô nhỏ. Mục tiêu cắt giảm 30% chi phí hành chính và rút ngắn thời gian xử lý cấp phép xuống dưới 6 tháng do Ngân hàng Nhà nước chủ trì thực hiện.
Thứ ba, tự do hóa cơ chế lãi suất cho vay và dỡ bỏ hạn mức huy động tiết kiệm. Bộ Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận cho toàn bộ hoạt động tài chính vi mô chính thức, xóa bỏ trần 150% lãi suất cơ bản nhằm phản ánh đúng chi phí rủi ro và chi phí vận hành thực tế. Đồng thời, bãi bỏ trần khống chế tiền gửi 50% vốn tự có, cho phép các đơn vị huy động tối đa theo năng lực an toàn vốn trong lộ trình từ 1 đến 3 năm.
Thứ tư, áp dụng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp vượt trội. Bộ Tài chính cần ban hành quy định miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp cho các tổ chức tài chính vi mô phi lợi nhuận phục vụ người nghèo và áp dụng mức thuế suất ưu đãi 10% trong vòng 15 năm cho các tổ chức tài chính vi mô thương mại, triển khai ngay trong giai đoạn 2013 - 2015.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý tiền tệ: Cán bộ tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính có thể sử dụng các luận cứ thực tiễn để soạn thảo thông tư hướng dẫn thi hành Luật các tổ chức tín dụng, xây dựng chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện.
Lãnh đạo các tổ chức phi chính phủ và quỹ xã hội: Ban điều hành các chương trình tín dụng vi mô như Quỹ CEP, Quỹ TYM tìm thấy lộ trình quản trị rủi ro, phân tích chi phí thuế và mô hình chuyển đổi phù hợp với nguồn lực nội tại.
Chuyên gia nghiên cứu và giảng viên kinh tế: Giảng viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Chính sách công, Tài chính - Ngân hàng có thêm nguồn tài liệu tham khảo giá trị về kinh tế thể chế, phương pháp đánh giá tác động quy định và các mô hình tài chính vi mô quốc tế.
Các tổ chức tài chính vi mô quốc tế và nhà đầu tư tác động: Các định chế phát triển như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á có cơ sở dữ liệu thực địa để đánh giá môi trường pháp lý Việt Nam, từ đó thiết kế các chương trình tài trợ vốn kỹ thuật hiệu quả.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao sau gần 7 năm thi hành Nghị định 28/2005/NĐ-CP chỉ có 2 tổ chức chuyển đổi thành công?
Nguyên nhân do rào cản pháp lý quá cao về vốn pháp định 5 tỷ đồng, quy định trần huy động vốn 50% vốn chủ sở hữu, cấu trúc quản trị cồng kềnh và gánh nặng thuế thu nhập doanh nghiệp lên tới 25% làm triệt tiêu động lực chuyển đổi của các tổ chức thực hành.
Mô hình Ngân hàng Grameen tại Bangladesh mang lại bài học gì cho Việt Nam?
Bài học quan trọng nhất là duy trì mô hình ngân hàng phi lợi nhuận hướng tới người nghèo, kết hợp cho vay nhóm tự quản và được chính phủ miễn thuế hoàn toàn trong suốt quá trình hoạt động, giúp tổ chức tự chủ tài chính và phủ rộng 97% số làng tại Bangladesh.
Vì sao không nên áp trần lãi suất 150% theo Bộ luật Dân sự cho tài chính vi mô?
Khoản vay tài chính vi mô mang tính bán lẻ, quy mô siêu nhỏ nên chi phí quản lý trên mỗi đồng vốn rất cao. Trần lãi suất 13,5%/năm khiến các tổ chức bị lỗ nặng khi chi phí vốn và vận hành thực tế tại các đơn vị như Quỹ CEP đòi hỏi mức lãi suất từ 23% đến 27%/năm.
Tỷ lệ tiền gửi trên vốn tự có của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam diễn biến ra sao?
Trong thực tế, tỷ lệ huy động tiền gửi của các tổ chức hoạt động hiệu quả thường vượt 100% vốn chủ sở hữu, điển hình như Quỹ CEP đạt mức 110,7% năm 2010 và 123,8% năm 2011, cho thấy việc khống chế trần 50% là hoàn toàn phi thực tế.
Chính sách thuế nên điều chỉnh như thế nào để khuyến khích ngành tài chính vi mô phát triển?
Nhà nước cần phân tách rõ hai phân khúc: miễn hoàn toàn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các tổ chức hoạt động phi lợi nhuận phục vụ người nghèo và áp dụng thuế suất ưu đãi 10% cho các tổ chức tài chính vi mô thương mại để kích thích nguồn vốn đầu tư xã hội.
Kết luận
- Luận văn chỉ rõ các điểm nghẽn thể chế nghiêm trọng tại Nghị định 28/2005/NĐ-CP và Nghị định 165/2007/NĐ-CP khiến chỉ có 2 tổ chức đăng ký cấp phép sau 7 năm triển khai.
- Khẳng định tính tất yếu của việc mở rộng đối tượng thành lập sang khu vực tư nhân và ngân hàng thương mại nhằm gia tăng nguồn cung vốn an toàn cho hơn 4,11 triệu hộ nghèo và cận nghèo.
- Đóng góp hệ thống giải pháp toàn diện về dỡ bỏ trần lãi suất cứng nhắc, bãi bỏ hạn mức huy động tiết kiệm 50% và tinh gọn bộ máy quản trị công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Đề xuất chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có phân loại nhằm bảo vệ sứ mệnh xã hội của các tổ chức phi lợi nhuận và thu hút vốn thương mại.
- Hoàn thiện khung khổ pháp trị đồng bộ trước năm 2020 chính là chìa khóa then chốt để tài chính vi mô trở thành trụ cột an sinh xã hội vững chắc; các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý cần phối hợp hành động ngay hôm nay để tháo gỡ các rào cản thể chế này.