Chương 1 đã trình bày trên, Chương 2 nêu rõ khái niệm, đặc trưng và một số quan điểm tiêu biểu về vai trò của TCVM; khung phân tích và phương pháp nghiên cứu; đồng thời nêu một số kinh nghiệm và cách thức tiếp cận TCVM của các nước thông qua một số mô hình tổ chức TCVM thành công trên thế giới, đồng thời nêu các nguồn tài liệu tham khảo của nghiên cứu. Chương 3 phân tích và đánh giá một số nội dung chọn lọc của các chính sách hiện hành về TCVM, minh họa và dẫn chứng bằng các phản ứng của CEP trong bối cảnh chính sách đó. Tác giả mô tả các tiêu chí đánh giá và phương pháp đánh giá chính sách, trên cơ sở đó để phân tích đánh giá một số khía cạnh quan trọng của các chính sách về tổ chức và hoạt động của các TC TCVM: địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức và sở hữu; lãi suất, chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và ưu đãi về thuế; tác động của các chính sách đối với khả năng tiếp cận người nghèo của các TC TCVM; Tác động của các chính sách đối với động cơ chuyển đổi của các tổ chức có hoạt động TCVM thuộc diện khuyến khích chuyển đổi thành TC TCVM chính thức, các chính sách đó tác động như thế nào đến sự phát triển của các TC TCVM. Đồng thời minh họa cho các phân tích lập luận bằng những hành động, phản ứng của CEP để thích ứng với các chính sách đó.
Chương 4 gợi ý những điều chỉnh chính sách cần thiết nhằm thúc đẩy sự phát triển của hoạt động TCVM dựa trên những phân tích, lập luận trong các chương trước và đúc kết lại nội dung nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: KHUNG KHÁI NIỆM, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU 2.1 Khái niệm, đặc trưng của tài chính vi mô và tổ chức tài chính vi mô TCVM bao gồm các dịch vụ nhỏ: tín dụng, tiết kiệm, thanh toán, bảo hiểm, phục vụ các cá nhân, hộ gia đình nghèo và các doanh nghiệp siêu nhỏ mà không cần tài sản thế chấp. Tập trung vào nhóm khách hàng rủi ro nhưng TCVM vẫn có thể tồn tại và phát triển lớn mạnh trên khắp thế giới nhờ vào các phương pháp đặc thù bảo cho tỉ lệ hoàn trả nợ vay cao và cơ chế sàng lọc khách hàng hiệu quả, bao gồm: cơ chế cho vay theo nhóm để người vay cùng giám sát và hỗ trợ lẫn nhau, lịch trình hoàn trả nợ vay thường xuyên và cơ chế tiết kiệm bắt buộc, thay thế biện pháp đảm bảo bằng tài sản6. Đây là những yếu tố quan trọng đảm bảo khả năng thu hồi vốn, sự an toàn và bền vững về tài chính của hoạt động này.
Đặc trưng của TCVM ở Việt Nam thể hiện trên ba giác độ: nhóm khách hàng mục tiêu gồm cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ; quy mô khoản vay và tiền gửi tương đối nhỏ; sử dụng cơ chế cho vay và thu hồi theo nhóm những người tương tự nhau, nhằm đảm bảo tỉ lệ hoàn trả nợ cao7. Theo NĐ 28, TCVM là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp hoặc nghèo và Tổ chức TCVM là một trong các loại hình tổ chức tín dụng, thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ8. Như vậy, TC TCVM theo pháp luật Việt Nam hiện hành là tổ chức tín dụng, loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, nhằm cung cấp các dịch vụ TCVM, bao gồm: tín dụng vi mô, nhận tiết kiệm bắt buộc, tiền gửi tự nguyện và thực hiện một số dịch vụ thanh toán cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp9. TC TCVM không bao gồm quỹ TDND.
7 Đào Văn Hùng (2005, tr. 8 Quốc Hội (2010), Luật các TCTD số:47/2010/QH12 ngày 16/6/2010, Điều 4, Khoản 5. 9 Chính phủ (2007), Nghị định số 165/2007/NĐ-CP ngày 15/11/2007, Điều 1, Khoản 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Hoạt động TCVM ở Việt Nam cung cấp tín dụng cho khoảng 11.9 triệu người, với dư nợ cho vay khoảng trên 7.
Nhưng các TC TCVM chỉ giữ vai trò rất khiêm tốn: “ít về số lượng, nhỏ về quy mô và giữ vai trò không đáng kể trên mọi phương diện”10 trong hoạt động này. Bảng thống kê số liệu sau đây sẽ minh chứng rõ điều đó: Bảng 2.1 Các khu vực TCVM Việt Nam (Viet Nam’s Microfinance Sector Profile) Số lượng Dư nợ Tổ chức khách hàng Nguồn (triệu USD) (triệu) NH CSXH 6,8 3.000 Báo cáo năm 2008 của NH CSXH Báo cáo tại thời điểm 31/10/2009 của NH NN&PTNT 3,2 3.500 NH NN&PTNT Hệ thống Quỹ Báo cáo năm 2008 của Quỹ TDND 1,3 1.000 TDND Trung ương Số liệu cuối năm 2008. Bản tin TCVM Việt Nam số 13, 6/2009. TC TC TCVM/NGO 0,6 75 TCVM/NGO là các TC TCVM bán chính thức (không đăng ký như một tổ chức tài chính) Tổng 11,9 7.575 Nguồn: Lấy từ ADB (2010), Bảng 1, trang 2.
Như vậy, hoạt động TCVM được thực hiện chủ yếu bởi các chủ thể: NH CSXH, NH NN&PTNT và Hệ thống Quỹ TDND. Các tổ chức có hoạt động TCVM khác, bao gồm các quỹ XH, các NGO, các chương trình, dự án của các TC CT-XH chỉ chiếm 5% số lượng khách hàng TCVM và 1% dư nợ TCVM. Đặc biệt, dù NĐ 28 về tổ chức và hoạt động của các TC TCVM đã ra đời 5 năm (tính từ 2005 đến 2009) nhưng vẫn chưa có một TC TCVM chính thức nào ra đời trên cơ sở chuyển đổi từ các tổ chức có hoạt động TCVM này. Các quỹ XH, các chương trình, dự án TCVM vẫn có thể hoạt động theo cách họ muốn mà không cần phải chuyển đổi thành TC TCVM.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Mục tiêu phát triển hệ thống các TC TCVM đã được Thủ tướng Chính phủ xác định: “Xây dựng và phát triển hệ thống TC TCVM an toàn, bền vững, hướng tới phục vụ người nghèo, người có thu nhập thấp, các doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững”11. Nhưng với quy mô như hiện nay, nếu không có các chính sách phù hợp, mục tiêu trên sẽ khó đạt được. Các TC TCVM vẫn chỉ giữ vai phụ mờ nhạt trong hoạt động TCVM, cho dù họ là những nhà cung cấp luôn tập trung phục vụ những người nghèo và rất nghèo (Phụ lục 11).2 Phương pháp nghiên cứu và khung phân tích 2.1 Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp phân tích mô tả để đánh giá tác động của NĐ 28, NĐ 165 và các Thông tư hướng dẫn thực hiện các nghị định này đến các tổ chức có hoạt động TCVM. Dựa trên các bằng chứng thực tiễn kết hợp với phương pháp suy luận để nhận định mức độ phù hợp của các chính sách đối với thực tiễn hoạt động TCVM và sự khác biệt giữa hành vi phản ứng của các tổ chức có hoạt động TCVM với mục tiêu đặt ra của chính sách.
Trên cơ sở đó đề xuất điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn, khuyến khích các tổ chức này phát triển, đảm bảo nguồn cung các dịch vụ TCVM cho người nghèo. Để tránh chủ quan trong các lập luận, nhận định, tác giả phỏng vấn đại điện một số tổ chức có hoạt động TCVM để tìm hiểu tác động của các chính sách đến hoạt động của họ (phụ lục 13 đến phụ lục 18).2 Khung phân tích Luận văn sử dụng khung phân tích thể chế kết hợp với lý thuyết về chi phí giao dịch để tìm hiểu, đánh giá các chi phí và lợi ích phát sinh từ việc tuân thủ các chính sách về tổ chức và hoạt động của các TC TCVM đối với các chủ thể bị tác động (các TC TCVM hoặc tổ chức có hoạt động TCVM). Trên cơ sở đó, luận văn chứng minh: nếu không có sự tương xứng giữa lợi ích có thể đạt được và chi phí phải gánh chịu, hoặc lợi ích đó có thể không đạt được như kỳ vọng, các chủ thể sẽ không tuân thủ các quy định đã đặt ra hoặc chọn lựa cách thức hành xử ít 11 Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số: 2195/QĐ-TTg ngày 06/12/2011 về việc phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển Hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến 2020, Điều 1, Khoản 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 ảnh hưởng đến lợi ích của mình.
Như vậy, hành động của các chủ thể sẽ khác với mục tiêu đặt ra của chính sách và hiệu quả của chính sách không đạt được như kỳ vọng.3 Các tiêu chí đánh giá Để đánh giá tác động của các chính sách hiện hành đến hành vi của các tổ chức có hoạt động TCVM, tác giả sử dụng một số tiêu chí phù hợp trong bộ tiêu chí đánh giá tác động của quy định: RIA (Regulatory Impact Analysis) của OECD12, đồng thời vận dụng kiến thức, lý luận về TCVM để phân tích đánh giá chính sách. Theo RIA, các tiêu chí để xem xét, đánh giá văn bản pháp luật gồm: (1) Phục vụ các mục tiêu chính xác, rõ ràng đã ấn định trước; (2) Có cơ sở pháp luật, thực tiễn chắc chắn; (3) Mang lại lợi ích nhiều hơn là chi phí, có tính tới tác động phân bổ trên toàn xã hội, các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường; (4) Giảm thiểu chi phí và tác động lệch lạc tới thị trường; (5) Khuyến khích cạnh tranh, thông qua khuyến khích thị trường và các phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở mục tiêu đã định; (6) Rõ ràng, đơn giản, thiết thực đối với người sử dụng; (7) Phù hợp, tương thích với các chính sách, pháp luật khác; (8) Tương thích ở mức độ tối đa đối với các nguyên tắc về khuyến khích cạnh tranh, thương mại trong pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế. Mặc dù có thể vận dụng tất cả các tiêu chí trên để đánh giá chính sách về TCVM, tuy nhiên, trên cơ sở mục tiêu của đề tài và câu hỏi nghiên cứu, tác giả tập trung phân tích khía cạnh lợi ích, chi phí đã tác động đến động cơ chuyển đổi thành TC TCVM của các chủ thể đang thực hiện hoạt động này cũng như động cơ của các chủ thể có khả năng gia nhập ngành khác. Việc phân tích cơ sở pháp luật và thực tiễn của các chính sách TCVM cũng rất cần thiết để lý giải tính phù hợp của chúng đối với thực tiễn hoạt động TCVM hiện nay và sự tương thích, đồng 12 Rodrigo và Amo (2007).