Khóa luận tốt nghiệp đề tài đánh giá đặc điểm lưu lượng dòng chảy chất lượng nước sông bùi đoạn chảy từ lương sơn hòa bình tới xuân mai hà nội

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp đề tài đánh giá đặc điểm lưu lượng dòng chảy chất lượng nước sông bùi đoạn chảy từ lương, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Trường đại học

Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

99
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá chất lượng nước sông Bùi từ Hòa Bình đến Hà Nội

Đánh giá chất lượng nước sông Bùi là một vấn đề quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Sông Bùi, với chiều dài 91 km, chảy qua các tỉnh Hòa Bình và Hà Nội, cung cấp nguồn nước cho nhiều hoạt động sinh hoạt và sản xuất. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm nước đang ngày càng gia tăng do các hoạt động phát triển kinh tế và sinh hoạt của người dân. Việc đánh giá chất lượng nước sông Bùi không chỉ giúp xác định mức độ ô nhiễm mà còn đưa ra các giải pháp quản lý hiệu quả.

1.1. Tình trạng ô nhiễm nước sông Bùi hiện nay

Sông Bùi đang phải đối mặt với nhiều vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng. Các nguồn ô nhiễm chủ yếu đến từ nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và hoạt động nông nghiệp. Theo thống kê, nhiều đoạn sông Bùi đã vượt quá tiêu chuẩn chất lượng nước cho phép, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái.

1.2. Tầm quan trọng của việc đánh giá chất lượng nước

Đánh giá chất lượng nước sông Bùi giúp xác định các chỉ số ô nhiễm và đưa ra các biện pháp khắc phục kịp thời. Việc này không chỉ bảo vệ sức khỏe người dân mà còn bảo vệ nguồn tài nguyên nước cho các thế hệ tương lai.

II. Các vấn đề và thách thức trong quản lý chất lượng nước sông Bùi

Quản lý chất lượng nước sông Bùi gặp nhiều thách thức do sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế. Các hoạt động sản xuất nông nghiệp và công nghiệp không được kiểm soát chặt chẽ đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Hơn nữa, việc thiếu các biện pháp xử lý nước thải hiệu quả cũng là một nguyên nhân chính gây ô nhiễm.

2.1. Nguyên nhân chính gây ô nhiễm nước sông Bùi

Ô nhiễm nước sông Bùi chủ yếu do nước thải sinh hoạt và công nghiệp không qua xử lý. Các chất thải này chứa nhiều hóa chất độc hại, ảnh hưởng đến chất lượng nước và sức khỏe người dân.

2.2. Hệ thống quản lý nước hiện tại

Hệ thống quản lý nước hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường. Thiếu các quy định chặt chẽ và biện pháp xử lý nước thải hiệu quả đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm ngày càng gia tăng.

III. Phương pháp đánh giá chất lượng nước sông Bùi hiệu quả

Để đánh giá chất lượng nước sông Bùi, cần áp dụng các phương pháp khoa học và công nghệ hiện đại. Việc sử dụng chỉ số chất lượng nước (WQI) và các phương pháp phân tích mẫu nước sẽ giúp xác định chính xác mức độ ô nhiễm.

3.1. Sử dụng chỉ số WQI trong đánh giá

Chỉ số WQI là một công cụ hữu ích để đánh giá chất lượng nước. Nó giúp tổng hợp các thông số chất lượng nước thành một chỉ số duy nhất, dễ hiểu và dễ so sánh.

3.2. Phân tích mẫu nước tại các vị trí khác nhau

Việc phân tích mẫu nước tại các vị trí khác nhau trên sông Bùi sẽ cung cấp thông tin chi tiết về mức độ ô nhiễm. Các thông số như pH, DO, BOD, COD cần được kiểm tra định kỳ để theo dõi sự biến động chất lượng nước.

IV. Kết quả nghiên cứu về chất lượng nước sông Bùi

Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng nước sông Bùi đang ở mức báo động. Nhiều thông số vượt quá tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt là các chỉ số liên quan đến ô nhiễm hữu cơ và vi sinh vật. Điều này đòi hỏi các biện pháp khắc phục kịp thời.

4.1. Đánh giá các thông số chất lượng nước

Các thông số như độ đục, nồng độ oxy hòa tan và các chất ô nhiễm khác đã được phân tích. Kết quả cho thấy nhiều vị trí trên sông Bùi có chất lượng nước kém, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất của người dân.

4.2. Ảnh hưởng của ô nhiễm đến sức khỏe cộng đồng

Ô nhiễm nước sông Bùi không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn gây ra nhiều vấn đề sức khỏe cho người dân. Các bệnh liên quan đến nước ô nhiễm đang gia tăng, cần có các biện pháp can thiệp kịp thời.

V. Giải pháp cải thiện chất lượng nước sông Bùi

Để cải thiện chất lượng nước sông Bùi, cần thực hiện các giải pháp đồng bộ từ quản lý nguồn nước đến xử lý nước thải. Việc nâng cao nhận thức cộng đồng và áp dụng công nghệ mới trong xử lý nước là rất cần thiết.

5.1. Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ nguồn nước

Giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước sẽ giúp giảm thiểu ô nhiễm. Các chương trình tuyên truyền cần được triển khai rộng rãi.

5.2. Ứng dụng công nghệ xử lý nước hiện đại

Áp dụng công nghệ xử lý nước tiên tiến sẽ giúp giảm thiểu ô nhiễm. Các nhà máy xử lý nước cần được đầu tư và nâng cấp để đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai cho sông Bùi

Kết luận cho thấy việc đánh giá chất lượng nước sông Bùi là cần thiết và cấp bách. Các biện pháp cải thiện chất lượng nước cần được thực hiện ngay để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường. Tương lai của sông Bùi phụ thuộc vào sự chung tay của cả cộng đồng.

6.1. Tầm quan trọng của việc duy trì chất lượng nước

Duy trì chất lượng nước sông Bùi không chỉ bảo vệ sức khỏe người dân mà còn bảo vệ hệ sinh thái. Cần có các chính sách và biện pháp cụ thể để đảm bảo nguồn nước sạch.

6.2. Triển vọng phát triển bền vững cho sông Bùi

Triển vọng phát triển bền vững cho sông Bùi cần được xây dựng dựa trên sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng. Các giải pháp quản lý hiệu quả sẽ giúp cải thiện chất lượng nước và bảo vệ môi trường.

27/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp đề tài đánh giá đặc điểm lưu lượng dòng chảy chất lượng nước sông bùi đoạn chảy từ lương sơn hòa bình tới xuân mai hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hệ thống nƣớc mặt Việt Nam có hơn 2.360 con sông, suối dài hơn 10km và hàng nghìn hồ, ao [Bảo Anh,2016]. Nguồn nƣớc này là nơi cƣ trú và nguồn sống của các loài động, thực vật và hàng triệu ngƣời. Ngày nay, sông ngòi phục vụ và cung cấp nguồn tài nguyên nƣớc quý giá cho các hoạt động đời sống sinh hoạt của ngƣời dân và sản xuất, canh tác nông, lâm nghiệp, thủy điện, giao thông,…. Tuy nhiên, do hoạt động phát triển kinh tế cùng với hàng loạt các nhà máy xí nghiệp hoạt động dẫn đến một lƣợng chất thải lớn đƣợc thải ra sông mà chƣa có biện pháp tiền xử lý dẫn đến chất lƣợng nƣớc sông vẫn chƣa đƣợc đảm bảo, gây ảnh hƣởng đến chất lƣợng nông sản và cuộc sống ngƣời dân.

Những nguồn nƣớc này đang bị suy thoái và phá hủy nghiêm trọng do khai thác quá mức và bị ô nhiễm với mức độ khác nhau. Thậm chí nhiều con sông, đoạn sông, ao, hồ đang “chết”. Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trƣờng, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng cho biết, chất lƣợng nƣớc tại các con sông đang diễn biến phức tạp, bị suy thoái nhiều nơi, nhất là tại các đoạn sông chảy qua đô thị, khu công nghiệp, làng nghề. 3 lƣu vực sông có vấn đề nổi cộm nhất về tình trạng ô nhiễm môi trƣờng nƣớc gồm Sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy, sông Đồng Nai, nếu không có biện pháp xử lý ô nhiễm kịp thời thì trong tƣơng lai, nguồn nƣớc các con sông này không thể sử dụng trong sản xuất và sinh hoạt.

Thống kê, đánh giá của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 9.000 ngƣời tử vong vì nguồn nƣớc và điều kiện vệ sinh kém.000 trƣờng hợp mắc bệnh ung thƣ mới phát hiện, mà một trong những nguyên nhân chính là sử dụng nguồn nƣớc ô nhiễm.[Bảo Anh, 2016] Sông Bùi là một con sông đổ ra Sông Đáy. Sông có chiều dài 91 km và diện tích lƣu vực là 1. Sông Bùi bắt nguồn từ xã Lâm Sơn, huyện Lƣơng Sơn, Hòa Bình chảy qua các tỉnh Hà Nội, Hoà Bình và cùng với sông 1 Tích hợp lƣu vào sông Đáy tại xã Phúc Lâm, huyện Chƣơng Mỹ, Hà Nội. Hiện nay ngoài việc bị ảnh hƣởng bởi chất thải của các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp,.các trận sạt lở, lũ lụt mà các hoạt động sinh hoạt và sản xuất của các hộ dân xung quanh cũng tác động đến chất lƣợng nƣớc sông.

Trong khi đó sông Bùi vẫn là nguồn nƣớc chính trong việc phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, thủy sản của ngƣời dân. Theo UBND huyện Chƣơng Mỹ, đến thời điểm này, chƣa có đánh giá của cơ quan chức năng hay báo cáo nào về ô nhiễm nguồn nƣớc ở sông Bùi. Chính vì vậy, việc xem xét, đánh giá chất lƣợng nƣớc sông Bùi, xác định các nguồn ô nhiễm là cần thiết. Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: " Đánh giá đặc điểm lưu lượng dòng chảy và chất lượng nước sông Bùi đoạn chảy từ Lương Sơn, Hòa Bình tới Xuân Mai, Hà Nội ".

2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm - Theo điều 2 Luật Tài nguyên nƣớc: “ô nhiễm nƣớc là sự biến đổi tính chất vật lí, hóa học và thành phần sinh học của nƣớc không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật cho phép, gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời và sinh vật”. Nguyên nhân (Phạm Ngọc Hồ và các cộng sự, 2010) Sự ô nhiễm các nguồn nƣớc có thể xảy ra do 2 nguyên nhân chính là ô nhiễm tự nhiên và ô nhiễm nhân tạo. Ô nhiễm tự nhiên Là do quá trình phát triển và chết đi của các loài thực vật, động vật có trong nguồn nƣớc, hoặc do nƣớc mƣa rửa trôi các chất gây ô nhiễm từ trên mặt đất chảy vào nguồn nƣớc.

Là do mƣa,tuyết tan, lũ lụt,gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng. Cây cối, sinh vật chết đi , chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ. Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nƣớc ngầm, gây ô nhiễm. hoặc theo dòng nƣớc ngầm hòa vào dòng lớn.

Lụt lội có thể làm nƣớc mất sự trong sạch, khuấy động những chất dơ trong hệ thống cống rãnh, mang theo nhiều chất thải độc hại từ nơi đổ rác, và cuốn theo các loại hoá chất trƣớc đây đã đƣợc cất giữ. Nƣớc lụt có thể bị ô nhiễm do hoá chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc do các tác nhân độc hại ở các khu phế thải. Công nhân thu dọn lân cận các công trƣờng kỹ nghệ bị lụt có thể bị tác hại bởi nƣớc ô nhiễm hoá chất. 3 Ô nhiễm nƣớc do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt,.) có thể rất nghiêm trọng, nhƣng không thƣờng xuyên, và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lƣợng nƣớc toàn cầu.

Ô nhiễm nhân tạo Chủ yếu là do các hoạt động của con ngƣời nhƣ xả thải nƣớc thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp vào nguồn nƣớc. Trong quá trình sinh hoạt, sản xuất của mình, con ngƣời ngoài việc khai thác tài nguyên thiên nhiên thì còn thải ra một lƣợng lớn chất thải bao gồm chất thải rắn, khí thải và nƣớc thải. Nƣớc thải đƣợc thải ra từ các hoạt động sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp nếu không đƣợc xử lý một cách triệt để sẽ tác động rất lớn đến chất lƣợng nguồn nƣớc và cũng là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nƣớc nghiêm trọng. Trƣớc hết, phải kể đến các hoạt động công nghiệp của con ngƣời, là một trong những hoạt động gây tác động đến môi trƣờng nƣớc tƣơng đối lớn.

Nƣớc thải công nghiệp (industrial wastewater): là nƣớc thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải. Khác với nƣớc thải sinh hoạt hay nƣớc thải đô thị, nƣớc thải công nghiệp không có thành phần cơ bản giống nhau, mà phụ thuộc vào ngành sản xuất công nghiệp cụ thể. Ví dụ: nƣớc thải của các xí nghiệp chế biến thực phẩm thƣờng chứa lƣợng lớn các chất hữu cơ; nƣớc thải của các xí nghiệp thuộc da ngoài các chất hữu cơ còn có các kim loại nặng, sulfua,. Mức độ ô nhiễm nƣớc ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn.

Điều nguy hiểm hơn là trong số các cở sở sản xuất công nghiệp, các khu chế xuất đa phần chƣa có trạm xử lý nƣớc thải, khí thải và hệ thống cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trƣờng. Ngoài ra, các hoạt động sinh hoạt của con ngƣời cũng gây ra các vấn đề ô nhiễm nguồn nƣớc khá nghiêm trọng. 4 Nƣớc thải sinh hoạt (domestic wastewater): là nƣớc thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan trƣờng học, chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con ngƣời. Thành phần cơ bản của nƣớc thải sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbohydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dƣỡng (photpho, nitơ), chất rắn và vi trùng.

Tùy theo mức sống và lối sống mà lƣợng nƣớc thải cũng nhƣ tải lƣợng các chất có trong nƣớc thải của mỗi ngƣời trong một ngày là khác nhau. Nhìn chung mức sống càng cao thì lƣợng nƣớc thải và tải lƣợng thải càng cao. Ở nhiều vùng , phân ngƣời và nƣớc thải sinh hoạt không đƣợc xử lý mà quay trở lại vòng tuần hoàn của nƣớc. Do đó bệnh tật có điều kiện để lây lan và gây ô nhiễm môi trƣờng.

Nƣớc thải không đƣợc xử lý chảy vào sông rạch và ao hồ gây thiếu hụt oxy làm cho nhiều loại động vật và cây cỏ không thể tồn tại. Mặt khác, hoạt động nông nghiệp cũng đã tác động đáng kể đến môi trƣờng nƣớc. Các hoạt động chăn nuôi gia súc: phân, nƣớc tiểu gia súc, thức ăn thừa không qua xử lý đƣa vào môi trƣờng và các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác: thuốc trừ sâu, phân bón từ các ruộng lúa, dƣa, vƣờn cây, rau chứa các chất hóa học độc hại có thể gây ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm và nƣớc mặt. Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, đa số nông dân đều sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) gấp ba lần liều khuyến cáo.

Chẳng những thế, nông dân còn sử dụng cả các loại thuốc trừ sâu đã bị cấm nhƣ Aldrin, Thiodol, Monitor. Trong quá trình bón phân, phun xịt thuốc, ngƣời nông dân không hề trang bị bảo hộ lao động. Đa số nông dân không có kho cất giữ bảo quản thuốc, thuốc khi mua về chƣa sử dụng đƣợc cất giữ khắp nơi, kể cả gần nhà ăn, giếng sinh hoạt. Đa số vỏ chai thuốc sau khi sử dụng xong bị vứt ngay ra bờ ruộng, số còn lại đƣợc gom để bán phế liệu.

Tình trạng ô nhiễm nƣớc trên Thế giới và Việt Nam 1. Tình trạng ô nhiễm nước trên Thế giới [Nguyễn Hồng Thái và các cộng sự, 2013] Nƣớc là một nguồn tài nguyên hết sức quý giá nhƣng không phải ai cũng nhận thức đƣợc điều này. Có tới hơn 1 tỷ ngƣời đang bị thiếu khoảng 20-50 lít nƣớc sạch mỗi ngày để phục các nhu cầu căn bản nhƣ ăn uống và tắm giặt. Tuy nhiên, cũng có nhiều ngƣời đang lãng phí nƣớc.

Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lƣợng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nƣớc tại các quốc gia đang phát triển. Đây là thống kê của Viện nƣớc quốc tế (SIWI) đƣợc công bố tại Tuần lễ nƣớc thế giới khai mạc tại Stockholm, thủ đô của Thụy Điển ngày 5/9/2008 Trong thập niên 60, ô nhiễm nƣớc lục địa và đại dƣơng gia tăng với nhịp độ đáng lo ngại. Tiến độ ô nhiễm nƣớc phản ánh trung thực tiến bộ phát triển kỹ nghệ. Ta có thể kể ra đây vài thí dụ tiêu biểu.

Từ các đại dƣơng lớn trên thế giới, nơi chứa đựng hầu hết lƣợng nƣớc trên trái đất, nƣớc luôn đƣợc lƣu thông thƣờng xuyên và sự ô nhiễm nếu xảy ra cũng rất chỉ mang tính chất nhỏ bé nhƣng nay cũng đang hứng chịu sự ô nhiễm nặng nề, tùy từng đại dƣơng mà mức độ ô nhiễm lại khác nhau. Nhiều vùng biển trên thế giới đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa đến sự sống của các loài động vật biển mà chủ yếu là nguồn ô nhiễm từ đất liền và giao thông vận tải biển gây nên. Bờ biển Barrow, Alaska trở thành một nơi chứa rác. Ô nhiễm nƣớc ngọt lại càng trầm trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ