Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy giữ vai trò huyết mạch trong sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng sông Hồng với tổng diện tích tự nhiên 7.665 km2, trong đó riêng lưu vực sông Đáy chiếm 6.965 km2. Sông Đáy đoạn chảy qua địa phận tỉnh Hà Nam có chiều dài khoảng 47,6 km, độ rộng trung bình từ 150 m đến 250 m, đóng vai trò là nguồn cấp nước tưới tiêu, giao thông thủy và tiêu thoát lũ chính cho thành phố Phủ Lý cùng các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm. Sự gia tăng nhanh chóng của các hoạt động sản xuất công nghiệp tại 04 khu công nghiệp và 02 cụm công nghiệp, kết hợp với mật độ dân số đô thị Phủ Lý đạt 2.545 người/km2 và hoạt động chăn nuôi quy mô lớn đã tạo áp lực tải lượng khổng lồ lên hệ thống sông. Hàng năm, đoạn sông này phải tiếp nhận hàng trăm nghìn mét khối nước thải chưa qua xử lý đồng bộ từ cả thượng lưu sông Nhuệ lẫn nguồn thải nội tỉnh, đẩy nhiều đoạn sông vào tình trạng ô nhiễm hữu cơ và phú dưỡng nghiêm trọng.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học về diễn biến chất lượng nước sông Đáy qua các năm 2011 - 2014, tiến hành kiểm kê chi tiết tải lượng phát thải từ 03 nguồn chính gồm sinh hoạt, công nghiệp và chăn nuôi. Đồng thời, nghiên cứu định lượng khả năng đồng hóa và sức chịu tải của đoạn sông theo các mùa thủy văn (với lưu lượng dòng chảy mùa khô đạt 2,59 m3/s và mùa mưa đạt 7,98 m3/s). Kết quả đạt được cung cấp luận cứ định lượng quan trọng phục vụ công tác cấp phép xả thải, phân bổ hạn ngạch ô nhiễm theo mục đích sử dụng nước loại B1 theo QCVN 08:2008/BTNMT và đề xuất hệ thống giải pháp bảo vệ môi trường nước lưu vực sông bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kiểm soát tổng tải lượng ô nhiễm tối đa hàng ngày (Total Maximum Daily Loads - TMDLs) theo quy định tại Mục 303(d) của Đạo luật Nước sạch Hoa Kỳ (Clean Water Act) và hệ thống kiểm soát nguồn điểm NPDES. Khung lý thuyết này tiếp cận việc quản lý chất lượng nước dựa trên sức chịu tải môi trường, xác định lượng chất ô nhiễm tối đa mà thủy vực có thể tiếp nhận nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng nước phục vụ mục đích sử dụng cụ thể.

Song song với TMDLs, nghiên cứu vận dụng lý thuyết về các quá trình tự làm sạch tự nhiên trong thủy vực dòng chảy một chiều. Quá trình tự làm sạch diễn ra qua 02 cơ chế cốt lõi: quá trình cơ học vật lý thuần túy (xáo trộn, pha loãng giữa dòng thải và nước nguồn) và quá trình sinh hóa học (khoáng hóa, phân hủy chất hữu cơ nhờ hoạt động của quần xã vi sinh vật và thủy sinh vật). Không gian dòng chảy tiếp nhận chất thải được phân định thành 03 phân vùng chức năng: vùng xáo trộn pha loãng ban đầu, vùng pha loãng hoàn toàn diễn ra các phản ứng sinh hóa, và vùng khôi phục trạng thái chất lượng nước tự nhiên.

Hệ thống khái niệm kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu bao gồm:

  1. Tải lượng ô nhiễm có sẵn ($L_n$): Khối lượng chất ô nhiễm hiện hữu tức thời trong dòng chảy trước khi tiếp nhận nguồn thải mới.
  2. Tải lượng ô nhiễm tối đa ($L_{tđ}$): Khối lượng chất ô nhiễm cực đại mà đoạn sông có thể dung nạp mà không làm nồng độ vượt quá ngưỡng giới hạn quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT.
  3. Khả năng đồng hóa chất ô nhiễm ($L_đ$): Khối lượng chất ô nhiễm bị chuyển hóa, loại bỏ dọc theo chiều dài đoạn sông thông qua nguyên lý bảo toàn khối lượng.
  4. Khả năng tiếp nhận nước thải ($L_{tn}$): Dư lượng tải lượng mà nguồn nước còn có thể tiếp nhận thêm, được xác định kèm theo hệ số an toàn $F_s = 0,4$.

Cơ sở pháp lý của nghiên cứu căn cứ vào Luật Bảo vệ Môi trường 2014, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, Thông tư 02/2009/TT-BTNMT quy định đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước, QCVN 40:2011/BTNMT về nước thải công nghiệp và Quyết định 879/QĐ-TCMT về tính toán chỉ số chất lượng nước WQI.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp từ chương trình quan trắc định kỳ của Trung tâm Quan trắc Môi trường thuộc Tổng cục Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam trong giai đoạn 2011 - 2014. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 13 đợt quan trắc hiện trường với tần suất 4 - 5 đợt/năm tại 08 điểm quan trắc trên toàn tuyến, trong đó tập trung phân tích sâu tại 05 điểm quan trắc chính đại diện cho các mặt cắt đặc thù: Cầu Hồng Phú (SD-02), Cầu Đọ Xá (SD-03), Cầu Phao Kiện Khê (SD-04), Thanh Tân (SD-06) và Nhà máy xi măng Việt Trung (SD-08). Phương pháp chọn mẫu định vị dọc theo trục thủy văn sông Đáy, bắt đầu từ điểm hợp lưu giữa sông Nhuệ, sông Châu Giang và sông Đáy tại thành phố Phủ Lý đến ranh giới phía nam huyện Thanh Liêm giáp tỉnh Ninh Bình.

Nghiên cứu tích hợp các phương pháp phân tích chuyên sâu:

  • Phương pháp kiểm kê nguồn thải nhanh: Ứng dụng hệ số phát thải ô nhiễm theo đầu người và đầu gia súc của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1993) kết hợp số liệu thống kê dân số (137.449 người tại Phủ Lý, 130.000 người tại Thanh Liêm) và quy mô đàn gia súc năm 2014 để xác định tải lượng xả thải sinh hoạt ($L_{sh}$) và chăn nuôi ($L_{cn}$). Tải lượng nước thải công nghiệp ($L_i$) được tính toán dựa trên lưu lượng thực tế và giả định nồng độ xả thải đạt Cột B theo QCVN 40:2011/BTNMT.
  • Phương pháp tính chỉ số chất lượng nước WQI: Đánh giá tổng hợp 10 thông số quan trắc (DO, nhiệt độ, BOD5, COD, N-NH4+, P-PO43-, TSS, độ đục, Coliform, pH) theo hướng dẫn tại Quyết định số 879/QĐ-TCMT trên thang điểm 0 - 100 nhằm trực quan hóa mức độ ô nhiễm qua các mùa.
  • Phương pháp cân bằng khối lượng bảo toàn một chiều: Tính toán tải lượng sẵn có $L_n = (Q_s \times C_s) \times 86,4$ và xác định khả năng đồng hóa $L_đ = (L_{ni} + L_t) - L_{ni+1}$ giữa hai mặt cắt liền kề. Lý do lựa chọn mô hình hộp đen cân bằng khối lượng là tính thích ứng cao với điều kiện thiếu chuỗi số liệu thủy lực liên tục tại các trạm đo chi tiết trên đoạn sông ngắn, đem lại kết quả ước tính nhanh, tin cậy cho quản lý môi trường cấp địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nồng độ các chất ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng có sự phân hóa mạnh giữa hai mùa và vượt chuẩn cho phép tại nhiều thời điểm. Hàm lượng oxy hòa tan (DO) trong các năm 2013 - 2014 dao động ở mức thấp, phần lớn các trạm tại Cầu Đọ Xá và Cầu Phao Kiện Khê không đạt giới hạn QCVN 08:2008/BTNMT cột B1 (DO yêu cầu $\ge 4\text{ mg/l}$). Ngược lại, nồng độ amoni ($NH_4^+$) tại toàn bộ các điểm quan trắc đều vượt quy chuẩn B1 nhiều lần, đặc biệt tăng vọt trong mùa khô năm 2014 do tiếp nhận nước thải sinh hoạt và chất thải chăn nuôi chưa qua xử lý. Nồng độ COD đạt đỉnh 36 mg/l tại trạm Cầu Sắt vào năm 2013 trước khi có xu hướng giảm nhẹ về mức đạt chuẩn B1 vào mùa mưa năm 2014.

Thứ hai, kết quả kiểm kê tải lượng ô nhiễm khẳng định nguồn thải từ chăn nuôi và sinh hoạt là hai tác nhân gây ô nhiễm lớn nhất vào lưu vực sông Đáy tại Hà Nam. Tại huyện Thanh Liêm năm 2014, hoạt động chăn nuôi phát sinh tải lượng chất rắn lơ lửng TSS lên đến 31.102,66 kg/ngày, tải lượng BOD5 đạt 7.962,00 kg/ngày và Tổng Nitơ đạt 4.685,11 kg/ngày. Tại thành phố Phủ Lý, nước thải sinh hoạt với lưu lượng 28.600,39 m3/ngày.đêm đóng góp 19.930,11 kg TSS/ngày, 14.019,80 kg COD/ngày và 7.422,25 kg BOD5/ngày. Trong khi đó, nước thải công nghiệp tại Phủ Lý có lưu lượng phát sinh 3.779,20 m3/ngày chỉ tạo ra tải lượng 377,92 kg SS/ngày và 188,96 kg BOD5/ngày. Tải lượng chất hữu cơ từ chăn nuôi cao gấp hơn 22 lần so với toàn bộ hoạt động công nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý.

Thứ ba, diễn biến chỉ số WQI qua 13 đợt quan trắc từ 2011 đến 2014 thể hiện rõ xu thế cải thiện nhưng chất lượng nước nhìn chung vẫn ở mức trung bình đến xấu. Mùa khô năm 2011 ghi nhận chất lượng nước ở mức ô nhiễm rất nặng với WQI dưới 10 điểm tại tất cả các trạm. Sang năm 2014, vào mùa khô, chỉ số WQI giảm dần từ bắc xuống nam và rơi xuống mức dưới 20 điểm tại các trạm Cầu Phao Kiện Khê, Thanh Tân và Nhà máy xi măng Việt Trung. Bước vào mùa mưa, nhờ lưu lượng dòng chảy tăng lên 7,98 m3/s giúp pha loãng chất ô nhiễm, chỉ số WQI tăng mạnh lên khoảng 60 - 80 điểm, đạt mức nước phục vụ mục đích tưới tiêu nông nghiệp.

Thứ tư, kết quả tính toán khả năng đồng hóa ($L_đ$) theo phương pháp cân bằng khối lượng chỉ ra rằng khả năng tự làm sạch của sông Đáy hoạt động tương đối hiệu quả tại đoạn 1 (Cầu Hồng Phú - Cầu Đọ Xá). Trong mùa khô năm 2014, đoạn sông này có khả năng đồng hóa đạt 12.797,73 kg BOD5/ngày và 29.746,95 kg COD/ngày. Tại đoạn 3 (Cầu Phao Kiện Khê - Thanh Tân), khả năng đồng hóa đạt 6.838,84 kg BOD5/ngày trong mùa khô và 9.721,15 kg BOD5/ngày trong mùa mưa. Tuy nhiên, tại đoạn 2 và đoạn 4, một số chỉ tiêu như DO và COD có giá trị $L_đ < 0$ vào mùa khô, cho thấy quá trình tự làm sạch bị quá tải và chất ô nhiễm có xu hướng tích tụ cục bộ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy giảm chất lượng nước sông Đáy đoạn qua Hà Nam xuất phát từ cấu trúc địa lý thủy văn và sự bùng nổ của các nguồn thải cục bộ. Mặc dù điểm Cầu Hồng Phú tiếp nhận tải lượng ô nhiễm rất lớn từ dòng sông Nhuệ chảy xuống, nhưng nhờ nằm tại ngã ba sông nơi hội lưu với sông Châu Giang và dòng chính sông Đáy, mặt cắt dòng sông mở rộng giúp quá trình xáo trộn thủy lực và pha loãng diễn ra mạnh mẽ, từ đó làm tăng khả năng đồng hóa các chất hữu cơ dễ phân hủy. Tuy nhiên, khi dòng nước chảy về phía hạ lưu qua thị trấn Kiện Khê và huyện Thanh Liêm, dòng sông liên tục tiếp nhận lượng lớn chất thải từ các cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm phân tán không qua xử lý, khiến hàm lượng $NH_4^+$ duy trì ở mức cao và kéo chỉ số WQI xuống mức ô nhiễm nghiêm trọng trong mùa cạn.

Số liệu tính toán có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột so sánh nồng độ các thông số chất lượng nước theo chuỗi thời gian 2013 - 2014 và biểu đồ đường thể hiện sự phục hồi của WQI giữa hai mùa mưa - khô. Bảng cân bằng tải lượng theo từng đoạn sông cung cấp bức tranh chi tiết về sự phân bố của các chất ô nhiễm. So sánh với các nghiên cứu trên lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai hay sông Vàm Cỏ Đông, cơ chế tự làm sạch của sông Đáy phụ thuộc chặt chẽ vào hệ số dòng chảy phân mùa. Do đó, việc chỉ dựa vào tiêu chuẩn nồng độ nước thải tại nguồn xả theo QCVN 40:2011/BTNMT là chưa đủ, mà cần chuyển đổi sang quản lý theo sức chịu tải thực tế của từng phân đoạn sông nhằm tối ưu hóa chi phí kiểm soát môi trường.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Kiểm soát và xử lý bắt buộc nguồn thải từ hoạt động chăn nuôi: Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hà Nam triển khai chương trình chuẩn hóa hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi trên địa bàn huyện Thanh Liêm và thành phố Phủ Lý. Yêu cầu 100% các trang trại chăn nuôi quy mô lớn hoàn thiện công trình hầm biogas hoặc hệ thống xử lý sinh học đạt chuẩn, đặt mục tiêu cắt giảm 65% tải lượng TSS và BOD5 phát thải trực tiếp ra lưu vực sông Đáy trong giai đoạn 2016 - 2020.

  2. Đầu tư xây dựng hạ tầng thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt đô thị: Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam và UBND thành phố Phủ Lý cần tập trung nguồn vốn ngân sách và vốn ODA để xây dựng nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tập trung cho thành phố Phủ Lý với công suất thiết kế giai đoạn 1 tối thiểu 30.000 m3/ngày.đêm. Hoàn thành việc tách riêng hệ thống thoát nước mưa và nước thải sinh hoạt tại các khu đô thị mới, phấn đấu nâng tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn lên trên 50% trước năm 2022.

  3. Áp dụng công cụ hạn ngạch xả thải và kiểm soát giấy phép xả thải theo TMDLs: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam rà soát, cấp phép xả thải vào nguồn nước dựa trên kết quả tính toán sức chịu tải $L_{tn}$ với hệ số an toàn $F_s = 0,4$. Thiết lập ngưỡng trần phát thải cho 04 khu công nghiệp và 02 cụm công nghiệp dọc tuyến sông, từ chối cấp phép mở rộng đối với các dự án có loại hình sản xuất phát sinh tải lượng hữu cơ vượt quá khả năng đồng hóa của đoạn sông tiếp nhận.

  4. Xây dựng mạng lưới quan trắc tự động và quy chế điều tiết thủy lực liên tỉnh: Tổng cục Môi trường phối hợp với UBND tỉnh Hà Nam lắp đặt 03 trạm quan trắc chất lượng nước tự động, liên tục tại Cầu Hồng Phú, Cầu Phao Kiện Khê và khu vực giáp ranh Ninh Bình nhằm theo dõi tức thời các chỉ số DO, COD, $NH_4^+$. Đồng thời, thiết lập cơ chế phối hợp liên vùng với thành phố Hà Nội để vận hành các cống lấy nước từ sông Hồng bổ cập dòng chảy cho sông Đáy trong mùa khô, bảo đảm duy trì lưu lượng dòng chảy tối thiểu trên 5,0 m3/s để duy trì dung tích tự làm sạch của dòng sông.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam, Chi cục Bảo vệ Môi trường, Tổng cục Môi trường): Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu quan trắc thực nghiệm và phương pháp luận tính toán sức chịu tải $L_{tn}$, giúp các nhà quản lý xây dựng hạn ngạch xả thải, quy hoạch phân vùng chức năng nguồn nước và ban hành chính sách cấp phép môi trường chính xác.

  2. Các viện nghiên cứu, trường đại học, giảng viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường: Tài liệu là tài liệu tham khảo giá trị về ứng dụng mô hình cân bằng khối lượng bảo toàn, phương pháp tính toán chỉ số WQI theo Quyết định 879/QĐ-TCMT và quy trình kiểm kê nguồn thải thực địa kết hợp hệ số ô nhiễm nhanh của WHO.

  3. Ban quản lý các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và kỹ sư môi trường tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam: Luận văn hỗ trợ doanh nghiệp nắm bắt hiện trạng chất lượng nước mặt tiếp nhận, hiểu rõ các giới hạn xả thải theo QCVN 40:2011/BTNMT Cột B và định hướng đổi mới công nghệ xử lý nước thải nội bộ đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường lưu vực.

  4. Các đơn vị tư vấn quy hoạch hạ tầng đô thị và nông thôn: Dữ liệu tính toán lưu lượng nước thải sinh hoạt và tải lượng chăn nuôi chi tiết tại từng xã, phường giúp các chuyên gia quy hoạch thiết kế hệ thống thoát nước, vị trí đặt trạm xử lý nước thải tập trung và quy hoạch vùng chăn nuôi an toàn sinh học bền vững.

Câu hỏi thường gặp

  1. Yếu tố thủy văn nào ảnh hưởng mạnh nhất đến khả năng tự làm sạch của sông Đáy tại Hà Nam? Chế độ phân mùa dòng chảy là yếu tố quyết định. Trong mùa khô, lưu lượng sông giảm xuống mức 2,59 m3/s làm suy giảm vận tốc và dung tích pha loãng, khiến các chất ô nhiễm tích tụ và kéo chỉ số WQI xuống dưới 20 điểm. Vào mùa mưa, lưu lượng đạt 7,98 m3/s giúp tăng cường quá trình xáo trộn thủy lực và khôi phục nồng độ oxy hòa tan trong nước.

  2. Nguồn thải nào đóng góp tải lượng ô nhiễm hữu cơ lớn nhất vào đoạn sông nghiên cứu? Nguồn thải từ chăn nuôi gia súc, gia cầm tại huyện Thanh Liêm và thành phố Phủ Lý chiếm tỷ trọng cao nhất. Tổng tải lượng TSS từ hoạt động chăn nuôi trên hai địa bàn lên tới hơn 46.142 kg/ngày và tải lượng BOD5 đạt trên 12.223 kg/ngày, vượt xa tổng tải lượng từ nước thải công nghiệp của toàn bộ các nhà máy trong vùng.

  3. Phương pháp cân bằng khối lượng đánh giá khả năng đồng hóa của dòng sông như thế nào? Phương pháp xác định khả năng đồng hóa thông qua công thức $L_đ = (L_{ni} + L_t) - L_{ni+1}$. Đoạn sông được xem xét như một hệ thủy lực đồng nhất; nếu hiệu số $L_đ \ge 0$, đoạn sông vẫn có khả năng chuyển hóa và làm sạch lượng chất ô nhiễm tương ứng; nếu $L_đ < 0$, đoạn sông đã quá tải khả năng tự làm sạch tự nhiên.

  4. Tại sao đoạn sông tại điểm Cầu Hồng Phú có chất lượng nước xấu nhưng khả năng đồng hóa lại cao? Cầu Hồng Phú tiếp nhận lượng lớn nước thải ô nhiễm từ sông Nhuệ dồn về nên chỉ số WQI thấp. Tuy nhiên, đây là điểm hợp lưu giữa sông Nhuệ, sông Đáy và sông Châu Giang có lòng sông rộng và lưu lượng dồi dào, tạo điều kiện xáo trộn và pha loãng mạnh mẽ, giúp chuyển hóa tải lượng BOD5 đạt tới 12.797,73 kg/ngày trong mùa khô.

  5. Việc xác định khả năng chịu tải có ý nghĩa thực tiễn gì trong công tác cấp phép xả thải? Tính toán tải lượng ô nhiễm tối đa ($L_{tđ}$) kèm theo hệ số an toàn $F_s = 0,4$ giúp xác định chính xác dung lượng xả thải còn lại của nguồn nước. Đây là căn cứ pháp lý và khoa học để cơ quan quản lý phân bổ hạn ngạch xả thải cho từng cơ sở sản xuất, ngăn chặn tình trạng ô nhiễm vượt ngưỡng kiểm soát.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng bộ cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh về hiện trạng và diễn biến chất lượng nước sông Đáy đoạn qua Hà Nam qua 13 đợt quan trắc từ 2011 đến 2014 trên 08 vị trí trọng điểm.
  • Hoàn thành việc kiểm kê chi tiết tải lượng phát thải từ 03 nhóm nguồn thải chính, chứng minh nguồn thải chăn nuôi và sinh hoạt là hai nguyên nhân chủ yếu gây suy thoái chất lượng nước mặt.
  • Ứng dụng thành công phương pháp cân bằng khối lượng bảo toàn để lượng hóa khả năng đồng hóa ($L_đ$) và sức chịu tải ($L_{tn}$) của từng phân đoạn sông phục vụ mục đích tưới tiêu theo QCVN 08:2008/BTNMT Cột B1.
  • Chỉ rõ tính quy luật phân mùa của chất lượng nước và hiện tượng quá tải cục bộ đối với các chỉ tiêu amoni và oxy hòa tan trong điều kiện mùa cạn kiệt.
  • Đề xuất đồng bộ 04 nhóm giải pháp quản lý công nghệ, kiểm soát giấy phép xả thải theo TMDLs, xây dựng nhà máy xử lý nước thải đô thị và điều tiết lưu lượng liên tỉnh có tính ứng dụng cao.

Trong giai đoạn tiếp theo, các nghiên cứu cần tiếp tục mở rộng điều tra các nguồn thải diện (nước mưa chảy tràn, nước rỉ rác, làng nghề) và ứng dụng các mô hình thủy lực hai chiều (như MIKE 11, QUAL2K) nhằm mô phỏng chính xác hơn trường lan truyền ô nhiễm. Toàn văn luận văn thạc sĩ là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn cho công tác bảo vệ và phục hồi môi trường nước lưu vực sông Đáy.