ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay nƣớc ngầm đƣợc sử dụng cho khoảng 2 tỉ ngƣời trên thế giới, đƣợc coi là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên dễ sử dụng nhất. Con ngƣời đã sử dụng hàng ngàn năm nay phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất. Ƣớc tính, lƣợng sử dụng nƣớc ngầm trên thế giới vào khoảng 982km3 một năm. Trong đó, nƣớc ngầm cung cấp phân nửa lƣợng nƣớc uống trên toàn cầu, và chiếm giữ 38% lƣợng nƣớc tƣới tiêu.
Riêng tại Việt Nam, nƣớc sử dụng cho sinh hoạt thì 70% nƣớc bề mặt và 30% nƣớc ngầm. Đồng thời, theo thống kê của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trƣờng (Bộ Y tế) năm 2013, nƣớc ta có khoảng 17,2 triệu ngƣời (tƣơng đƣơng 21,5% dân số) đang sử dụng nguồn nƣớc sinh hoạt từ giếng khoan mà chƣa qua xử lý. Ngoài những lợi ích trực tiếp đối với con ngƣời, nƣớc ngầm đóng vai trò quan trọng với tự nhiên khi góp phần ổn định dòng chảy sông ngòi của nhiều con sông, đồng thời giúp cố định các lớp đất đá bên trên, tránh các hiện tƣợng sạt lở hay sụt lún đất. (Trích nguồn trang Wed: http://dwrm.php/vi/news/Nhin-ra-The- gioi/TAI-NGUYEN-NUOC-TRONG-TINH-HINH-THE-GIOI-BIEN-DOI-1163/) Tốc độ đô thị hóa nhanh cùng các hoạt động công nghiệp, năng lƣợng, giao thông kéo theo tình trạng ô nhiễm môi trƣờng trầm trọng.
Trong đó, sự suy giảm nguồn nƣớc cũng nhƣ chất lƣợng nguồn nƣớc ngầm đang làm ảnh hƣởng không nhỏ đến sự phát triển bền vững của các đô thị. Cùng với sự gia tăng các đô thị trên toàn quốc là sự gia tăng dân số đô thị. Theo đó, nhu cầu sử dụng nƣớc không ngừng tăng. Thống kê sơ bộ cho thấy, lƣợng nƣớc khai thác sử dụng cho các đô thị từ vài trăm đến hàng triệu m3/năm, trong đó khoảng 50% nguồn nƣớc cung cấp cho các đô thị đƣợc khai thác từ nguồn nƣớc ngầm.
Các nguồn nƣớc ngầm đƣợc khai thác nằm ngay trong đô thị hoặc ven đô thị. Thế nên, theo thời gian, nhiều nguồn nƣớc đã cạn kiệt hoặc đang bị ô nhiễm bởi sự xâm lấn quá nhanh của đô thị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nƣớc ở tỉnh Lạng Sơn trong những năm gần đây đã đƣợc đẩy mạnh, bao gồm cả điều tra tài nguyên nƣớc mặt và tài nguyên nƣớc dƣới đất. Tuy nhiên việc điều tra, đánh giá tài nguyên nƣớc dƣới đất, các kết quả của các dự án chƣa đƣợc nghiên cứu chi tiết.
Chƣa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của khu vực kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn. Ngày 14 tháng 10 năm 2008, Thủ tƣớng Chính phủ đã có quyết định số 138/2008/QĐ-TTg phê duyệt khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn với diện tích khoảng 394 km2. Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng bao gồm thành phố Lạng Sơn, thị trấn Đồng Đăng, thị trấn Cao Lộc và các xã Thụy Hùng, Phú Xá, Hồng Phong, Tân Liên, Song Giáp, một phần xã Bình Trung - huyện Cao Lộc, các xã Tân Thanh, Tân Mỹ - huyện Văn Lãng, một phần xã Vân An - huyện Chi Lăng và xã Đồng Giáp - huyện Văn Quan. Nhƣ vậy, trong tƣơng lai, khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn sẽ phát triển kinh tế toàn diện các ngành kinh tế gồm: xây dựng và phát triển thành vùng kinh tế động lực chủ đạo, phát triển đô thị, công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ bằng những cơ chế và chính sách thu hút vốn đầu tƣ trong nƣớc và ngoài nƣớc.
Sự phát triển kinh tế ở khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng- Lạng Sơn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Lạng Sơn và hình thành trục tứ giác kinh tế trọng điểm Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và có vai trò quan trọng thúc đẩy giao lƣu của tuyến hành lang kinh tế và vành đai kinh tế ven vịnh Bắc Bộ. Ngoài ra trong tƣơng lai, khu kinh tế sẽ trở thành khu trao đổi thƣơng mại, dịch vụ giữa Việt Nam với Trung Quốc và các nƣớc khác trong khu vực và trên thế giới. Khi kinh tế ở khu vực cửa khẩu Đồng Đăng-Lạng Sơn phát triển thì nhu cầu khai thác, sử dụng nƣớc ngày càng lớn. Thành phố Lạng Sơn sự phát triển kinh tế quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các phƣờng ngày càng gia tăng, việc phát triển mạnh về nền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 kinh tế đồng nghĩa với việc các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ….mọc lên ngày càng nhiều, làm tăng nhanh số lƣợng các nguồn gây ô nhiễm, tác động xấu đến môi trƣờng đất, nƣớc, không khí.
Nguồn nƣớc ngầm cũng không nằm ngoài sự tác động này. Điển hình chất lƣợng nƣớc ngầm ở gần khu công nghiệp ngày càng bị ô nhiễm, trong khi đó việc sử dụng nguồn nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân chủ yếu là nƣớc ngầm. Nƣớc thải sinh hoạt của toàn thành phố Lạng Sơn chƣa có hệ thống xử lý điều này tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm, ảnh hƣởng đến chất lƣợng môi trƣờng sống của nhiều ngƣời dân trong khu vực khi vô tình sử dụng nƣớc đó mà chƣa qua xử lý, rất dễ mắc các bệnh về da, đƣờng ruột và một số các bệnh khác. Lại chƣa có nghiên cứu nào về chất lƣợng nƣớc ngầm trƣớc đó.
Do đó việc đánh giá biến động chất lƣợng nƣớc ngầm trong khu vực là điều rất cần thiết. Xuất phát từ thực tế nêu trên nên đề tài là “Đánh giá biến động chất lượng nước ngầm tại thành phố Lạng Sơn giai đoạn 2014-2018” với mục tiêu đánh giá chất lƣợng nguồn nƣớc ngầm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của ngƣời dân tại đây. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nƣớc ngầm.
Khái niệm nguồn nƣớc ngầm. (Biến đổi khí hậu, 2012) Nƣớc ngầm là nƣớc ở thể lỏng chứa đầy trong các lỗ hổng của đất và trong các lớp đất đá trầm tích bở rời nhƣ cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dƣới bề mặt trái đất. Độ sâu của không gian có các mặt khe nứt hoặc lỗ rỗng trong đá, ở đó nƣớc bắt đầu bão hòa thì đƣợc gọi là mực nƣớc ngầm. Chất lƣợng nƣớc ngầm phụ thuộc vào thành phần khoáng hóa và cầu trúc tầng mà nƣớc thấm qua.
Do vậy nƣớc chảy qua các địa tầng chứa đá vôi thì nƣớc thƣờng có độ cứng và độ kiểm hydrocacbonat khá cao. Ngoài ra điểm chung của nƣớc ngầm là: độ đục thấp, không có oxy nhƣng chứa nhiều khí CO2, H2S, chứa nhiều khoáng chất hòa tan (chủ yếu là sắt, mangan, canxi, magie, flo.), không có sự hiện diện của vi sinh vật. Có thể khai thác cho các hoạt động sống của con ngƣời. Hiện trạng về tài nguyên nƣớc ngầm trên Thế giới.
Trái đất có khoảng 23 triệu ki lô mét khối nƣớc ngầm. Tuy nhiên, phần lớn trong số này là nƣớc ngầm “cổ đại” đƣợc hình thành hàng ngàn, hàng triệu năm trƣớc, không tham gia vào vòng tuần hoàn nƣớc và nằm quá sâu để có thể khai thác. Lƣợng nƣớc ngầm mới hình thành chỉ chiếm chƣa đến 6% tổng lƣợng nƣớc nói trên. Nó nằm gần bề mặt và chính là một phần của vòng tuần hoàn nƣớc trên thế giới.
Đây cũng chính là loại nƣớc đang đƣợc con ngƣời khai thác, dễ bị tổn thƣơng nhất bởi biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trƣờng (Trích nguồn: Nhà khoa học Tom Gleeson - Đại học Victoria (Canada) và cộng sự vừa công bố một nghiên cứu về tổng trữ lƣợng nƣớc ngầm trên Trái đất) Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lƣợng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nƣớc tại các quốc gia đang phát triển. Đây là thống kê của Viện Nƣớc quốc tế (SIWI) đƣợc công bố tại Tuần lễ Nƣớc thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển ngày 5/9. Thực tế trên khiến nguồn nƣớc dùng trong sinh hoạt của con ngƣời bị ô nhiễm nghiêm trọng. Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nƣớc đang phát triển là do không đƣợc tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nƣớc) và các bệnh liên quan đến nƣớc.Thiếu vệ sinh và thiếu nƣớc sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm.Tổ chức Lƣơng Nông LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ ngƣời phải sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nƣớc và 2/3 cƣ dân trên hành tinh có thể bị thiếu nƣớc.
Hiện trạng về tài nguyên nƣớc ngầm ở Việt Nam. Việt nam là quốc gia có nguồn nƣớc ngầm khá phong phú về trữ lƣợng và khá tôt về chất lƣợng. Đƣợc tạo thành trong giai đoạn trầm tích đất đá hoặc do sự thẩm thấu thấm của nguồn nƣớc mặt, nƣớc mƣa… nƣớc ngầm có thể tồn tại cách mặt đất vài mét, vài chục mét hay hàng trăm mét. Nƣớc ngầm là một bộ phận của chu trình thủy văn xâm nhập vào các hệ đất đá từ mặt đất hoặc bộ phận nƣớc mặt, và trong một thời gian dài nƣớc ngầm đƣợc xem là “nguồn nƣớc sạch” – có thể sử dụng cho ăn uống sinh hoạt.
Thực tế thì nguồn nƣớc này thƣờng chứa nồng độ các nguyên tố cao hơn hẳn so với tiêu chuẩn nƣớc uống đƣợc, đáng kể là Fe, Mn, H2S, …vì thế nƣớc ngầm cần phải đƣợc xử lý trƣớc khi phân phối sử dụng. Hiện nay nguồn nƣớc dƣới đất ở Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề nhƣ bị nhiễm mặn, nhiễm thuốc trừ sâu, các chất có hại khác… Việc khai thác quá mức và không có quy hoạch đã làm cho mực nƣớc dƣới đất bị hạ thấp. Hiện tƣợng này ở các khu vực đồng bằng bắc bộ và đồng bằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 song Cửu Long. Khai thác nƣớc quá mức cũng sẽ dẫn đến hiện tƣợng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển.
Nƣớc dƣới đất bị ô nhiễm do việc chon lấp gia cầm bị dịch bệnh không đúng quy cách. Đặc điểm của nƣớc ngầm Đặc điểm của nƣớc ngầm. Nƣớc ngầm là chất lỏng chứa đầy trong các ống mao dẫn nhỏ bé giữa các hạt đất, đá. Nó có thể tạo ra các tia nƣớc nhỏ trong các tầng thấm nƣớc, thậm chí nó có thể tạo ra khối nƣớc ngầm rất dày trong các tầng đá, nham thạch.
Nƣớc ngầm tiếp xúc trực tiếp với đất và nham thạch.