Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sông Vàm Cỏ Đông là tuyến thủy văn giữ vai trò chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, trực tiếp đi qua địa bàn hai tỉnh Tây Ninh và Long An. Hệ thống sông vừa đảm nhận nhiệm vụ cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt, tưới tiêu nông nghiệp, hoạt động sản xuất công nghiệp và giao thông thủy, vừa là nơi tiếp nhận lượng lớn nước thải từ các hoạt động nhân sinh trên lưu vực. Sự gia tăng dân số, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng cùng với việc mở rộng các khu, cụm công nghiệp đã gây áp lực nghiêm trọng lên môi trường nước. Thực tế khảo sát của Sở Tài nguyên và Môi trường từ ngày 11/4 đến 21/5/2024 cho thấy tình trạng nước sông đổi màu đen và bốc mùi cục bộ vào cuối mùa khô (tháng 4 và tháng 5) tại nhiều khu vực như rạch Trưởng Chừa, rạch Bình Tranh, cảng Bến Kéo, cầu Gò Chai, cầu Bến Đình và khu vực xã Phước Chỉ. Nguyên nhân chính được xác định là do tiếp nhận gần 50.000 m³/ngày đêm nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý từ thị xã Hòa Thành, thị trấn Gò Dầu, thị xã Trảng Bàng, thị trấn Châu Thành, cùng nước thải từ 2.977 cơ sở dịch vụ xả trực tiếp ra dòng tiếp nhận, kết hợp với sự bùng phát dày đặc của lục bình làm suy giảm nồng độ oxy hòa tan và thúc đẩy quá trình phân hủy kỵ khí.

Trước thực trạng đó, việc tính toán khả năng chịu tải và đánh giá chất lượng nước của dòng sông là cơ sở khoa học quan trọng cho công tác quản lý tài nguyên nước. Đề tài xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu:

    1. Mục tiêu tổng quát: Đánh giá diễn biến chất lượng nước mặt và khả năng chịu tải của sông Vàm Cỏ Đông.
    2. Mục tiêu cụ thể:
      • Đánh giá diễn biến chất lượng nước mặt sông Vàm Cỏ Đông giai đoạn 2019 – 2023.
      • Đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải và sức chịu tải của sông Vàm Cỏ Đông.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:

    1. Tổng quan tài liệu, tìm hiểu các thông tin nền tảng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng ô nhiễm sông Vàm Cỏ Đông.
    2. Tính toán chỉ số chất lượng nước Việt Nam (VN_WQI), phân tích diễn biến chất lượng nước mặt giai đoạn 2019 – 2023 theo chu kỳ mùa khô và mùa mưa.
    3. Đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải và sức chịu tải của sông theo các quy định hiện hành.
    4. Tính toán, ước lượng tổng tải lượng ô nhiễm phát sinh từ các nguồn thải công nghiệp, sinh hoạt và chăn nuôi trên lưu vực.
    5. Đề xuất các giải pháp quản lý và công nghệ - kỹ thuật nhằm bảo vệ chất lượng nước sông.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hiện trạng chất lượng nước mặt và khả năng chịu tải của sông Vàm Cỏ Đông. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm 8 vị trí quan trắc cố định trên dòng chính sông Vàm Cỏ Đông, trải dài từ khu vực giáp ranh Long An – Tây Ninh đến hạ lưu huyện Tân Trụ. Phạm vi thời gian tập trung vào chuỗi dữ liệu quan trắc 5 năm liên tục, từ năm 2019 đến năm 2023, với các đợt thu mẫu được phân chia theo mùa khô (tháng 11 và tháng 3) và mùa mưa (tháng 6 và tháng 9).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở pháp lý và hướng dẫn kỹ thuật chuyên ngành môi trường tại Việt Nam:

  • Quyết định số 1460/QĐ-TCMT ngày 12/11/2019 của Tổng cục Môi trường về việc ban hành Hướng dẫn kỹ thuật tính toán và công bố chỉ số chất lượng nước Việt Nam (VN_WQI).
  • Thông tư số 76/2017/TT-BTNMT và Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, trong đó Điều 82 quy định về phương pháp đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ dựa trên các thông số tải lượng chủ yếu gồm COD, BOD₅, Amoni, tổng Nitơ và tổng Phốt-pho.
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08-MT:2023/BTNMT (thay thế cho QCVN 08-MT:2015/BTNMT) làm căn cứ đối chiếu giới hạn nồng độ các chất ô nhiễm.

Các phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu: Thu thập thông tin từ các báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), niên giám thống kê giai đoạn 2019 – 2023, quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh Long An và Tây Ninh.
  • Phương pháp kế thừa và xử lý số liệu: Tiếp nhận có chọn lọc dữ liệu từ các chương trình quan trắc môi trường định kỳ của Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Long An, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh và Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường miền Nam. Sử dụng toán thống kê để phân loại, tổng hợp số liệu theo mùa khô và mùa mưa, so sánh giá trị quan trắc thực tế với quy chuẩn kỹ thuật.
  • Phương pháp tính toán chỉ số VN_WQI: Xử lý 11 thông số quan trắc được chia thành các nhóm: Nhóm I (pH), Nhóm III (kim loại nặng gồm Pb, Cd, Cr), Nhóm IV (thông số hữu cơ và dinh dưỡng gồm DO, BOD₅, COD, N-NH₄⁺, P-PO₄³⁻, N-NO₃⁻, N-NO₂⁻). Thuật toán tính toán bao gồm việc tính giá trị DO % bão hòa dựa trên nhiệt độ môi trường nước, xác định các mức giá trị phụ $q_i$, $BP_i$, và áp dụng công thức tính WQI tổng hợp có xét trọng số đối với thủy vực chịu ô nhiễm hữu cơ. Thang đánh giá chất lượng nước phân thành 6 khoảng giá trị: 91–100 (Rất tốt), 76–90 (Tốt), 51–75 (Trung bình), 26–50 (Xấu), 10–25 (Kém), và dưới 10 (Ô nhiễm rất nặng).
  • Phương pháp đánh giá sức chịu tải và tải lượng ô nhiễm: Xác định tải lượng tối đa của thông số chất lượng nước mặt ($L_{td}$), tải lượng thông số hiện có trong nguồn nước ($L_{nn}$), và tải lượng từ nguồn thải xả vào sông ($L_{t}$) theo các công thức quy định tại Thông tư 76/2017/TT-BTNMT và Thông tư 02/2022/TT-BTNMT; kết hợp tính toán tải lượng ô nhiễm phát sinh từ nước thải sinh hoạt, chăn nuôi và công nghiệp.

Nguồn dữ liệu của đề tài bắt nguồn từ kết quả đo đạc thực nghiệm 11 thông số chất lượng nước tại 8 trạm quan trắc trên sông Vàm Cỏ Đông với tần suất 2 đến 4 đợt/năm trong giai đoạn 2019 – 2023.

Nội dung chính theo từng chương

Phần Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh các nguồn nước mặt Nam Bộ đang chịu tác động lớn từ biến đổi khí hậu và quá trình phát triển kinh tế nhanh. Nêu rõ 2 mục tiêu cụ thể, xác định đối tượng là chất lượng nước và sức chịu tải của tuyến sông Vàm Cỏ Đông qua 8 trạm quan trắc giai đoạn 2019 – 2023. Khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc hoàn thiện phương pháp luận đánh giá sức chịu tải nguồn nước mặt và ý nghĩa thực tiễn cung cấp luận cứ cho công tác kiểm soát nguồn thải tại Long An và Tây Ninh.

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương này khái quát các đặc điểm tự nhiên và thủy văn của sông Vàm Cỏ Đông: bắt nguồn từ tỉnh Svay Rieng (Campuchia) với tên gọi Prek Kampong Spean, khi vào Việt Nam có tên gọi bản địa là sông Cái Cay, chảy qua các huyện Gò Dầu, Hòa Thành, Bến Cầu (Tây Ninh) rồi tiếp tục qua Đức Hòa, Bến Lức, Tân Trụ (Long An), hợp lưu với sông Vàm Cỏ Tây tạo thành sông Vàm Cỏ đổ ra sông Soài Rạp và Biển Đông. Tác giả phân tích hiện trạng suy giảm chất lượng nước, tình trạng cá chết bất thường và tác động cản trở dòng chảy, làm suy giảm DO của thảm thực vật lục bình vào mùa khô năm 2024.

Về mặt học thuật, tác giả tổng hợp các công trình quốc tế về khả năng chịu tải và chất lượng nước (như nghiên cứu sông Ngrowo của N Lusiana năm 2020; sông Elands của Sandile Dlamini năm 2019; sông Batang Kuranji của I Dewata năm 2018; sông Nile của Amaal M. Abdel - Satar năm 2019; sông Semenyih của Fawaz Al-Badaii năm 2013; sông Ogun của Oketola; sông Gomti của Singh) và các nghiên cứu tại Việt Nam (Lê Ngọc Tuấn tại Bình Dương năm 2018; Nguyễn Ngọc Trinh tại sông Hàm Luông năm 2023; Nguyễn Lan Hương tại sông Tô Lịch năm 2023; Nguyễn Thị Thanh Hải tại Thái Bình năm 2023; Trần Sỹ Hải tại Bắc Ninh năm 2022; Trần Trung Giang tại Sóc Trăng năm 2020; Nguyễn Văn Hồng tại sông Sài Gòn - Đồng Nai năm 2023; Nguyễn Thành Tâm tại Cần Thơ năm 2021; Đặng Văn Tý tại Búng Bình Thiên năm 2016). Từ đó rút ra kết luận về sự cần thiết của việc kết hợp chỉ số WQI và mô hình tính toán tải lượng để kiểm soát ô nhiễm nước sông.

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày sơ đồ quy trình nghiên cứu gồm 5 bước logic: thu thập tài liệu, chọn lọc dữ liệu quan trắc, tính toán WQI và tải lượng ô nhiễm, đánh giá hiện trạng cùng khả năng chịu tải, và đề xuất biện pháp xử lý. Tác giả thiết lập thông tin mạng lưới 8 trạm quan trắc cố định trên dòng sông:

Ký hiệu Vị trí quan trắc Mục đích và nguồn tác động tiềm ẩn
VCĐ-01 Vàm Bà Mảng (giáp ranh Long An – Tây Ninh) Điểm biên trên sông Vàm Cỏ Đông thuộc Long An; theo dõi lan truyền ô nhiễm từ thượng nguồn Tây Ninh và rạch Bà Mảng.
VCĐ-02 Hạ lưu cầu Đức Huệ 300 m (ngã ba sông) Đánh giá ảnh hưởng nước thải sinh hoạt từ thị trấn Hiệp Hòa và thị trấn Đông Thành; theo dõi lan truyền ô nhiễm theo triều.
VCĐ-03 Chợ Trà Cú, xã Hòa Khánh Tây Đánh giá tác động tích hợp từ khu dân cư, chợ Trà Cú và nước thải thị trấn Hậu Nghĩa.
VCĐ-04 Hợp lưu kênh Xáng Lớn – sông Vàm Cỏ Đông Theo dõi lan truyền ô nhiễm từ kênh Xáng Lớn, nước thải công ty Trương Hiệp Thạnh và Cụm công nghiệp Quốc Quang.
VCĐ-05 Kênh Nước Mục – Vàm Cỏ Đông Theo dõi ảnh hưởng nước thải từ các nhà máy ven sông đoạn từ kênh Nước Mục đến sông Bến Lức (khoảng 3,5 km).
VCĐ-06 Hạ lưu cảng Bourbon 500 m (hợp lưu rạch Chanh) Đánh giá tác động tích hợp từ dân cư thị trấn Bến Lức, các khu công nghiệp, cơ sở phân tán và giao thông thủy.
VCĐ-07 Hợp lưu sông Đôi Ma – Vàm Cỏ Đông Theo dõi nước thải từ Cụm công nghiệp Kiến Thành (Cần Đước), các cơ sở sản xuất bột gần rạch Đôi Ma và giao thông thủy.
VCĐ-08 Phà Tân Phước Tây – Tân Trụ Vị trí hạ lưu; theo dõi sự lan truyền và phân tán ô nhiễm dọc tuyến sông chính chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều.

Chương này trình bày chi tiết thuật toán tính toán VN_WQI theo Quyết định 1460/QĐ-TCMT, công thức tính toán tải lượng tối đa, tải lượng hiện có và tải lượng tiếp nhận của sông đối với từng thông số ô nhiễm theo Thông tư 76/2017/TT-BTNMT và Thông tư 02/2022/TT-BTNMT, kèm theo phương pháp ước tính tải lượng phát sinh từ nước thải sinh hoạt, chăn nuôi và công nghiệp.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp

Nội dung chương tập trung vào các kết quả phân tích số liệu:

  • Diễn biến 11 thông số quan trắc (pH, DO, BOD₅, COD, N-NH₄⁺, P-PO₄³⁻, N-NO₃⁻, N-NO₂⁻, Pb, Cd, Cr) giai đoạn 2019 – 2023: Nồng độ các chất ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng tăng cao rõ rệt vào mùa khô, hàm lượng oxy hòa tan (DO) xuống thấp; chất lượng nước cải thiện đáng kể vào mùa mưa nhờ lưu lượng dòng chảy tăng và sự pha loãng tự nhiên.
  • Tính toán chỉ số VN_WQI: Thể hiện chất lượng nước phân hóa theo không gian và thời gian từ năm 2019 đến năm 2023. Các điểm VCĐ-04, VCĐ-05, VCĐ-06 ghi nhận chất lượng nước suy giảm ở mức trung bình đến xấu do tiếp nhận nước thải công nghiệp và đô thị tập trung.
  • Sức chịu tải của sông Vàm Cỏ Đông: Trình bày chi tiết các bảng tải lượng tối đa theo QCVN 08-MT:2023/BTNMT, tải lượng hiện có tại 8 trạm và tải lượng tiếp nhận nước thải qua 4 đợt khảo sát năm 2023. Khả năng tiếp nhận của sông đối với các chất hữu cơ (COD, BOD₅) và dinh dưỡng (Amoni, Nitơ, Phốt-pho) tại một số đoạn sông đã ở mức cảnh báo hoặc không còn khả năng tiếp nhận thêm nước thải chưa qua xử lý.
  • Phân tích nguồn phát sinh ô nhiễm năm 2023: Đánh giá cơ cấu tải lượng đưa vào sông từ 3 nguồn chính: nước thải sinh hoạt đô thị/nông thôn, nước thải chăn nuôi gia súc/gia cầm và nước thải công nghiệp.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất: Đưa ra 2 nhóm biện pháp chính gồm:
    • Biện pháp cơ chế - chính sách quản lý: Hoàn thiện quy chế phối hợp kiểm soát ô nhiễm liên tỉnh Long An - Tây Ninh; tăng cường giám sát việc xả thải của các khu/cụm công nghiệp; kiểm soát thu gom nước thải sinh hoạt đô thị.
    • Biện pháp công nghệ - kỹ thuật: Áp dụng hệ thống hầm cầu tự hoại 3 ngăn đúng quy chuẩn; nhân rộng mô hình hầm biogas xử lý chất thải hữu cơ quy mô hộ gia đình; xây dựng sơ đồ công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi chuyên biệt trước khi thải ra nguồn tiếp nhận.

Phần Kết luận và kiến nghị

Tổng kết lại các phát hiện chính về mức độ ô nhiễm, giá trị WQI và khả năng chịu tải của sông Vàm Cỏ Đông. Kiến nghị các cơ quan thẩm quyền bổ sung hệ thống trạm quan trắc tự động liên tục và chuẩn hóa việc quan trắc lưu lượng dòng chảy để nâng cao độ chính xác của các mô hình dự báo tải lượng tiếp nhận.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã ghi nhận và lượng hóa các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Phân tích toàn diện chuỗi dữ liệu 5 năm (2019 – 2023) của 11 thông số chất lượng nước tại 8 vị trí quan trắc. Kết quả cho thấy rõ quy luật biến thiên theo mùa: vào mùa khô (tháng 11 và tháng 3), các thông số ô nhiễm hữu cơ (BOD₅, COD) và dinh dưỡng (Amoni, Phốt-pho) tăng cao, trong khi giá trị DO suy giảm; vào mùa mưa (tháng 6 và tháng 9), các chỉ tiêu được cải thiện nhờ lượng nước mưa pha loãng.
  • Kết quả tính toán VN_WQI giai đoạn 2019 – 2023 chỉ ra rằng chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông biến động từ mức trung bình đến xấu ở các đoạn sông tiếp nhận nguồn thải lớn như khu vực hợp lưu kênh Xáng Lớn (VCĐ-04), kênh Nước Mục (VCĐ-05) và hạ lưu cảng Bourbon (VCĐ-06). Đoạn sông thượng nguồn tại Vàm Bà Mảng (VCĐ-01) và đoạn hạ lưu tại Tân Trụ (VCĐ-08) có mức độ ô nhiễm thấp hơn nhưng vẫn chịu ảnh hưởng lan truyền theo triều.
  • Tính toán chi tiết tải lượng chất ô nhiễm theo quy định của QCVN 08-MT:2023/BTNMT, Thông tư 76/2017/TT-BTNMT và Thông tư 02/2022/TT-BTNMT, xác định rõ sông Vàm Cỏ Đông bị quá tải cục bộ đối với COD, BOD₅ và các hợp chất chứa Nitơ, Phốt-pho tại các khu vực tập trung đông dân cư và cơ sở sản xuất.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn của đề tài:
    • Cung cấp bức tranh toàn cảnh và hệ thống dữ liệu quan trắc thực nghiệm cập nhật về chất lượng nước mặt sông Vàm Cỏ Đông trong chu kỳ 2019 – 2023.
    • Áp dụng khung pháp lý mới về bảo vệ môi trường, kết hợp đánh giá chỉ số VN_WQI theo Quyết định 1460/QĐ-TCMT với quy định đánh giá sức chịu tải nguồn nước mặt theo Thông tư 02/2022/TT-BTNMT và QCVN 08-MT:2023/BTNMT.
    • Đề xuất các giải pháp kỹ thuật cụ thể (hầm tự hoại 3 ngăn, hầm biogas hộ gia đình, sơ đồ xử lý nước thải chăn nuôi) gắn liền với đặc thù kinh tế - xã hội của vùng nông thôn và đô thị ven sông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số điểm hạn chế do giới hạn về nguồn lực và phạm vi nghiên cứu:

  • Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu kế thừa từ các chương trình quan trắc định kỳ với tần suất 2 đến 4 đợt/năm tại 8 trạm cố định, chưa có chuỗi số liệu quan trắc tự động liên tục để đánh giá các dao động đột biến về nồng độ chất ô nhiễm theo từng thời điểm trong ngày hoặc theo từng đỉnh triều.
  • Việc xác định lưu lượng sông tại các mặt cắt quan trắc để tính tải lượng tiếp nhận còn dựa nhiều vào số liệu thủy văn kế thừa và tính toán ước lượng, chưa thực hiện đo đạc thủy lực đồng thời tại thời điểm lấy mẫu nước mặt.
  • Nghiên cứu tập trung tính toán tải lượng từ 3 nguồn thải chính (sinh hoạt, chăn nuôi, công nghiệp), chưa định lượng chi tiết tải lượng ô nhiễm phân tán từ hoạt động canh tác nông nghiệp trồng lúa, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trên toàn lưu vực.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:

  • Ứng dụng các mô hình toán thủy lực và chất lượng nước (như QUAL2Kw hoặc MIKE 11) kết hợp với số liệu đo đạc lưu lượng thực tế để mô phỏng sự lan truyền chất ô nhiễm theo không gian hai chiều dưới tác động của thủy triều.
  • Tăng cường mạng lưới quan trắc tự động, quan trắc bổ sung nguồn thải nông nghiệp và nước chảy tràn bề mặt để nâng cao độ tin cậy trong đánh giá sức chịu tải của toàn lưu vực sông.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Công nghệ Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Tài nguyên nước có thể tham khảo phương pháp tính toán chỉ số VN_WQI từng bước theo Quyết định 1460/QĐ-TCMT và quy trình tính tải lượng tiếp nhận nguồn nước mặt theo Thông tư 02/2022/TT-BTNMT.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước như Chi cục Bảo vệ Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An và Tây Ninh sử dụng các kết quả đánh giá sức chịu tải và phân bổ nguồn ô nhiễm để phục vụ công tác cấp phép xả thải, quy hoạch lưu vực và kiểm soát ô nhiễm môi trường nước liên tỉnh.
  • Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 và Chương 3, nơi trình bày chi tiết công thức toán học, bảng hệ số tính WQI cho từng nhóm chất và các bảng số liệu tải lượng tối đa, tải lượng hiện có của 8 trạm quan trắc trên sông Vàm Cỏ Đông.

Câu hỏi thường gặp

1. Tuyến sông Vàm Cỏ Đông trong nghiên cứu bắt nguồn từ đâu và chảy qua các địa phương nào?
Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ phía Bắc tỉnh Svay Rieng (Campuchia) với tên gọi Prek Kampong Spean. Khi chảy vào Việt Nam qua biên giới, sông có tên bản địa là sông Cái Cay, lần lượt chảy qua các huyện Gò Dầu, Hòa Thành, Bến Cầu thuộc tỉnh Tây Ninh, sau đó qua các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Tân Trụ thuộc tỉnh Long An, rồi hợp lưu với sông Vàm Cỏ Tây tạo thành sông Vàm Cỏ đổ ra sông Soài Rạp và Biển Đông.

2. Khóa luận bố trí bao nhiêu điểm quan trắc chất lượng nước và tần suất lấy mẫu như thế nào?
Nghiên cứu khảo sát 8 điểm quan trắc cố định dọc tuyến sông (ký hiệu từ VCĐ-01 đến VCĐ-08), từ vị trí Vàm Bà Mảng (giáp ranh Long An – Tây Ninh) đến bến phà Tân Phước Tây – Tân Trụ. Tần suất quan trắc từ năm 2019 đến 2023 được thực hiện từ 2 đến 4 đợt/năm, chia đều theo hai mùa: mùa khô (tháng 11 và tháng 3) và mùa mưa (tháng 6 và tháng 9).

3. Khóa luận sử dụng các văn bản quy chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật nào để đánh giá chất lượng nước và sức chịu tải?
Nghiên cứu sử dụng Quyết định số 1460/QĐ-TCMT ngày 12/11/2019 của Tổng cục Môi trường để tính toán chỉ số chất lượng nước VN_WQI; áp dụng Thông tư 76/2017/TT-BTNMT kết hợp sửa đổi, bổ sung tại Điều 82 Thông tư 02/2022/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường để đánh giá tải lượng và sức chịu tải của sông; đồng thời dùng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08-MT:2023/BTNMT để làm ngưỡng giới hạn so sánh.

4. Hiện tượng nước sông đổi màu đen và bốc mùi cục bộ vào cuối mùa khô năm 2024 xuất phát từ những nguyên nhân nào?
Theo kết quả khảo sát của cơ quan chức năng được trích dẫn trong đồ án, hiện tượng này xảy ra do sông tiếp nhận gần 50.000 m³/ngày đêm nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý từ thị xã Hòa Thành, thị trấn Gò Dầu, thị xã Trảng Bàng, thị trấn Châu Thành, cùng nước thải của khoảng 2.977 cơ sở dịch vụ xả trực tiếp ra môi trường. Đồng thời, sự phát triển bùng phát của lục bình phủ kín mặt sông làm giảm nồng độ oxy hòa tan (DO), gia tăng COD, BOD và thúc đẩy quá trình phân hủy kỵ khí.

5. Tác giả đề xuất những giải pháp công nghệ - kỹ thuật cụ thể nào để giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước sông?
Các giải pháp công nghệ - kỹ thuật được đề xuất bao gồm: lắp đặt và vận hành đúng kỹ thuật mô hình hầm tự hoại 3 ngăn đối với nước thải sinh hoạt; xây dựng hầm biogas quy mô hộ gia đình để xử lý chất thải hữu cơ; và triển khai sơ đồ công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi tập trung trước khi xả thải ra lưu vực sông.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Tiền Lê Bảo Ngọc đã hoàn thành việc đánh giá diễn biến chất lượng nước mặt và sức chịu tải của sông Vàm Cỏ Đông giai đoạn 2019 – 2023 dựa trên chuỗi số liệu thực nghiệm tại 8 trạm quan trắc. Kết quả nghiên cứu chỉ ra tình trạng ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng tăng cao vào mùa khô tại các khu vực hợp lưu kênh rạch tiếp nhận nước thải công nghiệp và sinh hoạt đô thị. Bằng việc áp dụng các quy định cập nhật tại Quyết định 1460/QĐ-TCMT, Thông tư 02/2022/TT-BTNMT và QCVN 08-MT:2023/BTNMT, công trình đã cung cấp cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý thiết thực cho công tác bảo vệ môi trường nước lưu vực sông Vàm Cỏ Đông.