ĐẶT VẤN ĐỀ Cao su là một trong những cây có vai trò khá quan trọng đối với ngành công nghiệp của nƣớc ta cũng nhƣ các nƣớc khác thế giới. Hiện nay cao su đang đƣợc mở rộng diện tích và với việc áp dụng khoa học kỹ thuật nên cây cao su cho sản lƣợng mủ khá cao, đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế, cao su đang trở thành cây công nghiệp quan trọng của nƣớc ta. Đây là loại cây đa lợi ích - lấy gỗ, mủ, không chỉ giúp ngƣời dân ổn định về kinh tế, mà còn gắn họ với trách nhiệm là ngƣời chủ thật sự của các sản phẩm trên mảnh đất của họ, chăm lo cho sự phát triển của cây cao su. Cây cao su trở thành tài sản quốc gia không chỉ đem lại lợi ích của dân mà còn phát triển thành những khu rừng xanh tốt.
Trƣớc thực tế đó Đảng và Nhà nƣớc đã có những chính sách nhằm khuyến khích phát triển cây Cao su. Tuy nhiên phong trào trồng cây cao một cách ồ ạt, tự phát, theo trào lƣu có thể sẽ dẫn đến thiệt hại trực tiếp về kinh tế cho ngƣời dân và các ngành công nghiệp lấy nguyên liệu từ cây Cao su. Và hơn thế nữa là những thiệt hại sâu sắc về mặt môi trƣờng mà quá trình khắc phục phải cần thời gian dài, thậm chí có những giá trị hoàn toàn không thể lấy lại đƣợc. Trong các tài liệu nghiên cứu về cây cao su đề cập đến tác động môi trƣờng, chủ yếu tập chung nghiên cứu các mảng nhƣ: Nghiên cứu tác động của rừng cao su đến tính chất của đất; Nghiên cứu ảnh hƣởng của rừng Cao su đến một số yếu tố thuỷ văn; Nghiên cứu ảnh hƣởng của rừng cao su đến mức đa dạng thực vật và động vật đất.v…Gần đây nhất có công trình nghiên cứu về tác động môi trƣờng của rừng trồng cao su ở Việt Nam của PGS.TS Vƣơng Văn Quỳnh năm 2008.
Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu tác động môi trƣờng của rừng trồng cao su tới chất lƣợng nƣớc mặt còn khá mới mẻ chƣa có nghiên cứu cụ thể về vấn đề này. Để góp phần trả lời cho câu hỏi rừng trồng cao su có tác động nhƣ thế nào đến chất lƣợng nƣớc mặt và các giải pháp hạn chế các tác động xấu nếu có của rừng cao su đến chất lƣợng nƣớc mặt em đã lựa chọn và tiến hành thực hiện khóa luận: “Nghiên cứu ảnh hưởng của rừng trồng Cao Su đến chất lượng nước mặt tại Vườn Quốc Gia Bù Gia Mập – Tỉnh Bình Phước”. 11 Chƣơng 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về cây Cao su 2.
Lịch sử về cây Cao su Cây Cao su (Hevea brasiliensis Mull arg) thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), là một cây công nghiệp có giá trị, đƣợc phát hiện từ thế kỷ IX, có nguồn gốc từ vùng Amazon (Nam mỹ) đƣợc trồng ở một số vùng nhiệt đới nhƣ: Châu Mỹ la tinh, Châu Á và Châu Phi. Nó phân bố chủ yếu từ 24 o nam đến 23o bắc. Ở Đông Nam Á, lần đầu tiên cao su đƣợc trồng ở Java (Indonesia) vào năm 1876. Về sau các đồn điền cao su trở nên thịnh vƣợng nhờ thành tựu ứng dụng của sản phẩm cao su tự nhiên có chất lƣợng cao, việc trồng cây cao su đƣợc phát triển mạnh không những ở các đảo khác của Idonesia mà còn ở nhiều nƣớc khác của Đông Nam Á rồi đến các nƣớc khác của Châu Á, nhờ chƣơng trình sử dụng gỗ cao su đã mang lại hiệu quả tốt, nên diện tích trồng cao su đƣợc chú ý phát triển mạnh.
Ở Việt Nam, cây cao su đƣợc trồng từ năm 1897 do Raoul (một dƣợc sĩ hải quân Pháp) gửi một số hạt giống từ Java sang và đƣợc trồng đầu tiên tại Trạm thí nghiệm của ông Yên (Bến Cát - Bình Dƣơng). Qua hơn 100 năm cây Cao su luôn phát triển và đƣợc trồng ngày một nhiều tại Việt Nam. Chính phủ đã nhận thấy tầm quan trọng của cây cao su đối với đất nƣớc nên đã có kế hoạch trồng 500000 ha cây cao su vào năm 2000. Đặc tính sinh học của cây cao su Thân vỏ: thân mộc, cây sống lâu năm, khi sống hoang dại có thể sống đến 100 tuổi.
Khi trồng thành vƣờn có cạo mủ cây thƣờng không cao quá 25 m, thân thẳng, phân cành thấp, gỗ tƣơng đối mềm, vỏ bóng. Thân là thành phần kinh tế quan trọng nhất của cây cao su vì lớp mạch nhựa thƣờng tập chung nhiều ở tƣợng tầng. 12 Hoa cao su: hoa đơn tính đồng chu, nhiều hoa tập hợp lại dạng hình chùm, hoa cái ở đầu nhánh và hoa đực ở phía dƣới. Một chùm hoa lớn có thể có 3000 hoa.
Quả cao su: quả có 3 buồng, mỗi buồng chứa một hạt. Khi hạt chín quả tự nẻ tung hạt rơi xuống đất. Hạt cao su: hình bầu dục, đôi khi hơi dài hoặc hình tròn. Tóm lại cây cao su là cây thân gỗ sống lâu năm, rễ cọc, sinh trƣởng tốt nhất ở nhiệt độ 25oC, có thể sống đƣợc ở nhiệt độ 15 oC trong thời gian ngắn, thích hợp với điều kiện gió nhẹ vì gỗ giòn rễ gẫy, độ ẩm cao, mƣa nhiều từ 2000 mm/năm trở lên, số giờ nắng trên 1500 giờ/năm.
Giá trị sử dụng Sản phẩm chính của cây Cao su là mủ cao su và nó đƣợc xếp là một trong những nguyên liệu chính của nền công nghiệp hiện đại, xếp hàng thứ tƣ sau: dầu mỏ, than đá và gang thép. Ngoài ra hạt và gỗ cao su là những sản phẩm phụ có giá trị, có thể lấy để ép dầu, khô dầu còn đƣợc lấy để làm thức ăn cho gia súc, làm phân bón cho cây, dầu cao su có thể pha chế các loại sơn rất tốt, làm xà phòng, làm ván ép. Diện tích trồng Cao su trên thế giới Hiện nay, Châu Á là châu lục có sản lƣợng và diện tích trồng Cao su lớn nhất thế giới trong đó 5 nƣớc trồng Cao su nhiều nhất là: Indonesia, Thái Lan, Malaisia, Trung Quốc và Ấn Độ. Sản lƣợng các nƣớc này chiếm trên 80% tổng sản lƣợng của thế giới.
Tình hình nghiên cứu về cây Cao su trong và ngoài nƣớc. Nhìn chung trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về cây Cao su từ việc: gây trồng, kỹ thuật chăm sóc, lấy mủ, giá trị sử dụng, hiệu quả kinh tế, công nghệ chế biến…của các cơ quan tổ chức quốc tế nhƣ: - Trung tâm Kỹ thuật lâm nghiệp nhiệt đới, Pháp. 13 - Viện Nghiên cứu Wihelm – Klauditz, Đức. - Viện Lâm nghiệp – Đại học Torino, Italia.
- Trƣờng đại học Nam Kinh Trung Quốc. - Trung tâm lâm nghiệp Bôgr Indonesia. - Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Ma Lai. - Viện nghiên cứu Cao su Ấn Độ v.v… Một số công trình nghiên cứu điển hình nhƣ: Năm 1990, Zanuttini, (Trƣờng đại học Torino, Italia) khi nghiên cứu về gỗ cao su, khẳng định khối lƣợng thể tích, tích chất cơ lý và thành phần hoá học của gỗ cao su thích hợp cho sản xuất ván nhân tạo.
Năm 1989 Reghu (Viện nghiên cứu cao su Ấn Độ) đã nghiên cứu về bảo quản gỗ cao su. Quyển sách đƣợc nhiều ngƣời trồng cao su Việt Nam biết đến là “Quy trình kỹ thuật cao su” đƣợc Tổng công ty cao su Việt Nam xuất bản năm 1997. Công trình này đƣợc kế thừa từ: “Quy trình kỹ thuật trồng mới – khai thác – chăm sóc cao su” và kinh nghiệm đúc kết thực tiễn sản xuất. Tiếp đến là cuốn “Kỹ thuật trồng, chăm sóc, chế biến cao su” của Nguyễn Khoa Chi năm 1997 giới thiệu tầm quan trọng, giá trị kinh tế cây cao su và kỹ thuật trồng nó.
Trần Ngọc Kham với công trình “Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng cao su phủ xanh đất trống sau nƣơng rẫy ở Đắc Lắc” cho thấy về dài hạn cây cao su mang lại lợi ích tƣ nhân và lợi ích kinh tế xã hội cao hơn canh tác nƣơng rẫy truyền thống. Nguyễn Thị Huệ (1994) đã nghiên cứu sự biến đổi hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng trong lá cao su trên một số vùng đất đai đại diện cho diện tích cao su đã trồng ở Đông Nam Bộ. Các tác giả khác nhƣ: Trần Hợp, Ngô Văn Hoàng, Phạm Ngọc Nam, Hồ Xuân Các…cũng đã đi sâu vào nghiên cứu cấu tạo gỗ, khả năng sử dụng gỗ, các 14 phƣơng pháp sử dụng gỗ cao su. Nghiên cứu về nƣớc mặt trên Thế giới và ở Việt Nam 2.
Trên thế giới. Một nghiên cứu về chất lƣợng nƣớc mặt trong vùng Piedmont của Baltimore County, Maryland đã đƣợc tiến hành từ năm 1994 và 1996 trong một dự án hợp tác giữa Baltimore County Cục Bảo vệ Môi trƣờng (DEPRM), các Maryland Khảo sát Địa chất (MGS), và Địa chất Hoa Kỳ Khảo sát (USGS) (Bolton, 1998). Nghiên cứu này cung cấp một đánh giá chất lƣợng nƣớc mặt đối với Liên Bang, và các yếu tố khác, và là cơ sở dữ liệu trong tƣơng lai, chất lƣợng nƣớc đƣợc so sánh để đánh giá những thay đổi về mặt bằng chất lƣợng nƣớc theo thời gian. Vào những năm 1970, trạm nghiên cứu sinh thái và thủy văn rừng Coweeta (Swank and Crossley, 1988) có công trình nghiên cứu ảnh hƣởng của làm đất, thuốc trừ cỏ và lửa rừng tới chất lƣợng nƣớc ở các khe suối.
Công trình nghiên cứu này đƣợc các nhà khoa học đánh giá cao vào giai đoạn đó. Công trình nghiên cứu về nƣớc mặt tại việt nam điển hình nhƣ: - Công trình nghiên cứu đánh giá chất lƣợng nƣớc hồ Trị An của PGS. Với Mục đích phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội Miền Đông. - Công trình nghiên cứu chất lƣợng nƣớc mặt tại kênh rạch Bần của hai tác giả Bùi Thị Nga và Bùi Anh Thƣ, 2005.
Kết quả cho thấy mức độ ô nhiễm môi trƣờng nƣớc tại kênh rạch Bần là rất nghiêm trọng, đặc biệt nƣớc mặt bị ô nhiễm trầm trọng hơn vào thời điểm mùa nắng so với mùa mƣa. - Công trình nghiên cứu chỉ số chất lƣợng nƣớc để đánh giá và phân vùng chất lƣợng nƣớc sông Hậu của TS. Tôn Thất Lãng. Kết quả tính toán chỉ số chất lƣợng nƣớc WQI, chất lƣợng nƣớc sông Hậu đang giảm thấp qua các năm do sự gia tăng dân số, phát triển đô thị và công nghiệp.
15 - Công trình nghiên cứu sử dụng động vật không xƣơng sống cỡ lớn để đánh giá chất lƣợng nƣớc trên bốn hệ thống kênh chính tại TP. Hồ Chí Minh của hai tác giả Trƣơng Thanh Cảnh và Ngô Thị Trâm Anh, ĐHQG – HCM. Kết quả hầu hết các kênh chính tại TP. Hồ Chí Minh đều bị ô nhiễm nặng, nhất là kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè.