Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Tài nguyên nước mặt đóng vai trò thiết yếu đối với hệ sinh thái và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, áp lực gia tăng dân số cùng tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng đã làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn gay gắt trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước. Tại thành phố Sơn La, suối Nặm La là dòng chảy mặt huyết mạch bắt nguồn từ các dãy núi cao thuộc huyện Thuận Châu và huyện Mai Sơn, chảy qua khu vực trung tâm thành phố theo hướng Tây Nam - Đông Bắc trước khi đổ vào hệ thống hang ngầm tại khu vực xã Chiềng Xôm. Dòng suối vừa giữ chức năng thoát lũ từ thượng nguồn, vừa là nguồn cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp thủy điện và sinh hoạt dân sinh.
Trong những năm gần đây, suối Nặm La phải tiếp nhận khối lượng lớn nước thải sinh hoạt đô thị, nước thải chế biến công nghiệp, nước thải y tế và nước thải nông nghiệp hầu hết chưa qua xử lý triệt để. Các kết quả quan trắc định kỳ cho thấy chất lượng nước suối có dấu hiệu suy giảm rõ rệt, nguy cơ ô nhiễm gia tăng cục bộ, đe dọa trực tiếp đến an ninh nguồn nước và sự phát triển bền vững của khu vực. Xuất phát từ thực trạng đó, đề tài khóa luận "Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt suối Nặm La đoạn chảy qua thành phố Sơn La" được sinh viên Phan Đức An (ngành Khoa học Môi trường, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp) thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Bùi Văn Năng và CN. Trần Thị Đăng Thủy.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Góp phần bảo vệ môi trường nước mặt, giảm thiểu tác động tiêu cực của các hoạt động sản xuất và sinh hoạt tới chất lượng nước mặt cho địa phương.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được chất lượng nước mặt của suối Nặm La đoạn chảy qua thành phố Sơn La, từ xã Huôi La (Hua La) đến xã Chiềng Xôm với chiều dài khoảng 12 km.
- Đề xuất được các giải pháp quản lý nhằm bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng nước mặt suối Nặm La.
Nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm gồm:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất và sinh hoạt đến chất lượng nước suối Nặm La.
- Đo đạc, phân tích và đánh giá mức độ ô nhiễm của suối Nặm La tại thời điểm khảo sát thực địa dựa trên các chỉ tiêu quy định trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
- Đề xuất hệ thống giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực từ các nguồn thải sinh hoạt và sản xuất đến dòng suối.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng chất lượng nước mặt suối Nặm La.
- Phạm vi không gian: Đoạn suối chảy qua địa bàn thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, giới hạn từ xã Huôi La đến xã Chiềng Xôm (chiều dài khoảng 12 km).
- Phạm vi thời gian: Đợt thực tập và khảo sát thực địa diễn ra từ ngày 01/03/2017 đến ngày 01/05/2017, kết hợp kế thừa chuỗi số liệu quan trắc môi trường năm 2015 và 2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên khung pháp lý của Luật Tài nguyên nước năm 2012 (Điều 2 quy định về tài nguyên nước mặt) và áp dụng Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột A2 – quy định giá trị giới hạn các thông số chất lượng nước mặt dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng phải áp dụng công nghệ xử lý phù hợp, bảo tồn động thực vật thủy sinh, hoặc các mục đích sử dụng như loại B1 và B2).
Hệ thống phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ gồm 6 phương pháp:
- Phương pháp liệt kê: Nhận diện và thống kê toàn diện các nguồn xả thải dọc lưu vực (nước thải sinh hoạt, cơ sở công nghiệp chế biến, bệnh viện, chăn nuôi, trồng trọt cà phê).
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu kết quả phân tích nồng độ các thông số lý - hóa - sinh với ngưỡng giới hạn của QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột A2).
- Phương pháp kế thừa: Khai thác chuỗi số liệu thứ cấp từ Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Sơn La năm 2015, 2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường và Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của dự án kè suối Nặm La.
- Phương pháp thống kê: Xử lý các số liệu khí tượng, thủy văn, địa chất và kinh tế - xã hội thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Sơn La năm 2016.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Khảo sát hiện trạng dọc hai bên bờ suối qua các xã Hua La, Chiềng Cơi, Chiềng An và xã Chiềng Xôm để lập mạng lưới điểm lấy mẫu.
- Phương pháp đo đạc, lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm: Thiết lập 7 điểm quan trắc đại diện (từ NM127 đến NM133).
Trang thiết bị quan trắc hiện trường bao gồm: Máy định vị vệ tinh GPS Map 78 (Garmin - USA), Máy đo pH (Hanna), Máy phân tích nước đa chỉ tiêu YSI (Mỹ), Thiết bị lấy mẫu nước theo chiều ngang Cole-parmer (Mỹ) và Thùng bảo quản mẫu chuyên dụng (Đức).
Quy trình lấy mẫu, bảo quản và phân tích tuân thủ nghiêm ngặt các Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và Tiêu chuẩn quốc tế (SMEWW):
- Lấy mẫu và bảo quản: TCVN 6663-6:2008 (kỹ thuật lấy mẫu sông suối), TCVN 6663-3:2008 (hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu), TCVN 8880:2011 (lấy mẫu phân tích sinh vật). Mẫu được định lượng 3,0 lít đựng trong bình Polyetylen (chia các bình bảo quản bằng $H_2SO_4$, $HNO_3$, $NaOH$ và không hóa chất) cùng chai thủy tinh tối màu bảo quản lạnh ở nhiệt độ 2°C - 5°C.
- Phân tích thông số: TSS theo TCVN 6625:2000; $BOD_5$ theo QTNB-PTN-01; COD theo SMEWW 5220C:2012; $NH_4^+$ theo TCVN 6179-1:1996; $NO_2^-$ theo TCVN 6178:1996; $PO_4^{3-}$ theo TCVN 6202:2008; $Cl^-$ theo TCVN 6194:1996; $F^-$ theo SMEWW 4500 F-D:2012; $CN^-$ theo SMEWW 4500 CN-E:2012; các kim loại nặng (As, Pb, Cd, Cu, Zn, Fe, Cr) theo SMEWW 3113:2012, SMEWW 3111B:2012, SMEWW 3500 Cr-B:2012; Hg theo TCVN 7877:2008; Coliform và E.Coli theo quy trình nội bộ QTNB-PTN-08 và QTNB-PTN-09.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài nguyên nước mặt, các dạng ô nhiễm và nguồn gốc hình thành. Tác giả phân tích các thông số vật lý (Độ màu, Độ đục, TSS), hóa học (pH, DO, BOD, COD, hợp chất Nitơ, Phosphat, Clorua, Florua, kim loại nặng, hóa chất BVTV) và sinh học (Coliform, E.Coli).
Về hiện trạng khai thác, tổng trữ lượng nước mặt suối Nặm La ước tính khoảng 2,9 tỷ $m^3$, phân bổ cho các mục đích:
- Nước cho ăn uống và sinh hoạt: chiếm 1,0%.
- Nước cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp (chủ yếu cung cấp cho 02 nhà máy thủy điện Nậm Chanh và Nậm La): chiếm 97,9%.
- Nước phục vụ các nhu cầu khác: chiếm 0,2%.
Dữ liệu quan trắc thứ cấp giai đoạn 2015 - 2016 tại 3 vị trí (Chân cầu bản Pọng, Chân cầu Trắng, Chân cầu bản Tông) cho thấy có 16/23 chỉ tiêu đạt chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột A2). Một số thông số ô nhiễm vượt ngưỡng gồm:
- DO dao động từ 4,5 – 5,5 mg/L (nhiều thời điểm thấp hơn ngưỡng quy định $\ge 5$ mg/L).
- TSS dao động từ 24 – 1.108 mg/L (đợt 1/2015 tại bản Tông vượt 36,9 lần quy chuẩn).
- $BOD_5$ dao động từ 5,0 – 12,3 mg/L (đợt 1/2015 tại Cầu Trắng đạt 12,3 mg/L, vượt hơn 2 lần quy chuẩn 6 mg/L).
- Amoni ($NH_4^+$) dao động từ 0,02 – 0,99 mg/L (đợt 1/2016 tại Cầu Trắng vượt 3,3 lần).
- E.Coli tại đợt 1/2015 đạt 1.200 MPN/100 mL tại Cầu Trắng, vượt quy chuẩn cho phép 24 lần.
Chương 2: Đối tượng, mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế mạng lưới quan trắc khảo sát thực nghiệm đợt tháng 4/2017 với 7 vị trí đại diện:
| Ký hiệu |
Tên điểm quan trắc |
Tọa độ Kinh độ (Đông) |
Tọa độ Vĩ độ (Bắc) |
Loại hình điểm quan trắc |
| NM127 |
Sau hồ bản Mòng, xã Huôi La |
103°53.619' |
21°16.721' |
Môi trường nền |
| NM128 |
Chân cầu bản Pọng, xã Huôi La |
103°54.302' |
21°18.364' |
Môi trường tác động |
| NM129 |
Chân cầu Trắng |
103°54.488' |
21°19.352' |
Môi trường tác động |
| NM130 |
Chân cầu Nặm La, phường Chiềng Lề |
103°54.556' |
21°20.366' |
Môi trường tác động |
| NM131 |
Chân cầu bản Hài, xã Chiềng An |
103°54.851' |
21°21.356' |
Môi trường tác động |
| NM132 |
Chân cầu Bản Tông, xã Chiềng Xôm |
103°54.390' |
21°22.280' |
Môi trường tác động |
| NM133 |
Chân cầu Bản Sẳng, xã Chiềng Xôm |
103°55.764' |
21°23.982' |
Môi trường tác động |
Chương này cũng mô tả chi tiết phương pháp bảo quản lạnh, cố định mẫu hóa học, danh mục thiết bị và giới hạn phát hiện của các phương pháp thử nghiệm phòng thí nghiệm.
Chương 3: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
- Điều kiện tự nhiên: Khu vực nằm trong vùng địa hình Karst hóa mạnh, độ cao trung bình 700 - 800 m so với mực nước biển (độ cao lưu vực trung bình 886 m). Diện tích lưu vực suối Nặm La là 446,5 $km^2$, độ dốc lưu vực 45,2%, chiều dài dòng chính 58,56 km. Mật độ suối trong lưu vực ở mức nghèo (0,42 $km/km^2$). Vùng hạ lưu tả ngạn suối có tỷ lệ đá vôi chiếm tới 43,6%, dòng chảy phải tiêu thoát qua hệ thống hang Karst tại Chiềng Xôm rồi chảy ngầm qua đèo Cao Pha trên 4 km. Khí hậu nhiệt đới gió mùa: nhiệt độ trung bình 22°C, lượng bốc hơi bình quân 1.068 mm/năm. Hệ sinh thái thủy sinh nghèo nàn, thực vật ven bờ chủ yếu là tre, mai dương và lau sậy.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Năm 2016, dân số thành phố đạt 98.375 người (thành thị chiếm 67,27%), mật độ trung bình 303 người/$km^2$ (tập trung cao tại Chiềng Lề 4.603 người/$km^2$, Tô Hiệu 4.326 người/$km^2$). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch: dịch vụ chiếm 39,42%, công nghiệp chiếm 48,60%, nông nghiệp chiếm 11,98%. Toàn thành phố có 702 cơ sở sản xuất công nghiệp (686 cơ sở chế biến), 3.990 ha đất trồng cà phê (sản lượng 5.705 tấn) và 81 công trình thủy lợi.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết quả phân tích 20 chỉ tiêu chất lượng nước mặt tại 7 điểm quan trắc vào tháng 4/2017 được tổng hợp và đối chiếu với QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột A2):
| STT |
Chỉ tiêu phân tích |
Đơn vị |
Sau hồ bản Mòng (NM127) |
Chân cầu bản Pọng (NM128) |
Chân cầu Trắng (NM129) |
Chân cầu Nặm La (NM130) |
Chân cầu bản Hài (NM131) |
Chân cầu Bản Tông (NM132) |
Chân cầu Bản Sẳng (NM133) |
QCVN 08-MT:2015 /BTNMT (Cột A2) |
| 1 |
pH |
- |
7,5 |
7,6 |
7,6 |
7,6 |
7,5 |
7,6 |
7,6 |
6 - 8,5 |
| 2 |
Ôxy hòa tan (DO) |
mg/L |
5,7 |
5,1 |
4,3 |
4,0 |
4,7 |
4,7 |
4,9 |
$\ge 5$ |
| 3 |
TSS |
mg/L |
48 |
49 |
56 |
209 |
196 |
156 |
141 |
30 |
| 4 |
$BOD_5$ ($20^\circ C$) |
mg/L |
4,3 |
5,7 |
6,9 |
7,7 |
7,3 |
6,7 |
7,0 |
6 |
| 5 |
COD |
mg/L |
10,7 |
12 |
11 |
14 |
13 |
12 |
13 |
15 |
| 6 |
Amoni ($NH_4^+$) |
mg/L |
0,51 |
0,58 |
0,75 |
1,19 |
0,82 |
0,91 |
0,82 |
0,3 |
| 7 |
Nitrit ($NO_2^-$) |
mg/L |
0,011 |
0,09 |
0,08 |
0,11 |
0,09 |
0,04 |
0,05 |
0,05 |
| 8 |
Nitrat ($NO_3^-$) |
mg/L |
< 0,06 |
0,09 |
0,05 |
0,13 |
0,10 |
0,14 |
0,07 |
5 |
| 9 |
Phosphat ($PO_4^{3-}$) |
mg/L |
< 0,03 |
0,08 |
0,07 |
0,31 |
0,30 |
0,28 |
0,09 |
0,2 |
| 10 |
Florua ($F^-$) |
mg/L |
0,10 |
0,15 |
0,16 |
0,13 |
0,11 |
0,16 |
0,14 |
1,5 |
| 11 |
Xianua ($CN^-$) |
mg/L |
< 0,0005 |
< 0,0005 |
< 0,0005 |
< 0,0005 |
< 0,0005 |
< 0,0005 |
< 0,0005 |
0,05 |
| 12 |
Asen (As) |
mg/L |
< 0,0014 |
< 0,0014 |
< 0,0014 |
< 0,0014 |
< 0,0014 |
< 0,0014 |
< 0,0014 |
0,02 |
| 13 |
Cadimi (Cd) |
mg/L |
< 0,0001 |
< 0,0001 |
< 0,0001 |
< 0,0001 |
< 0,0001 |
< 0,0001 |
< 0,0001 |
0,005 |
| 14 |
Chì (Pb) |
mg/L |
< 0,0018 |
< 0,0018 |
< 0,0018 |
< 0,0018 |
< 0,0018 |
< 0,0018 |
< 0,0018 |
0,05 |
| 15 |
Đồng (Cu) |
mg/L |
< 0,03 |
< 0,03 |
< 0,03 |
< 0,03 |
< 0,03 |
< 0,03 |
< 0,03 |
0,2 |
| 16 |
Kẽm (Zn) |
mg/L |
0,05 |
< 0,03 |
< 0,03 |
< 0,03 |
< 0,03 |
< 0,03 |
< 0,03 |
1 |
| 17 |
Thủy ngân (Hg) |
mg/L |
< 0,0001 |
< 0,0001 |
< 0,0001 |
< 0,0001 |
< 0,0001 |
< 0,0001 |
< 0,0001 |
0,001 |
| 18 |
Crôm VI ($Cr^{6+}$) |
mg/L |
< 0,005 |
< 0,005 |
< 0,005 |
< 0,005 |
< 0,005 |
< 0,005 |
< 0,005 |
0,02 |
| 19 |
Coliform |
MPN/100mL |
1.100 |
1.200 |
1.300 |
1.400 |
1.500 |
1.700 |
1.800 |
5.000 |
| 20 |
E.Coli |
PPN/100mL |
100 |
200 |
200 |
600 |
900 |
1.100 |
1.800 |
50 |
Kết quả cho thấy có 13/20 chỉ tiêu đạt quy chuẩn. 7 chỉ tiêu có hiện tượng biến động và vượt ngưỡng cho phép:
- DO: Dao động 4,0 – 5,7 mg/L. Chỉ có 2/7 điểm đạt chuẩn (NM127 và NM128). 5/7 điểm còn lại không đạt ngưỡng ($\ge 5$ mg/L), thấp nhất tại chân cầu Nặm La (4,0 mg/L). Nồng độ DO giảm mạnh khi dòng suối đi vào trung tâm thành phố và tăng nhẹ trở lại ở vùng hạ lưu.
- TSS: 7/7 điểm quan trắc đều vượt giới hạn quy chuẩn (30 mg/L), dao động từ 48 – 209 mg/L. Giá trị cao nhất ghi nhận tại cầu Nặm La (209 mg/L, vượt 6,97 lần).
- $BOD_5$: Có 5/7 điểm vượt quy chuẩn (6 mg/L), dao động từ 4,3 – 7,7 mg/L, cao nhất tại chân cầu Nặm La (7,7 mg/L).
- Amoni ($NH_4^+$): Toàn bộ 7/7 điểm đều vượt quy chuẩn (0,3 mg/L), dao động 0,51 – 1,19 mg/L, đỉnh điểm tại cầu Nặm La đạt 1,19 mg/L (vượt 3,96 lần).
- Nitrit ($NO_2^-$) và Phosphat ($PO_4^{3-}$): Vượt quy chuẩn tại các điểm chịu tác động đô thị và nông nghiệp (Nitrit đạt 0,11 mg/L tại cầu Nặm La; Phosphat đạt 0,31 mg/L tại cầu Nặm La và 0,30 mg/L tại bản Hài).
- E.Coli: 7/7 điểm đều vượt ngưỡng 50 PPN/100 mL, dao động từ 100 đến 1.800 PPN/100 mL, tăng mạnh về phía hạ lưu (bản Tông, bản Sẳng).
- Các chỉ tiêu kim loại nặng (As, Cd, Pb, Cu, Zn, Hg, $Cr^{6+}$) và Xianua đều nằm trong giới hạn cho phép hoặc dưới ngưỡng phát hiện.
Chương này cũng phân tích hiện trạng công tác quản lý môi trường nước của UBND tỉnh và thành phố Sơn La, chỉ ra các tồn tại như hạ tầng xử lý nước thải chưa đồng bộ, thiếu nguồn lực quan trắc định kỳ và ý thức chấp hành môi trường của các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ chưa cao. Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm thiểu ô nhiễm từ nguồn thải.
Chương 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị
Tóm kết toàn bộ phát hiện nghiên cứu, đánh giá mức độ ô nhiễm nước mặt suối Nặm La ở mức độ nhẹ đến trung bình mang tính cục bộ tại vùng lõi đô thị. Đồng thời, chương này nêu rõ các tồn tại trong quá trình thực hiện đề tài và đưa ra các kiến nghị quản lý đối với cơ quan chức năng địa phương.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã lượng hóa được hiện trạng chất lượng nước mặt suối Nặm La thông qua việc kết hợp chuỗi dữ liệu lịch sử (2015 - 2016) và số liệu đo đạc thực tế tháng 4/2017:
- Xác định rõ hiện tượng ô nhiễm hữu cơ ($BOD_5$), ô nhiễm dinh dưỡng (Amoni, Nitrit, Phosphat), chất rắn lơ lửng (TSS) và ô nhiễm vi sinh (E.Coli) tập trung chủ yếu tại khu vực nội thành (đặc biệt là đoạn qua cầu Nặm La, phường Chiềng Lề) và vùng hạ lưu (xã Chiềng Xôm).
- Làm rõ nguyên nhân gây suy giảm chất lượng nước bắt nguồn từ: nước thải sinh hoạt đô thị xả trực tiếp; nước thải sản xuất từ 686 cơ sở chế biến quy mô nhỏ; nước thải y tế; dư lượng phân bón và chất thải chăn nuôi từ 3.990 ha cà phê và hoạt động canh tác nông nghiệp dọc hai bờ suối.
Hệ thống giải pháp do tác giả đề xuất bao gồm:
- Tăng cường nguồn lực quản lý: Kiện toàn bộ máy nhân sự chuyên trách, nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý môi trường cấp xã/phường; đẩy mạnh phối hợp liên ngành trong thanh tra, kiểm tra việc xả thải.
- Đầu tư cơ sở hạ tầng và trang thiết bị: Xây dựng hệ thống thu gom và trạm xử lý nước thải tập trung cho đô thị thành phố Sơn La; bổ sung trang thiết bị phân tích hiện đại cho Trung tâm Quan trắc tài nguyên và Môi trường tỉnh.
- Thực thi đồng bộ các biện pháp quản lý: Kiểm soát chặt chẽ quy hoạch xả thải, giám sát định kỳ lưu lượng và chất lượng nước mặt suối Nặm La; xử lý nghiêm các hành vi xả thải vượt chuẩn.
- Giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn: Bắt buộc các cơ sở sản xuất công nghiệp, bệnh viện đầu tư hệ thống xử lý nước thải cục bộ đạt chuẩn trước khi thoát ra suối; khuyến khích áp dụng sản xuất sạch hơn (SXSH); tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư.
Đóng góp của đề tài thể hiện ở việc cung cấp bức tranh dữ liệu quan trắc không gian chi tiết (7 điểm đo đạc thực địa) trên chiều dài 12 km suối Nặm La tại thời điểm năm 2017, làm rõ mức độ suy giảm chất lượng nước cục bộ do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận đã chỉ ra các hạn chế cụ thể trong quá trình thực hiện:
- Giới hạn về thời gian và phạm vi: Thời gian thực tập ngắn (2 tháng), trong khi phạm vi nghiên cứu trải dài 12 km khiến việc thu thập dữ liệu về một số nguồn thải chuyên biệt chưa thực sự bao quát.
- Thiếu hụt chỉ tiêu phân tích chuyên sâu: Do kinh phí phân tích mẫu cao và điều kiện trang thiết bị phòng thí nghiệm tại địa phương thời điểm năm 2017 chưa đáp ứng, đề tài chưa tiến hành phân tích được các chỉ tiêu về hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật, hóa chất trừ cỏ phát sinh từ các vùng trồng lúa, ngô và cà phê.
- Hướng mở rộng nghiên cứu: Cần tiếp tục quan trắc mở rộng theo các mùa trong năm (mùa mưa và mùa khô), bổ sung các chỉ tiêu hóa chất bảo vệ thực vật và kim loại vi lượng độc hại, đồng thời xây dựng mô hình tính toán khả năng tự làm sạch và sức chịu tải của suối Nặm La.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường: tham khảo quy trình thiết kế mạng lưới quan trắc hiện trường sông suối, phương pháp cố định/bảo quản mẫu nước và cấu trúc phân tích số liệu chất lượng nước mặt so với quy chuẩn quốc gia.
- Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Sơn La): tham khảo hệ thống dẫn liệu quan trắc thực tế để phục vụ công tác quy hoạch bảo vệ lưu vực suối Nặm La, xây dựng phương án thoát lũ và kiểm soát các điểm nóng xả thải.
Câu hỏi thường gặp
1. Tổng trữ lượng nước mặt suối Nặm La là bao nhiêu và cơ cấu sử dụng nước được phân bổ như thế nào?
Tổng trữ lượng nước mặt suối Nặm La ước tính khoảng 2,9 tỷ $m^3$. Cơ cấu sử dụng nước gồm: nước phục vụ ăn uống sinh hoạt chiếm 1,0%; nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp (chủ yếu cung cấp cho 02 nhà máy thủy điện Nậm Chanh và Nậm La) chiếm 97,9%; các nhu cầu khác chiếm 0,2%.
2. Đoạn suối nào trên suối Nặm La ghi nhận mức độ ô nhiễm cao nhất trong đợt khảo sát tháng 4/2017?
Vị trí chân cầu Nặm La (thuộc phường Chiềng Lề, điểm quan trắc NM130) ghi nhận mức độ ô nhiễm cao nhất với hàm lượng DO thấp nhất (4,0 mg/L), đồng thời có các chỉ số ô nhiễm cao nhất toàn tuyến: TSS đạt 209 mg/L (vượt 6,97 lần QCVN), $BOD_5$ đạt 7,7 mg/L (vượt 1,28 lần), Amoni đạt 1,19 mg/L (vượt 3,96 lần) và Phosphat đạt 0,31 mg/L (vượt 1,55 lần).
3. Đặc điểm địa chất Karst tại khu vực nghiên cứu ảnh hưởng như thế nào đến chế độ thủy văn của suối Nặm La?
Lưu vực suối Nặm La có tỷ lệ đá vôi chiếm tới 43,6% (đặc biệt từ trung lưu đến hạ lưu tả ngạn). Dòng chảy suối trước khi hợp lưu với suối Nậm Pàn phải chảy qua các hang Karst tại xã Chiềng Xôm (bản Nà Mường, bản Ái, bản Sẳng) rồi chảy ngầm qua đèo Cao Pha trên 4 km. Tình trạng bồi lắng phù sa tại các cửa hang Karst làm cản trở tiêu thoát lũ, thường gây ngập lụt cục bộ tại các vùng trũng của thành phố Sơn La khi có mưa lớn.
4. Khóa luận đã sử dụng những thiết bị đo đạc và lấy mẫu hiện trường nào?
Tác giả đã sử dụng Máy định vị vệ tinh GPS Map 78 (Garmin - USA), Máy đo pH (Hanna), Máy phân tích nước đa chỉ tiêu YSI (Mỹ), Thiết bị lấy mẫu nước theo chiều ngang Cole-parmer (Mỹ) và Thùng bảo quản mẫu của Đức.
5. Vì sao đề tài chưa phân tích hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong nước suối dù khu vực có diện tích trồng trọt lớn?
Theo trình bày của tác giả ở mục giới hạn đề tài, việc phân tích hóa chất bảo vệ thực vật và thuốc trừ cỏ chưa thể thực hiện do kinh phí phân tích mẫu cao và điều kiện năng lực phòng thí nghiệm tại Sơn La ở thời điểm nghiên cứu chưa đáp ứng được phép thử này.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phan Đức An đã cung cấp bức tranh chi tiết về hiện trạng chất lượng nước mặt suối Nặm La đoạn chảy qua thành phố Sơn La giai đoạn 2015 - 2017. Kết quả nghiên cứu xác định dòng nước đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, chất rắn lơ lửng, chất dinh dưỡng và vi sinh cục bộ tại khu vực đô thị trung tâm, không đảm bảo tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột A2). Công trình là tài liệu nghiên cứu thực nghiệm có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quy hoạch, quản lý và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mặt tại địa phương.