Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Cách xác định chất thải y tế Chất thải y tế: Là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, xét nghiệm, chuẩn đoán, các hoạt động trong công tác phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y sinh học. Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và khí.
Chất thải y tế thường bao gồm cả các loại chất thải có đặc tính và tác động đối với môi trường sức khoẻ giống như các chất thải thông thường khác.[4] Để xác định nguồn phát thải, tải lượng của chất thải y tế nói chung và tỷ lệ chất thải rắn nguy hại nói riêng có rất nhiều cách đánh giá khác nhau và chưa thực sự thống nhất. Một cách tiếp cận thuyết phục để có thể dự báo, ước lượng chất thải y tế nói chung và số lượng hay tỷ lệ chất thải y tế nguy hại nói riêng phải dựa vào các yếu tố sau như: Số lượng, đặc điểm, phạm vi cứu chữa, qui mô khám bệnh, điều trị của tất cả các cơ sở y tế. Số lượng giường bệnh tại bệnh viện và các cơ sở y tế có giường bệnh từ tuyến huyện và tương đương trở lên bao gồm cả các bệnh viện do ngành y tế quản lý và do các ngành khác quản lý. Lượng chất thải y tế phát thải mỗi ngày xác định theo giường bệnh (giường bệnh của cấp bệnh viện) mỗi ngày.
Tỷ lệ chất thải y tế nguy hại trên tổng chất thải y tế chung của giường bệnh (giường bệnh cấp bệnh viện) mỗi ngày.[4] Trên cơ sở này, có thể áp dụng ước lượng khối lượng chất thải của bệnh viện cụ thể của khu vực, thậm chí có thể ước lượng khối lượng chất thải rắn cho phạm vi toàn quốc. Các cơ sở y tế ở Việt Nam chủ yếu thuộc ngành y tế được tổ chức phân bố theo 4 cấp: Các cơ sở y tế trực thuộc Bộ Y Tế Các cơ sở y tế trực thuộc tỉnh. 5 Các cơ sở y tế tuyến huyện. Các cơ sở y tế tuyến xã và tương đương.
Trong đó, qui mô bệnh viện có từ tuyến huyện gọi là bệnh viện huyện, tuyến tỉnh gọi là bệnh viện tỉnh và tuyến sau cùng là các bệnh viện tuyến Trung Ương. Đa số các bệnh viện của các tuyến là qui mô bệnh viện đa khoa, một số bệnh viện chuyên khoa. Các bệnh viện nêu trên là các cơ sở y tế có giường bệnh, thường xuyên hoạt động khám chữa bệnh và cũng thường xuyên phát thải chất thải rắn y tế. Khuynh hướng phát thải chất thải y tế 1.
Đối với chất thải y tế chung Tổng lượng chất thải y tế chung ít biến đổi do tổng số giường bệnh tương đối ổn định. Mặc dù có sự gia tăng số giường bệnh của các bệnh viện tuyến huyện trở lên trong các giai đoạn từ 1995 tới nay nhưng số giường bệnh tại các cơ sở y tế khác như trạm y tế cơ quan, điều dưỡng lại giảm. Chất thải y tế nguy hại Chất thải y tế nguy hại: Là chất thải có một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan con người, động vật, bơm, kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hoá chất và các chất phóng xạ dùng trong y tế. Nếu những chất này không được huỷ sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khoẻ con người.[29] Tuy tổng thải chung chất thải y tế tăng ít hoặc chỉ tăng nhẹ, nhưng lượng chất thải y tế nguy hại phải xử lý đặc biệt lại gia tăng lên theo thời gian do 2 xu thế sau: Tăng tỷ lệ sử dụng các dụng cụ dùng một lần như kim bơm tiêm, đè lưỡi, găng tay phẫu thuật, ống thông, túi thu dịch dẫn lưu, bông băng, vải trải phẫu thuật, quần áo phẫu thuật.
Tăng số lượng các giường bệnh ở cơ sở điều trị từ tuyến huyện và tương đương trở lên. Ngày càng ứng dụng nhiều hơn các kỹ thuật cao trong tất cả các khâu từ khám bệnh, xét nghiệm, chuẩn đoán và điều trị. Nguồn và phân loại chất thải y tế Việc phân loại và xác định chất thải y tế của đa số các nước trên thế giới, kể cả các nước trong khu vực cũng như hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới (WHO) khá nhất quán và nhìn chung đều bao gồm các loại chính như sau[24]: 1. Nhóm chất thải lâm sàng (clinical waste): Bao gồm 5 phân nhóm khác nhau - Nhóm A: chất thải nhiễm khuẩn (infectious waste): vật liệu thấm máu, dịch, băng gạc, bông băng, túi đựng dịch, dẫn lưu v.
- Nhóm B: các vật sắc nhọn (sharps): như các loại kim tiêm, lưỡi dao mổ, dao lam dùng trong y tế, ống thuốc tiêm vỡ v. - Nhóm C: chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm như găng tay, lam kính, bệnh phẩm v. - Nhóm D: (chất thải dược phẩm bao gồm dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn, thuốc gây độc tế bào kể các lọ thuốc đã được sử dụng nhưng còn tồn lưu dư lượng, và hoá chất có tính gây độc đối với tế bào. - Nhóm E: bệnh phẩm (pathological waste): nhóm này bao gồm các mô và cơ quan người, động vật, một phần chi thể bị cắt bỏ do các can thiệp phẫu thuật (cần lưu ý là đối với nhóm chất thải này thì ngay cả khi chúng không chứa nguồn lây nhiễm nhưng cũng vẫn có khả năng gây ra tác động tâm lý rất mạnh).
Nhóm chất phóng xạ Nhóm chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hoá trị liệu và nghiên cứu như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm, gạc sát khuẩn có sử dụng hoặc bị nhiễm các đồng vị phóng xạ. Nhóm chất thải hoá học Chất thải hoá học bao gồm các hoá chất có thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axít amin, một số loại muối v. và hoá chất nguy hại như phóc-man-đê-hít, hoá chất quang học, các dung môi, hoá chất dùng để diệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong khử trùng, tẩy uế, thanh trùng v. Nhóm các bình chứa khí nén có áp suất Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy, 7 CO2 bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần, v.
đa số các bình chứa khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu huỷ đúng qui cách. Nhóm chất thải sinh hoạt Nhóm chất thải này có đặc điểm chung như chất thải sinh hoạt thông thường từ các hộ gia đình gồm giấy loại, vải loại, vật liệu đóng gói bao gói, thức ăn còn thừa, thực phẩm thải bỏ và chất thải ngoại cảnh như các loại lá cây, hoa quả rụng v. Khối lượng chất thải phát sinh Khối lượng chất thải y tế không chỉ thay đổi theo từng khu vực địa lý, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác như: - Cơ cấu bệnh tật bình thường, dịch bệnh, thảm hoạ đột xuất. - Loại và qui mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa.
- Số lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú, ngoại trú. - Điều kiện kinh tế xã hội của khu vực. - Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị và chăm sóc. - Số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân.[25] Tham khảo tài liệu nước ngoài cho thấy khối lượng chất thải rắn y tế cũng được ước lượng trên cơ sở số giường bệnh và hệ số phát thải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thay đổi theo mức thu nhập, thay đổi theo loại bệnh viện mức phát thải khác nhau theo các khoa phòng chuyên môn cụ thể như sau: Bảng 1.1: Lượng chất thải thay đổi theo từng nước Chất thải bệnh viện nói chung Chất thải y tế nguy hại (kg/giường bệnh/ngày) (kg/giường bệnh/ngày) Nước thu nhập cao 1,2 - 12 0,4 - 5,5 Nước thu nhập 0,8 - 6 0,3 - 0,6 trung bình Nước thu nhập thấp 0,5 - 3 0,3 - 0,4 (Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải - 2004) 8 Bảng 1.2: Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện Lượng chất thải theo từng bệnh viện Nguồn phát sinh (kg/giường bệnh/ngày) Bệnh viện đại học y dược 4,1 - 8,7 Bệnh viện đa khoa 2,1 - 4,2 Bệnh viện tuyến huyện 0.5 - 1,8 Trung tâm y tế 0,05 - 0,2 (Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải - 2004) Bảng 1.3: Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau trong cùng bệnh viện Các bộ phận khác trong bệnh viện Lượng chất thải (kg/giường bệnh/ngày) Điều dưỡng y tế 1,5 Khoa điều trị 1,5 - 3 Khoa hồi sức cấp cứu 3-5 Bệnh phẩm chung toàn bệnh viện 0,2 (Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải - 2004 Ở một số nước trên thế giới có hệ thống y tế giống Việt Nam là có bệnh viện tuyến Trung Ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện thì hệ số phát thải chất thải rắn y tế cũng dao động khá lớn về tổng lượng thải cũng như tỷ lệ chất thải nguy hại.4: Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải y tế Chất thải y tế nguy hại Tuyến bệnh viện (kg/ giường bệnh /ngày) (kg/ giường bệnh/ngày) Bệnh viện Trung Ương 4,1-8,7 0,4-1,6 Bệnh viện tỉnh 2,1-4,2 0,2-1,1 Bệnh viện huyện 0,5-1,8 0,1-0,4 (Nguồn: Phạm Ngọc Châu.
Môi trường nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải - Cục bảo vệ Môi trường) 1. Thành phần chất thải bệnh viện Chất thải rắn y tế phát sinh trong bệnh viện chủ yếu là do các hoạt động chuyên môn và phụ thuộc vào số giường bệnh, số bệnh nhân nằm điều trị (tỷ lệ sử dụng giường bệnh) và còn một lượng chất thải sinh hoạt từ nhân viên y tế trong 9 bệnh viện. Đối với các bệnh viện ở Việt Nam, do đặc điểm có mặt một số lượng đáng kể người nhà bệnh nhân, người thăm nuôi, một vài dịch vụ khác như nhà hàng ăn uống, sách báo v. mà số lượng người vãng lai này khá lớn nhiều khi tương đương với số bệnh nhân nằm viện.
Chính hiện trạng này làm cho khối lượng phát sinh chất thải rắn trong bệnh viện tăng lên, đặc điểm thành phần chất thải bệnh viện cũng thay đổi theo (có thể tăng tỉ lệ khối lượng chất thải rắn sinh hoạt). Kết quả này dẫn tới sự quá tải hệ thống thu gom và xử lý chất thải vốn được thiết kế theo số giường bệnh.