Mở đầu: trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi của đề tài. Chương 2: Những vấn đề cơ bản về chất lượng dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ sau bán: tổng quan lý luận về chất lượng dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ sau bán trong kinh doanh. Chương 3: Một vài nét về Công ty TNHH Công nghệ mới về Quản lý và Môi trường và phương pháp nghiên cứu: tình hình Công ty kinh doanh tại thị trường tại Hà Nội và mô tả các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn tốt nghiệp này. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: báo cáo kết quả nghiên cứu về thực trạng chất lượng dịch vụ sau bán đối với sản phẩm máy tính cho khách hàng cá nhân của Công ty TNHH Công nghệ mới về Quản lý và Môi trường cũng như xác định các nguyên nhân.
Chương 5: Kiến nghị và đề xuất: nêu ra một số kiến nghị và đề xuất để nâng cao chất lượng dịch vụ sau bán đối với sản phẩm máy tính cho khách hàng cá nhân của Công ty TNHH Công nghệ mới về Quản lý và Môi trường. 4 CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ SAU BÁN Chương này khái quát các vấn đề cơ bản về chất lượng dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ và lý luận chung về dịch vụ sau bán trong kinh doanh qua việc giới thiệu các khái niệm về dịch vụ, các đặc điểm của dịch vụ và chất lượng dịch vụ. Trên cơ sở đó, các mô hình và phương thức dùng để đánh giá chất lượng dịch vụ được tập hợp và phân tích. Khái niệm Dịch vụ và Đánh giá chất lượng dịch vụ 2.
Khái niệm và các đặc điểm của Dịch vụ 2. Khái niệm Dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh. Có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ. Theo TCVN ISO 9000: 2007 thì “dịch vụ là kết quả của ít nhất một hoạt động được tiến hành tại nơi tương giao giữa người cung cấp và khách hàng và thường không hữu hình” [4, tr 28].
Còn Zeithaml và Bitner (2000) lại đi theo hướng coi dịch vụ là những hành vi và quá trình cũng như cách thức thực hiện một công việc nào đó làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa thông thường như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính tự tiêu hao. Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được. Tính vô hình (intangible) Dịch vụ không thể thấy, sờ, nếm hay ngửi được vì nó không có hình thức như một sản phẩm cụ thể.
Dịch vụ chỉ được đánh giá thông qua sự cảm nhận của khách hàng. Nó được hình thành trong kí ức của khách hàng do những thông tin khác nhau mà khách hàng nhận được từ trước và sau khi tiêu dùng. Trong phần lớn các trường hợp, khách hàng của một dịch vụ chỉ có thể biểu hiện được mức thoả mãn của mình chừng nào “tiêu dùng” xong. Và cũng chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất.
Tính không đồng nhất (heterogeneous) 5 Đặc tính này còn được gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Hơn thế, cùng một loại dịch vụ cũng có nhiều mức độ thực hiện từ “cao cấp”, “phổ thông” đến “thứ cấp”. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vào một thước đo chuẩn mà phải xét đến nhiều yếu tố liên quan khác trong trường hợp cụ thể.
Tính không thể tách rời (inseparable) Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó thể phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất (production) và giai đoạn sử dụng (consumption). Sự tạo thành và sử dụng dịch vụ thông thường diễn ra đồng thời cùng lúc với nhau. Nếu hàng hóa thường được sản xuất, lưu kho, phân phối và sau cùng mới giao đến người tiêu dùng thì dịch vụ được tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra dịch vụ và người làm dịch vụ không thể kiểm tra chất lượng của dịch vụ trước khi phục vụ khách. Đối với sản phẩm hàng hóa, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, khách hàng sử dụng trong suốt quá trình hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ.
Đặc tính này là một thử thách đối với những người phục vụ và đối với người quản lý chất lượng phục vụ, đặc biệt trong phục vụ khách sạn, phục vụ trực tiếp con người với những nhu cầu cao cấp, vì vậy chất lượng phục vụ đòi hỏi rất cao và không được phép xảy ra sai sót, yêu cầu người phục vụ phải giỏi chuyên môn nghiệp vụ, thạo nghề để tăng khả năng tiếp cận của dịch vụ. Tính tự tiêu hao (perishable) Một đặc điểm lớn của dịch vụ là tính không lưu giữ được hay còn gọi là tự tiêu hao, rất dễ bị loại bỏ nếu thời gian qua đi. Cả người bán và người mua đều không thể dự trữ dịch vụ để thoả mãn nhu cầu dịch vụ trong tương lai. Khái niệm về chất lượng dịch vụ Có nhiều quan điểm về chất lượng dịch vụ.
Theo TS Lưu Văn Nghiêm thì (2001) chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng của khách hàng trong quá trình cảm nhận tiêu dùng dịch vụ, là dịch vụ tổng thể của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thoả mãn đầy đủ nhất giá trị mong đợi của khách hàng trong hoạt động sản xuất cung ứng và trong phân phối dịch vụ ở đầu ra. Theo Hiệp hội chất lượng Hoa Kỳ (ASQ) chất lượng là toàn bộ các tính năng và 6 đặc điểm mà một sản phẩm hay dịch vụ đem lại nhằm đáp ứng những nhu cầu đặt ra từ phía khách hàng. Theo Gronroos (1984) thì chất lượng dịch vụ là kết quả của một có quá trình đánh giá khi khách hàng so sánh giữa kỳ vọng của mình với những gì họ thực tế nhận được. Đồng quan điểm với Gronroos là Parasuraman và cộng sự (1985) với định nghĩa chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi sử dụng qua dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ bao hàm một sự so sánh giữa sự mong đợi và được thỏa mãn. Đó là sự đo lường phân phối dịch vụ phù hợp với sự mong đợi của khách hàng tốt tới mức nào. Đó là thực hiện sự chuyển giao dịch vụ sao cho phù hợp với những mong đợi của khách hàng trên một nền tảng tương thích với mức độ mong đợi. Từ suy nghĩ định hướng này chúng ta có thể phát triển theo các mức như sau: Dịch vụ nhận được Kỳ vọng Chất lượng dịch vụ Giá trị dịch vụ nhận được > Giá trị mong đợi Rất cao Giá trị dịch vụ nhận được >= Giá trị mong đợi Cao Giá trị dịch vụ nhận được < Giá trị mong đợi Thấp Sự hài lòng của khách hàng có liên quan tới chất lượng dịch vụ.
Nếu chất lượng dịch vụ rất cao, mức độ thoả mãn vượt quá sự mong đợi, khách hàng sẽ rất hài lòng. Chất lượng dịch vụ cao, mức độ thoả mãn đạt được sự mong đợi, khách hàng cảm thấy vui vẻ hài lòng. Ngược lại nếu chất lượng dịch vụ thấp, mức độ thoả mãn thấp hơn giá trị mong đợi, khách hàng sẽ thất vọng. Đánh giá chất lượng dịch vụ Trong bối cảnh nghiên cứu hiện nay, đánh giá chất lượng dịch vụ là vấn đề thu hút rất nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu cũng như doanh nghiệp.
Kể từ năm 1980 các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu cơ sở lý thuyết và đề xuất một số mô hình thực chứng (empirical model) về đánh giá chất lượng dịch vụ. Điển hình là các đề xuất của Gronroos (1984), Parasuraman và cộng sự (1985). Từ sau năm 1990 và trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, các nhà khoa học như Cronin và Taylor (1992), Sweeney và cộng sự (1997), Dabholkar và cộng sự (2000) đã phát triển các khung phân tích đánh giá chất lượng dịch vụ với nhiều yếu tố cấu thành khác nhau, ứng dụng trong các lĩnh vực chất lượng dịch vụ khác nhau. Sau đây học viên xin trình bày nội dung của một số mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ điển hình: Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985): 7 Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng: “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa mong đợi (kỳ vọng) của khách hàng và nhận thức (cảm nhận) của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ”.
Giữa kỳ vọng và những gì khách cảm nhận được tồn tại 5 khoảng cách như sau: Thông tin Nhu cầu cá nhân Kinh nghiệm quá khứ truyền miệng Dịch vụ mong đợi Khách Khoảng hàng cách thứ 5 Dịch vụ nhận được Giao tiếp Thực hiện dịch vụ (trước và sau và truyền Khoảng Khoảng cách khi tiếp xúc với khách) thông tới cách khách thứ 1 thứ 4 hàng. Khoảng cách thứ 3 Chuyển các hiểu biết về kỳ vọng của khách Nhà Marketing hàng thành các đặc tính chi tiết của chất lượng dịch vụ Khoảng cách thứ 2 Hiểu biết của nhà quản lý về kỳ vọng của khách hàng Sơ đồ 2. Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ Nguồn: Parasuraman, Zeithaml, và Berry (1985), “A conceptual model of service quality and its implications for future research”[14,trg4] Khoảng cách thứ nhất: Sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng với nhận thức của nhà quản lý. Khoảng cách thứ hai: Sự khác biệt giữa sự hiểu biết của nhà quản lý về kỳ 8 vọng của khách hàng hàng với các đặc tính chi tiết về chất lượng dịch vụ của công ty.
Khoảng cách thứ ba: Sự khác biệt giữa các đặc tính chi tiết chất lượng dịch vụ được nhận biết với quá trình thực tế phân phối tới khách hàng. Khoảng cách thứ tư: Sự khác biệt giữa dịch vụ cung cấp cho khách với những thông tin mà khách hàng nhận được qua hoạt động truyền thông (như quảng cáo, lời đồn đại…) của dịch vụ đó. Khoảng cách thứ năm: Khoảng cách giữa sự mong đợi của khách (kỳ vọng) với dịch vụ mà khách cảm nhận được.