CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Ô nhiễm môi trường Khái niệm ô nhiễm môi trường: Theo Luật bảo vệ môi trường 2005 của nước CHXHCNVN thì “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”. Theo Trần Yêm và Trịnh Thị Thanh (1998) [17], “Ô nhiễm môi trường được hiểu là sự có mặt của các chất hoặc năng lượng với với khối lượng lớn trong môi trường mà môi trường khó chấp nhận”- trích Từ điển Oxford.
Do đó, ô nhiễm môi trường được hiểu theo cách diễn đạt của giáo trình này là: “Sự hiện diện của các vật chất ở 3 dạng rắn, lỏng, khí và năng lượng có nguồn gốc là tự nhiên hoặc nhân tạo với một hàm lượng nào đó làm ảnh hưởng đến chất lượng nói chung hoặc chất lượng của từng thành phần môi trường nói riêng”. Ô nhiễm môi trường theo nguồn gốc có thể phân thành ô nhiễm môi trường do tự nhiên và ô nhiễm môi trường do nhân tạo. Ô nhiễm môi trường theo loại hình môi trường có thể phân thành ô nhiễm môi trường nước, ô nhiễm môi trường không khí và ô nhiễm môi trường đất. Ô nhiễm nước Khái niệm về nước thải và nước ô nhiễm: Theo 2 tác giả Trần Yêm và Trịnh Thị Thanh (1998) [17] thì: Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng.
Ô nhiễm nước là sự thay đổi bất lợi môi trường nước, hoàn toàn hay đại bộ phận do các hoạt động khác nhau của con người tạo nên. Nguồn gốc gây ô nhiễm nước có thể là tự nhiên và có thể là nhân tạo. Có nhiều cách để phân loại về nước thải: n 14 Phân loại theo cách xác định nguồn thải: Có 2 nguồn gây ô nhiễm là nguồn gây ô nhiễm xác định (nguồn điểm) và nguồn gây ô nhiễm không xác định (nguồn không điểm). Nếu phân loại theo tác nhân ô nhiễm thì gồm có dạng ô nhiễm cơ học (vật lý), ô nhiễm hóa học (vô cơ, hữu cơ), ô nhiễm vi sinh vật, ô nhiễm nhiệt và ô nhiễm phóng xạ.
Theo nguồn gốc phát sinh thì ô nhiễm nước do: Nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp), nước mưa chảy tràn. Các căn cứ pháp luật 1. Cơ sở pháp lí Việc đánh giá chất lượng nước thải công nghiệp và nước mặt (sông suối) được thực hiện trên cơ sở quy định của các văn bản pháp lí sau: - Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005. Các văn bản dưới luật đã hướng dẫn cụ thể thực hiện luật bảo vệ môi trường bao gồm: - Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường.
- Nghị định 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 80 nêu trên. - Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về xử lí vi phạm pháp luật trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường. - Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 8/1/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 67/NĐ-CP của Chính phủ về phí Bảo vệ môi trường đối với nước thải. - Thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT/BTC-BTNMT về việc sửa đổi, bổ sung thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT/BTC-BTNMT ngày 18/12/2003 của liên bộ BTC-BTNMT hướng dẫn thực hiện nghị định số 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
n 15 - QCVN 24:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải. - QCVN 08:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt. - Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5992 : 1995, Chất lượng nước - lấy mẫu- Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu. - Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5999 : 1995, Chất lượng nước lấy mẫu - Hướng dẫn lấy nước thải.Cơ sở thực tiễn Hiện tại, nước ta đang trong thời kì mở cửa phát triển nền công nghiệp, vì vậy mà các KCN, các nhà máy được xây dựng ồ ạt nhằm đáp ứng mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhưng đi đôi với phát triển công nghiệp là yêu cầu giữ gìn, bảo vệ môi trường, nhất là tại các KCN và các nhà máy xí nghiệp. Việc các KCN, các nhà máy xí nghiệp được mở ra để đẩy mạnh phát triển kinh tế cũng gây ra nhiều vấn đề tranh cãi về môi trường. Hiện trạng môi trường nước thải ở các khu vực sản xuất này đã và đang có những dấu hiệu bị ô nhiễm. Tỉnh Thái Nguyên có nhiều khu công nghiệp, trong đó KCN Gang Thép – Lưu Xá là một trong các KCN lớn chuyên sản xuất gang, thép đáp ứng cho nhu cầu phát triển công nghiệp trong cả nước.
Công ty Gang Thép là doanh nghiệp nhà nước thuộc Tổng công ty Thép Việt Nam (Bộ Công nghiệp), được thành lập từ năm 1959 và đi vào hoạt động từ năm 1963. Mặc dù đã có những nỗ lực trong cải thiện chất lượng môi trường nhưng KCN Gang Thép vẫn có những hoạt động ảnh hưởng gây ô nhiễm môi trường, trong đó việc xả thải nguồn nước thải (chủ yếu là nước thải sản xuất) đã gây ảnh hưởng tới môi trường nước xung quanh. Do vậy, tiến hành đánh giá chất lượng suối Cam Giá do ảnh hưởng của nguồn nước thải KCN Gang Thép có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Thực trạng ô nhiễm môi trường nước do nước thải công nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Thực trạng ô nhiễm môi trường nước do nước thải công nghiệp trên thế giới Vấn đề môi trường đang là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trên thế giới. Nhiều hội nghị quốc gia, quốc tế về môi trường thường xuyên được tổ chức nhằm hạn chế tình trạng môi trường toàn cầu đang ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Tình hình môi trường thế giới đáng báo động; treenn khắp hành tinh, các hệ sinh thái đang mất cân bằng, xuống cấp nặng nề; sự sống bị nạn hạn hán, lũ lụt, sa mạc hóa và nhiều dạng ô nhiễm đe dọa. Các nhà môi trường đã lên tiếng cảnh báo về tình hình “đầm lầy hóa thành sa mạc” ở vùng Lưỡng Hà, hồ cạn nước ở châu Phi và Trung Á, rừng rậm mỏng dần ở Amazon…(Unesco) [19].
Vấn đề ô nhiễm do nước thải công nghiệp trên thế giới ngoài một số ít thuộc các nước phát triển, còn lại vẫn tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển và các nước nghèo, nơi mà có công nghệ sản xuất lạc hậu, nền kinh tế không đủ mạnh để đầu tư hệ thống xử lí an toàn trước khi xả thải ra môi trường. Theo báo cáo của Unesco [19], các sông Thames (Anh), sông Seine (Pháp) là những con sông đã từng bị ô nhiễm nặng do hoạt động xả thải của sản xuất công nghiệp và cả chất thải sinh hoạt. Ở Hoa Kì, các con sông và hồ ở phía Đông và một số vùng khác cũng gặp tình trạng tương tự. Vùng Đại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Enrie, Ontario đặc biệt nghiêm trọng.
Ở các nước đang phát triển và các nước nghèo thì ô nhiễm nước và thiếu nước sạch là phổ biến. Có tới hơn 80% khối lượng nước ở các cống rãnh ở các khu dân cư và hơn 65% lượng nước thải ở các KCN thải trực tiếp ra đồng ruộng, sông hồ… gây ô nhiễm, thường là ở Trung Quốc, các nước Trung cận Đông, châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á. Việc ô nhiễm môi trường nước đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, mỗi năm có khoảng 3.578 triệu người chết do các bệnh liên quan đến nước. n 17 Cũng theo báo cáo này, đã chỉ ra được thiệt hại môi trường trong hồ Peipsi – hồ nằm trên biên giới của nước Cộng hòa Estonia và Liên bang Nga.
Sự ô nhiễm hồ và phú dưỡng đã làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế xung quanh hồ và hoạt động khai thác cá trong hồ. Ở Trung Quốc, có đến khoảng 50.000 km các con sông lớn (theo FAO) bị ô nhiễm nặng, chủ yếu do nước thải công nghiệp, trong đó có 80% là không còn khả năng khai thác cá do môi trường sống của chúng đã bị hủy hoại. Đây có thể coi như là kết quả của việc xả thải các chất độc hại từ các nhà máy công nghiệp trên thượng nguồn như nhà máy giấy, nhà máy thuộc da, nhà máy sản xuất cán thép, nhà máy lọc dầu và nhà máy hóa chất…nước sông Hoàng Hà hiện đang chứa một hàm lượng rất cao các kim loại nặng và chất độc khác, làm cho chất lượng nước suy giảm tới mức không đạt tiêu chuẩn đối với nước dành cho mục đích thủy lợi. Đoạn sông Hoàng Hà đi qua tỉnh Sơn Tây, do sử dụng nước tưới cho nông nghiệp nên kim loại nặng đã đi vào nông sản như hàm lượng Crôm và Chì đã quá ngưỡng cho phép trong lúa gạo, Cadimi quá ngưỡng trong bắp cải… Ở Brazil, Baixada Santista cũng là khu vực nổi tiếng thế giới về ô nhiễm có liên quan đến công nghiệp, cảng và các hoạt động đô thị.
Các hoạt động khai thác mỏ và luyện kim đã cho kết quả là thải ra môi trường các chất độc hại có khả năng lan truyền theo chuỗi thức ăn như Chì, Thủy ngân, Niken… Không chỉ có vậy, các hoạt động xả thải công nghiệp ở khu vực này cũng gây ra hiện tượng phú dưỡng (Elisabete S.Braga et al, 2004) [18]. Trong ngành công nghiệp luyện kim, quá trình sản xuất bắt buộc phải sử dụng đến một lượng nước khá lớn. Để sản xuất 1 tấn thép cần 100-200 m3 nước/h, tức là cần trung bình 150m3/h. Khối lượng nước thải ra để sản xuất 1.000 tấn phôi thép/năm là 250-500m3/năm (vì có phần lớn lượng nước được sử dụng làm mát tái tuần hoàn).
Trung bình mỗi giờ, lượng nước bơm cho các hoạt động trong sản xuất thép nhu sau: Thiêu kết: 0-20m3/tấn thiêu kết Blast lò: 50-80m3/tấn gang Luyện thép: 20-50m3/tấn thép n 18 Máy cán: 20-80m3/tấn cán Cốc hóa: 2-5m3/tấn than cốc Lò làm sạch khí: 2-5m3/1000m3 khí (P. Theo tác giả O’Connell và các cộng sự (1987) [21], [22], ở Chicago những năm giữa thế kỷ 20, sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành công nghiệp thép trong khu vực Cahemet sau khi có sự chuyển giao, phát triển công nghệ đã khiến cho môi trường nơi này bị ảnh hưởng. Các nhà máy thép ở Nam Chicago, Đông Chicago và Gary tạo thành một cụm công nghiệp khá rộng lớn. Dọc theo bờ biển phía nam hồ Michigan cũng bao gồm các nhà máy lọc dầu, hóa chất và chế tạo kim loại.