phần mở đầu và kết luận, bố cục của luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan về lƣu vực sông Thạch Hãn Chƣơng 2. Cơ sở lý thuyết Chƣơng 3. Đánh giá biến đổi đặc trƣng dòng chảy lũ lƣu vực sông Thạch Hãn trƣớc và sau khi có hồ chứa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ LƢU VỰC SÔNG THẠCH HÃN 1.1 Vị trí địa lý Lƣu vực sông Thạch Hãn nằm trong phạm vi từ 16º18’ đến 16º54’ vĩ độ Bắc và từ 106º36’ đến 107º18’ kinh độ Đông. Lƣu vực sông Thạch Hãn thuộc tỉnh Quảng Trị với diện tích lƣu vực 2500 km2. Phía Đông giáp Biển Đông phía Tây giáp lƣu vực sông Sê Pôn phía Nam giáp lƣu vực sông Ô Lâu và tỉnh Thừa Thiên Huế phía Bắc giáp lƣu vực sông Bến Hải (Hình 1. Sơ đồ lƣu vực sôngThạch Hãn Sông Thạch Hãn bắt nguồn từ dãy Trƣờng Sơn có chiều dài 169 km.
Dòng chính Thạch Hãn đoạn thƣợng nguồn (sông Đăkrông) chảy quanh núi Da Ban khi về tới Ba Lòng sông chuyển hƣớng Đông Bắc và đổ ra biển tại Cửa Việt. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 1.1 Điều kiện địa hình, địa mạo Lƣu vực sông Bến Hải-Thạch Hãn có thế dốc chung từ dãy Trƣờng Sơn đổ ra biển. Do sự phát triển của các bình nguyên đồi thấp nên địa hình ở vùng này rất phức tạp. Theo chiều Bắc - Nam phần đồng bằng địa hình có dạng đèo thấp thung lũng sông - đèo thấp.
Theo chiều Tây - Đông địa hình ở đây có dạng núi cao, đồi thấp nhiều nơi theo dạng bình nguyên - đồi đồng bằng, đồi thấp ven biển. Có thể phân chia địa hình ở đây theo các dạng đặc trƣng sau: - Vùng cát ven biển: dải cát này chạy dọc từ cửa Tùng đến bãi biển Mỹ Thuỷ theo dạng cồn cát. Chiều rộng cồn cát nơi rộng nhất tới 3-4 km, dài đến 35 km. Dốc về 2 phía: đồng bằng và biển, cao độ bình quân của các cồn cát từ +4 +6 m.
Vùng cát có lớp phủ thực vật nghèo nàn. Cát ở đây di chuyển theo các dạng cát chảy theo dòng nƣớc mƣa cát bay theo gió lốc, cát di chuyển theo dạng nhảy do mƣa đào bới và gió chuyển đi; dạng cồn cát này có nguy cơ di chuyển chiếm chỗ của đồng bằng. Tuy nhiên dạng địa hình này có khả năng cải tạo thành vùng trồng cây cạn nếu nhƣ có nƣớc để cải tạo. - Vùng đồng bằng: dạng đồng bằng ở đây là các thung lũng sâu kẹp giữa các dải đồi thấp và cồn cát hình thành trên các cấu trúc uốn nếp của dãy Trƣờng Sơn có nguồn gốc mài mòn và bồi tụ.
Ở đây có các vùng đồng bằng rộng lớn nhƣ: + Đồng bằng hạ du sông Bến Hải cao độ biến đổi từ +1.5 m; địa hình bằng phẳng đã đƣợc khai thác từ lâu đời để sản xuất lúa nƣớc. Xuôi theo chiều dài dòng chảy của sông Sa Lung, dạng đồng bằng này có tới gần 8. + Đồng bằng dọc sông Cánh Hòm: là dải đồng bằng hẹp chạy từ phía Nam cầu Hiền Lƣơng tới bờ Bắc sông Thạch Hãn. thế dốc của dải đồng bằng này là từ 2 phía Tây và Đông dồn vào sông Cánh Hòm.
Cao độ bình quân dạng địa hình này từ +0. Dạng địa hình này cũng đã cải tạo để gieo trồng lúa nƣớc. + Đồng bằng hạ du sông Vĩnh Phƣớc và đồng bằng Cam Lộ: dạng địa hình bằng phẳng tập trung ở Triệu Ái. Triệu Thƣợng (Vĩnh Phƣớc).
Cao độ bình quân dạng địa hình này từ +3. Đây là cánh đồng rộng lớn của Triệu Phong và thành phố 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đông Hà. Địa hình đồng bằng có cao độ bình quân từ +2.0m dải đồng bằng này hẹp chạy theo hƣớng Tây – Đông, kẹp 2 bên là các dãy đồi thấp. + Địa hình đồng bằng phù sa phân bố ven sông nằm kẹp giữa vùng gò đồi phía Tây và vùng cát ven biển các cánh đồng nhỏ hẹp có độ cao không đều là thành tạo của các quá trình bồi đắp phù sa của các hệ thống sông và các dải đất dốc tụ đƣợc khai phá từ lâu phân bố dọc theo quốc lộ 1A từ Vĩnh Linh đến Hải Lăng.
+ Một dạng địa hình nữa trong vùng nghiên cứu là các thung lũng hẹp độc lập diện tích khoảng 5 - 50 ha cũng đã đƣợc khai thác để trồng lúa nƣớc. - Vùng núi thấp và đồi: Địa hình vùng đồi ở đây có dạng đồi bát úp liên tục có những khu nhỏ dạng bình nguyên nhƣ khu đồi Hồ Xá (Vĩnh Linh) và khu Cùa (Cam Lộ). Độ dốc vùng núi bình quân từ 15 180. Địa hình này rất thuận lợi cho việc phát triển cây trồng cạn, cây công nghiệp và cây ăn quả, cao độ của dạng địa hình này là 200 – 1000 m có nhiều thung lũng lớn.
- Vùng núi cao: Do chiều ngang tỉnh Quảng Trị hẹp. từ dải Trƣờng Sơn ra đến biển khoảng 100km núi cao nên địa hình này dốc, hiểm trở, các triền núi cao có xen kẽ các cụm đá vôi đƣợc hình thành do quá trình tạo sơn xảy ra vào đầu đại Mêzôzôi tạo nên dãy Trƣờng Sơn. Dạng này phân bố phía Tây giáp theo biên giới Việt – Lào theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam với bậc địa hình từ 1000 – 1700 m với bề mặt bị xâm thực và chia cắt mạnh.2 Điều kiện thổ nhưỡng, thảm phủ thực vật Điều kiện thổ nhưỡng Lƣu vực sông Thạch Hãn có thể phân chia thành các vùng thổ nhƣỡng: vùng đồng bằng ven biển, vùng gò đồi, và vùng đồi núi dãy Trƣờng Sơn. Vùng đồng bằng ven biển phân bố dọc bờ biển địa hình đụn cát có dạng lƣợn song, độ dốc nghiêng ra biển.
Dạng trầm tích biển đƣợc hình thành từ kỷ Đệ Tứ. Cát trắng chiếm ƣu thế tầng dƣới cùng bƣớc đầu có tích tụ sắt chuyển sang màu nâu hơi đỏ. Lớp vỏ phong hóa khá dày thành phần cơ giới trên 97% là cát. Vùng gò đồi: hầu hết có dạng địa hình đồi thấp, một số dạng thung lũng sông thuộc địa phận huyện Gio Linh Cam Lộ trên vỏ phong hóa Mazma.
Nhiều nơi hình thành đất trống, đồi trọc. Thực vật chủ yếu là cây dạng lùm bụi, cây có gai. Đất đai 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ở những nơi không có cây bị rửa trôi khá mạnh. Đá xuất lộ lên bề mặt tạo nên dòng chảy mạnh gây ra xói lở.
Vùng đồi núi dãy Trƣờng Sơn bị chia cắt mạnh thực vật nghèo. Tiểu vùng đất bazan Khe Sanh. Hƣớng Phùng thuộc các xã Tân Hợp. Tân Độ, Tân Liên, nông trƣờng Khe Sanh.
Hƣớng Phùng có dạng địa hình lƣợn sóng chia cắt yếu đất đai phù hợp cho phát triển cây công nghiệp dài ngày. Tiểu vùng đất sa phiến thạch thuộc địa phận Lao Bảo: nằm trong vùng đứt gãy dọc đƣờng 9 giáp khu vực Lao Bảo. Điều kiện thảm phủ thực vật Trong thời kì chiến tranh. tỉnh Quảng Trị nằm trong vùng chiến tranh hủy diệt khốc liệt lớp phủ thực vật thuộc loại bị tàn phá.
Ngay khi đất nƣớc thống nhất kế hoạch khôi phục lớp phủ thực vật với ý nghĩa phục hồi các hệ sinh thái tối ƣu trở thành kế hoạch hành động cụ thể và tích cực. Đến năm 1990 nhiều diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên tái sinh do khoanh nuôi bảo vệ đã xuất hiện. Rừng trồng theo chƣơng trình hỗ trợ của PAM (Chƣơng trình An toàn lƣơng thực Thế giới) dọc theo các quốc lộ và tỉnh lộ phát triển nhanh. Từ các chƣơng trình quốc gia 327.264 và kế hoạch trồng rừng, trồng cây của nhân dân cấp tỉnh.
phát động và đầu tƣ đã nâng cao tỉ lệ che phủ rừng khá nhanh.3 Đặc điểm khí tƣợng, thủy văn 1.1 Mạng lưới trạm quan trắc khí tượng thủy văn Trên lƣu vực sông Thạch Hãn hiện nay có 3 trạm thủy văn cơ bản: Thạch Hãn, Đông Hà, Cửa Việt và trạm hai thủy văn dùng riêng là Đăkrông và Đầu Mầu. Trạm thuỷ văn Ðông Hà, Thạch Hãn và Cửa Việt quan trắc các yếu tố lƣợng mƣa, mực nƣớc và nhiệt độ nƣớc trên 2 nhánh sông Hiếu (Cam Lộ) và Thạch Hãn của hệ thống sông Thạch Hãn. Ba trạm này có số liệu quan trắc từ năm 1977 đến nay. Trên lƣu vực sông Thạch Hãn có 2 trạm khí tƣợng và 2 trạm đo mƣa.
Trong đó có một trạm khí tƣợng cấp I là trạm Đông Hà một trạm khí tƣợng cấp II là trạm Khe Sanh, hai trạm đo mƣa là trạm Ba Lòng, Tà Rụt, Thạch Hãn, Đông Hà và Cửa 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt là hai trạm thủy văn cấp III. Mạng lƣới trạm khí tƣợng thủy văn đƣợc thể hiện trong bảng 1.8: Mạng lƣới trạm khí tƣợng thủy văn trên lƣu vực sông Thạch Hãn T Thờigian Tên trạm Vĩ độ Kinh độ Yếu tố đo đạc Ghi chú TT quan trắc 1 Đông Hà 16051’ 107005’ X. U 1977 - nay Trạm khí tƣợng 2 Khe Sanh 16038’ 106044’ X. U 1977 - nay Trạm khí tƣợng 2 3 Ba Lòng 16039' 107001' X 1979 - 1990 Trạm đo mƣa 3 4 1983 – 1986 Tà Rụt 16025' 107000' X Trạm đo mƣa 4 1988 - 1990 5 Rào Quán 16042' 106042' X.
Q 1983 - 1985 Trạm dùng riêng 5 6 Đầu Mầu 16048' 106054' X. H 2000 - nay Trạm dùng riêng 6 7 Đăkrông 16039' 106048' X. H 1992 - nay Trạm dùng riêng 7 8 Đông Hà 16050' 107006' X. H 1977 - nay Trạm thủy văn 8 9 Cửa Việt 16053' 107010' X.
H 1977 - nay Trạm triều 9 Thạch 1 16045' 107014' X. H 1977 - nay Trạm thủy văn 10 Hãn 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sơ đồ mạng lƣới sông và lƣới trạm khí tƣợng thủy văn trên lƣu vực sông Thạch Hãn Hiện trên lƣu vực sông Thạch Hãn không có trạm quan trắc lƣu lƣợng thƣờng xuyên duy nhất chỉ có trạm Rào Quán đo đạc từ năm 1983 – 1985 nhằm mục đích phục vụ việc thiết kế và thi công công trình thủy điện Rào Quán. Điều này đã gây nhiều khó khăn cho công tác tính toán lƣợng nƣớc đến trên lƣu vực cũng nhƣ dự báo lũ kiệt.
Hầu hết các tính toán và đánh giá tài nguyên nƣớc trên lƣu vực đều phải sử dụng các biện pháp khôi phục số liệu dòng chảy từ mƣa. Do đặc điểm lƣu vực Thạch Hãn bị chia cắt mạnh bởi địa hình nên với mạng lƣới trạm KTTV nhƣ hiện nay cũng chƣa đáp ứng đầy đủ cho công tác nghiên cứu và phòng chống lũ lụt.