Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư a) Bồi thường: Theo Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, Đại từ điển Tiếng việt (1998): Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra. Đền bù là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao.
Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể bị thiệt hại vì hành vi của một chủ thể khác. b) Hỗ trợ: Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, Đại từ điển Tiếng việt (1998) định nghĩa: Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào. Theo Luật Đất đai năm 2003: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề sớm, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới” (Khoản 7, Điều 4). Theo Luật Đất đai năm 2013: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển” (Khoản 14, Điều 3).
Theo Nghị định số 47/2014/ND-CP thì bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất được quy định như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn - Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất Nhà nước thu hồi. - Bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản hiện có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất bị Nhà nước thu hồi. - Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và hỗ trợ khác cho người bị thu hồi đất. - Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống tại khu tái định cư c) Tái định cư TĐC là việc di chuyển đến một nơi khác với trước đây để sinh sống và làm ăn.
TĐC bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi đất hoặc trưng thu đất để thực hiện các dự án phát triển. Tái định cư được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản, di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất, tinh thần tại đó. Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) định nghĩa TĐC là xây dựng khu dân cư mới, có đất để sản xuất và đủ cơ sở hạ tầng công cộng tại một địa điểm khác. Như vậy tái định cư là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về mặt kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung.
Hiện nay ở nước ta khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức: - Bồi thường bằng nhà ở. - Bồi thường bằng giao đất mới - Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở. Khái niệm sinh kế của người dân Sinh kế là hoạt động kiếm sống của con người thông qua việc sử dụng các nguồn lực (con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội…) trong một môi trường dễ bị tổn thương có sự quản lý của các tổ chức, định chế, chính sách. Sinh kế là cách thức kết hợp các nguồn lực hiện có của con người để tạo ra miếng cơm manh áo hàng ngày.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà c ̣n đạt đến mục tiêu đa dạng hơn. Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó. Sinh kế bổ sung là nhưng sinh kế thêm vào sinh kế chính Sinh kế thay thế là chỉ việc từ bỏ sinh kế cũ chuyển sang sinh kế mới. Sinh kế bền vững là sinh kế có thể đối phó hay khôi phục lại khi gặp các cú sốc hoặc khủng hoảng có thể đảm bảo cho các thế hệ sau này duy trì hoặc nâng cao mà không phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Một sinh kế gồm có những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống. Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên (Chambers, R. Nội dung của bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 1. Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bao gồm: Nguyên tắc thực hiện bồi thường, hỗ trợ về đất, nguyên tắc thực hiện bồi thường, hỗ trợ về tài sản, cây cối hoa màu, nguyên tắc thực hiện bố trí tái định cư.
Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật đất đai năm 2013 này thì được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật (Luật đất đai, 2013). Chính sách bồi thường hỗ trợ tái định cư Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất về chính sách bồi thường, chính sách bồi thường bao gồm bồi thường đất và tài sản trên đất: Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng có điều kiện về pháp lý thì iv được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì được xem xét để hỗ trợ.
Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng theo giá chuyển nhượng trên thị trường trong điều kiện bình thường. Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất mà bị thiệt hại, thì được bồi thường. Mức bồi thường thiệt về tài sản trên đất được xác định trên cơ sở giá trị xây dựng mới của nhà, công trình hoặc giá trị hiện của cây trồng, chi phí di chuyển, hao hụt trong quá trình di chuyển đối với vật nuôi và các tài sản là dây chuyền, thiết bị sản xuất có thể tháo rời, vận chuyển và lắp đặt lại được. Thứ hai về chính sách hỗ trợ, chính sách hỗ trợ, bao gồm: hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm, hỗ trợ tái định cư và hỗ trợ khác.
Thứ ba, về chính sách tái định cư: Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau: Bồi thường bằng nhà ở; bồi thường bằng giao đất ở mới; bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới (Luật đất đai, 2013). Vai trò của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng và kinh tế - xã hội Hạ tầng kinh tế xã hội là một khái niệm dùng để chỉ những phương tiện làm cơ sở, nhờ đó phục vụ cho hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội, quốc kế dân sinh như cung cấp điện năng, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, thủy lợi, đê điều, bệnh viện, trường học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Trong những năm gần đây, các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đã nhanh chóng được cải tạo, khôi phục và phát triển, phần nào đã bắt kịp với yêu cầu của sự chuyển đổi kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy sự chuyển đổi kinh tế và làm thay đổi bộ mặt đô thị và nông thôn. Các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng được chú trọng, công tác GPMB các dự án đã có nhiều chuyển biến rõ rệt; cơ chế chính sách GPMB được bổ sung, điều chỉnh kịp thời; các phương án bồi thường được thiết lập khoa học, hợp lý; số lượng dự án GPMB được hoàn thành năm sau cao hơn năm trước tạo được nhiều động lực mới cho sự phát triển.
Cùng với sự phát triển cơ sở hạ tầng và kinh tế - xã hội, nhiều vấn đề phức tạp đã nảy sinh, trong đó công tác bồi thường, GPMB là vấn đề nhạy cảm cần được quan tâm nhất, do đụng chạm đến lợi ích của một bộ phận nhân dân, do khối lượng giải tỏa lớn, do sự thay đổi của giá cả và trình độ dân trí ngày càng cao. Tiến độ thực hiện các dự án phụ thuộc rất nhiều vào thời gian tiến hành công tác bồi thường, GPMB: - GPMB kéo dài gây ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng của các công trình, ảnh hưởng đến việc sử dụng lao động cũng như chi phí cho dự án, có khi gây ra thiệt hại không nhỏ trong đầu tư xây dựng. Ngược lại, GPMB thực hiện đúng tiến độ sẽ tiết kiệm được thời gian và thực hiện dự án có hiêu quả. GPMB được thực hiện tốt sẽ giảm tối đa chi phí cho công tác giải tỏa đền bù, có điều kiện tập trung vốn đầu tư cho các công trình khác.
GPMB kéo dài dẫn đến chi phí bồi thường lớn, không kịp hoàn thành tiến độ dự án dẫn đến sự quay vòng vốn chậm gây khó khăn cho các nhà đầu tư. Một số dự án tiến độ thi công thì bị ngắt quãng gây ra sự mất thời gian cũng như chất lượng công trình.