CHƯƠNG 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN TỪ NĂM 1976 ĐẾN NĂM 1981 1. Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng 1. Bối cảnh lịch sử Từ đầu những năm 1970, xu thế chạy đua phát triển kinh tế đã dẫn đến cục diện hòa hoãn giữa các nước lớn, hòa hoãn Mỹ - Xô, Tây Âu - Liên Xô, Mỹ - Trung Quốc, Tây Âu, Nhật Bản với Trung Quốc. Bên cạnh đó, quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng căng thẳng hơn.
Mỹ tăng cường quan hệ với Trung Quốc để chĩa mũi nhọn vào Liên Xô. Từ năm 1978, Mỹ thúc đẩy chạy đua vũ trang gây căng thẳng với Liên Xô và các nước XHCN. Chiến lược ngăn chặn chống Liên Xô là cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Sau thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Lào và Campuchia năm 1975, hệ thống XHCN được mở rộng, trở thành lực lượng quan trọng của hòa bình và cách mạng thế giới, mở ra thời kỳ “sau Việt Nam”.
Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội đã trở thành xu thế của thời đại lúc đó. Độc lập dân tộc đã trở thành một phong trào, là một trong những mũi tiến công chủ yếu vào chủ nghĩa đế quốc, trực tiếp quyết định sự tan rã của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Từ năm 1976 đến đầu những năm 1980 đã có hơn 20 nước giành được độc lập dân tộc. Mặt khác, Mỹ và hệ thống tư bản chủ nghĩa bị rơi vào khủng hoảng kinh tế.
Ba trung tâm của hệ thống tư bản chủ nghĩa là Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu đều bị lạm phát và suy thoái. Sau thất bại về quân sự trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ tiếp tục chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Mỹ đã lợi dụng triệt để sự bất đồng trong hệ thống XHCN, tiến hành cấm vận, bao vây, cô lập hòng làm suy yếu Việt Nam, tạo ra dòng người Việt Nam di tản ra nước ngoài, phần lớn sang Mỹ. Mỹ ngăn cản Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc, không chịu thực hiện điều khoản 21 của Hiệp định Paris về trách nhiệm của Mỹ trong việc hàn gắn vết 18 thương chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam, phong tỏa tài khoản liên quan đến Việt Nam ở nước ngoài, gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế của Việt Nam.
Cuối năm 1977 Quốc hội Mỹ thông qua luật cấm vận viện trợ cho Việt Nam. Đầu năm 1979, Mỹ vận động hầu hết các nước trong nghị viện Châu Âu đình chỉ viện trợ kinh tế và siết chặt cấm vận đối với Việt Nam. Đối với Pháp, Pháp rất muốn tranh thủ khôi phục lại vị trí chính trị, quyền lợi kinh tế và phát triển ảnh hưởng của mình ở Đông Dương và ở Việt Nam. Về phía Nhật, một mặt muốn lợi dụng Việt Nam về kinh tế, mặt khác không muốn cho tiềm lực kinh tế của Việt Nam mạnh lên.
Do đó, hoạt động gián điệp của Nhật là nhằm phục vụ âm mưu này. Tình báo gián điệp của các nước đế quốc tư bản khác cũng ráo riết hoạt động gây cơ sở, thu thập tin tức tình báo về chủ trương, đường lối xây dựng đất nước của Đảng và Nhà nước ta nhằm phục vụ ý đồ riêng của họ. Bên cạnh âm mưu phá hoại của chủ nghĩa đế quốc, các thế lực quốc tế khác cũng thực hiện chính sách chống phá Việt Nam. Trong đó, nổi lên là âm mưu và những hoạt động của giới cầm quyền Bắc Kinh và lực lượng Pôn Pốt - Iêng Xary của Campuchia.
Đối với Việt Nam thì mục tiêu chiến lược của giới cầm quyền ở Bắc Kinh là phá hoại đường lối độc lập tự chủ của Đảng CSVN, phá hoại uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, làm suy yếu cách mạng Việt Nam, kìm hãm sự nghiệp cải tạo XHCN và xây dựng CNXH của nhân dân, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết của Việt Nam, Lào và Campuchia. Khi Việt Nam thực hiện chính sách cải tạo tư sản mại bản, nhất là số tư sản trong đó có một bộ phận là Hoa kiều, giới cầm quyền Bắc Kinh tung tin chiến tranh sắp xảy ra gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân Trung Quốc và Việt Nam hòng gây rối loạn ở trong nước, gây thù hằn dân tộc, gây khó khăn trong công cuộc cải tạo XHCN và xây dựng CNXH. Họ kích động, dụ dỗ, lôi kéo, cưỡng ép hàng vạn người Hoa ở Việt Nam về Trung Quốc gây ra vụ “nạn kiều”, tăng cường hoạt động tình báo, móc nối với các đối tượng phản động, gián điệp, tập hợp lực lượng nhằm thực hiện âm mưu “ngoài đánh vào, trong nổi dậy”. Đặc biệt họ đã biến tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xary thành công cụ tay sai gây ra cuộc 19 chiến tranh xâm lấn ở biên giới Tây Nam.
Trong nước, bên cạnh sự thuận lợi to lớn là sự thống nhất mọi mặt hai miền Nam Bắc và tinh thần phấn khởi của mọi người dân thì đất nước phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách. Hậu quả của hơn 30 năm chiến tranh còn rất nặng nề, nền kinh tế đã có sự phát triển nhất định song về cơ bản vẫn trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Trong chiến tranh, Mỹ đã sử dụng những phát minh khoa học, kỹ thuật mới nhất vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, gây ra rất nhiều thiệt hại đối với dân tộc, như: dùng máy bay B52 tiến hành ném bom “rải thảm”; một số nơi ở miền Nam, Mỹ dùng cả chất độc hóa học màu da cam hòng hủy diệt sự sống, gây những hậu quả khôn lường sau chiến tranh. Đối với miền Bắc, Mỹ đã ném bom đánh phá gần như toàn bộ các thành phố, thị xã trong đó có cả trường học, bệnh viện, các cầu, cống, tuyến đường giao thông bị phá hủy.
Bằng chiến tranh hủy diệt, bằng văn hóa nô dịch, đồi trụy, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã để lại những hậu quả hết sức nặng nề về nhiều mặt. Hơn một triệu sĩ quan và binh sĩ của chế độ Việt Nam Cộng hòa tan rã tại chỗ, 27 vạn thương phế binh cần được cải tạo và giúp đỡ công ăn việc làm và cuộc sống lâu dài. Hơn 20 vạn người nghiện hút, hàng chục vạn gái điếm và hàng chục vạn trẻ vô gia cư, hàng vạn lưu manh chuyên nghiệp mà chính quyền phải quản lý, giáo dục cải tạo [21, tr. Tuy vậỵ, vừa thoát khỏi một xã hội thuộc địa kiểu mói, hậu quả của hơn 30 năm chiến tranh còn rất nặng nề, nền kinh tế đã có sự phát triển nhất định, song về cơ bản miền Nam vẫn ở trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu.
Cuộc đấu tranh giai cấp xoá bỏ áp bức bóc lột giữa lực lượng cách mạng và phản cách mạng còn diễn ra rất gay gắt, quyết liệt. Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng và thống nhất, những phần tử không chịu cải tạo XHCN trong giai cấp tư sản, sự chống phá của các đối tượng, đảng phái cũ, các lực lượng chống phá lợi dụng dân tộc, lợi dụng tôn giáo. tác động rất lớn tới công tác đảm bảo an ninh và giữ gìn TTATXH. Hàng ngũ nội bộ của chính quyền cũ thân Mỹ, mặc dù bị phân hóa sâu sắc, nhưng với tư tưởng chống cộng của một số nhóm chống cộng với đội gián điệp biệt kích di tản trở về theo kế 20 hoạch hậu chiến của Mỹ đã làm cho hoạt động chống phá của các đối tượng này trở nên rất phức tạp.
Nguy hiểm nhất đó chính là hoạt động chống phá của các đối tượng lợi dụng tôn giáo như: phản động lợi dụng đạo Thiên chúa, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin lành. trước tình hình phức tạp của đất nước, các đối tượng phản động đã ráo riết tập hợp lực lượng, liên hệ với các đối tượng phản động lợi dụng tôn giáo ở nước ngoài xuyên tạc, phản tuyên truyền qua rao giảng ở nhà thờ nhằm phá hoại các chủ trương, chính sách, các cuộc vận động chính trị lớn của Việt Nam; củng cố đức tin, nắm giáo dân, kích động giáo dân và các đối tượng phản động khác âm mưu gây bạo loạn. Trong nhóm lợi dụng tôn giáo thì nguy hiểm và lâu dài nhất là nhóm đạo Thiên chúa. Bên cạnh những hoạt động phá hoại trắng trợn nhóm này còn có nhiều âm mưu hoạt động rất thâm độc theo đường lối “thích nghi thời đại” rất tinh vi với chủ trương “thích nghi nhưng không để bị đồng hóa, thích nghi là để cảm hóa cho những người cộng sản theo lý tưởng Kyto” để thực hiện mục tiêu chống phá cách mạng.
Công tác xây dựng lực lượng CAND giai đoạn trước năm 1975 còn nhiều hạn chế, trong giai đoạn này công tác giáo dục chính trị, tư tưởng còn thiếu toàn diện, nặng về hình thức, số lượng và chưa đi sâu vào cải tiến nội dung, hình thức tổ chức và biện pháp tiến hành thiếu phong phú. Về tổ chức bộ máy mặc dù đã có nhiều kiện toàn trong cơ cấu tổ chức của các đơn vị, địa phương và được xếp vào khối quốc phòng an ninh, bộ máy, tổ chức của lực lượng CAND vẫn chưa thích hợp với tính chất vũ trang, thường trực chiến đấu. Về cơ bản bộ máy, tổ chức vẫn tuân thủ theo Nghị định số 132/CP ngày 29/9/1961 của Hội đồng Chính phủ (thời điểm này lực lượng CAND vẫn được xác định là một lực lượng thuộc khối hành chính sự nghiệp). Trình độ của cán bộ, chiến sĩ còn chưa cao.
Sau ngày giải phóng miền Nam năm 1975 lực lượng CAND ở hai miền có tổ chức, biên chế và thực hiện chế độ chính sách khác nhau: Ở miền Bắc, qua 20 năm cách mạng XHCN lực lượng Công an đang từng bước xây dựng thành lực lượng vũ trang sắc bén. Ở miền Nam, bộ máy ở các Sở, Ty vẫn còn tình trạng như trong thời chiến tranh, biên chế các tỉnh vẫn còn 21 nhiều, việc tuyển dụng nhiều nơi còn căn cứ vào số lượng cảnh sát của địch bao nhiêu thì ta cũng có bấy nhiêu, việc tuyển chọn bộ đội và binh vận sang công an cũng chỉ trao đổi ý kiến trên bàn giấy rồi lập danh sách. Sự chỉ đạo về công tác chính trị, tư tưởng của Đảng đối với lực lượng Công an có những thời điểm còn thiếu nhạy bén, chưa kịp thời đáp ứng được sự chuyển hướng công tác trước tình hình, nhiệm vụ mới. Một bộ phận cán bộ chiến sĩ chưa yên tâm công tác; các đồng chí công tác ở tỉnh khác muốn xin về công tác tại các tỉnh nhà.