Pháp Luật và Thực Tiễn Đăng Ký Quyền Sử Dụng Đất Tại Thành Phố Hà Nội

Chuyên khảo luật học phân tích Pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất từ thực tiễn tại thành phố hà nội, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Trường Đại Học Mở Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2022

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC VIẾT TẮT

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài

0.3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

0.7. Kết cấu của luận văn

1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất

1.1.2. Đăng ký

1.1.3. Quyền sử dụng đất

1.1.4. Đăng ký quyền sử dụng đất

1.2. Nội dung pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất

1.2.1. Cơ sở của việc xây dựng pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất

1.2.2. Cấu trúc pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất

1.2.3. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất

1.3. Pháp luật của các nước về đăng ký quyền sử dụng đất

1.3.1. Pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất ở Trung Quốc

1.3.2. Pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất ở Cộng hòa Pháp

1.3.3. Pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất của Anh

1.3.4. Giá trị tham khảo đối với Việt Nam

1.4. Kết luận chương 1

2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1. Nội dung pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay

2.1.1. Các quy định pháp luật về nội dung đăng ký quyền sử dụng đất

2.1.2. Quy định pháp luật về thủ tục, trình tự đăng ký quyền sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của chủ thể đăng ký quyền sử dụng đất

2.1.3. Quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đăng ký quyền sử dụng đất và xử lý vi phạm về đăng ký quyền sử dụng đất

2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất tại Thành phố Hà Nội

2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thành phố Hà Nội

2.2.2. Tổ chức và hoạt động của cơ quan Tài nguyên môi trường Thành phố Hà Nội

2.2.3. Thực trạng áp dụng pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất tại Thành phố Hà Nội

2.3. Kết luận chương 2

3. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất và nâng cao hiệu lực, hiệu quả áp dụng pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất tại Thành phố Hà Nội

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất và nâng cao hiệu lực, hiệu quả áp dụng pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất tại Thành phố Hà Nội

3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất

3.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả áp dụng pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất tại Thành phố Hà Nội

3.3. Kết luận chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đăng Ký Quyền Sử Dụng Đất Tại Hà Nội

Đăng ký quyền sử dụng đất là một trong những vấn đề quan trọng trong quản lý đất đai tại Hà Nội. Với sự phát triển nhanh chóng của đô thị, nhu cầu về đất đai ngày càng tăng cao. Việc hiểu rõ về quy trình và pháp luật liên quan đến đăng ký quyền sử dụng đất là cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất.

1.1. Khái Niệm Đăng Ký Quyền Sử Dụng Đất

Đăng ký quyền sử dụng đất là thủ tục hành chính nhằm ghi nhận quyền sử dụng đất của cá nhân, tổ chức. Theo quy định của pháp luật, việc đăng ký này giúp xác định rõ ràng quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

1.2. Vai Trò Của Đăng Ký Quyền Sử Dụng Đất

Đăng ký quyền sử dụng đất không chỉ bảo vệ quyền lợi của người sử dụng mà còn giúp Nhà nước quản lý hiệu quả quỹ đất. Điều này góp phần vào việc phát triển bền vững và ổn định thị trường bất động sản.

II. Thực Trạng Đăng Ký Quyền Sử Dụng Đất Tại Hà Nội

Thực trạng đăng ký quyền sử dụng đất tại Hà Nội hiện nay đang gặp nhiều thách thức. Mặc dù đã có nhiều cải cách, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết để nâng cao hiệu quả của hệ thống đăng ký.

2.1. Các Vấn Đề Thường Gặp Trong Đăng Ký

Nhiều người dân gặp khó khăn trong việc thực hiện thủ tục đăng ký do quy trình phức tạp và thiếu minh bạch. Điều này dẫn đến tình trạng khiếu nại và tranh chấp về quyền sử dụng đất.

2.2. Những Bất Cập Trong Pháp Luật Đăng Ký

Pháp luật hiện hành về đăng ký quyền sử dụng đất còn nhiều bất cập, như việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm trễ và không đồng bộ giữa các cơ quan chức năng.

III. Phương Pháp Cải Thiện Đăng Ký Quyền Sử Dụng Đất

Để nâng cao hiệu quả của việc đăng ký quyền sử dụng đất, cần có những phương pháp cải thiện cụ thể. Các giải pháp này không chỉ giúp giảm thiểu thủ tục hành chính mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho người dân.

3.1. Đơn Giản Hóa Thủ Tục Đăng Ký

Cần đơn giản hóa các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất, giảm bớt giấy tờ và thời gian xử lý để người dân dễ dàng tiếp cận hơn.

3.2. Tăng Cường Đào Tạo Nhân Lực

Đào tạo nhân lực cho các cơ quan chức năng về quy trình đăng ký quyền sử dụng đất sẽ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm thiểu sai sót trong quá trình thực hiện.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Về Đăng Ký Quyền Sử Dụng Đất

Việc áp dụng thực tiễn về đăng ký quyền sử dụng đất tại Hà Nội đã cho thấy nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để có những điều chỉnh kịp thời.

4.1. Kết Quả Đạt Được Từ Đăng Ký

Nhiều người dân đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giúp họ yên tâm hơn trong việc đầu tư và phát triển tài sản của mình.

4.2. Những Thách Thức Cần Giải Quyết

Mặc dù đã có những kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều thách thức như tình trạng tranh chấp đất đai và sự thiếu minh bạch trong thông tin về đất đai.

V. Kết Luận Về Đăng Ký Quyền Sử Dụng Đất Tại Hà Nội

Đăng ký quyền sử dụng đất là một vấn đề quan trọng trong quản lý đất đai tại Hà Nội. Cần có những giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả của hệ thống này, từ đó bảo vệ quyền lợi của người sử dụng đất và phát triển bền vững.

5.1. Tương Lai Của Đăng Ký Quyền Sử Dụng Đất

Trong tương lai, việc cải cách hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất sẽ tiếp tục được chú trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân và doanh nghiệp.

5.2. Đề Xuất Giải Pháp Cải Thiện

Cần có các chính sách cụ thể để cải thiện quy trình đăng ký, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc quản lý đất đai.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về ĐKQSDĐ Chương 2: Thực trạng pháp luật về ĐKQSDĐ và thực tiễn áp dụng PL về ĐKQSDĐ tại TP. Hà Nội 5 Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về ĐKQSDĐ và nâng cao hiệu lực, hiệu quả áp dụng PL về ĐKQSDĐ tại Tp. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất 1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất a) Đăng ký Đăng ký quyền sử dụng đất là một thủ tục hành chính để Nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai. Khi nghiên cứu về khái niệm đăng ký quyền sử dụng đất trước hết chúng ta tìm hiểu khái niệm đăng ký và khái niệm quyền sử dụng đất.

Đăng ký được hiểu như thế nào, theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ xuất bản năm 2003, “Đăng ký” được hiểu là việc “Ghi vào sổ của cơ quan quản lý để chính thức được công nhận để hưởng quyền lợi hay làm nghĩa vụ” [32’]. Thực tế, “đăng ký” có thể được hiểu là công việc của một cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức, cá nhân thực hiện việc ghi nhận hay xác nhận về một sự việc hay một tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người đăng ký, cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đứng ra đăng ký. b) Quyền sử dụng đất Nhằm làm sáng tỏ khái niệm đặc điểm pháp luật về ĐKQSDĐ trước hết cần xác định các định nghĩa có liên quan bao gồm: Quyền sử dụng, quyền sử dụng đất, đăng ký quyền sử dụng đất. Điều 189 của Bộ luật dân sự 2015 đã quy định như sau: “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”.

“Khai thác” ở đây được hiểu là khai thác những giá trị sử dụng của tài sản với mục đích đáp ứng nhu cầu vật chất hoặc tinh thần, đồng thời thoả mãn các yêu cầu trong sản xuất, kinh doanh. Kết hợp với đó là tiếp thu những kết quả do tự nhiên mang lại …Do vậy, tài sản được sử dụng là một trong những quyền năng của chủ sở hữu. Công dụng, hoa lợi, lợi tức của tài sản được chủ sở hữu toàn quyền khai thác phù hợp với nhu cầu của bản thân. Hợp đồng là phương tiện pháp lý giúp chủ sở hữu chuyển giao tài sản mình đang sử dụng cho chủ thể khác.

Đối với cơ quan, tổ chức. Chủ thể này được QSD tài sản trên cơ sở được ấn định tại 01 văn bản của CQNN có thẩm quyền. 7 Ở nước ta: QSDĐ là một loại ‘vật quyền” nhưng được hạn chế phát sinh trên cơ sở của “quyền sở hữu toàn dân về đất đai” mà NN đại diện cho nhân dân làm chủ thể chủ sở hữu, thông qua các hình thức NN trao cho các chủ thể được phép sử dụng đất. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt là ba quyền các chủ thể có QSDĐ được thực hiện.

Quyền sử dụng đất có những đặc điểm sau: Thứ nhất, QSDĐ được pháp luật quy định từ căn cứ phát sinh, thực hiện và chấm dứt. Đồng thời, QSDĐ bao gồm những quyền: Được cấp GCNQSDĐ; khai thác và hưởng thành quả trên đất và được NN bảo vệ khi có sự xâm phạm QSDĐ của chủ thể sử dụng. Thứ hai, QSDĐ có tính hạn chế Một là, trên nền tảng của QSH toàn dân, QSDĐ được hình thành. Từ QSH toàn dân mà pháp luật quy định, NN thông qua các hình thức cụ thể để trao QSDĐ cho NSD.

Vì vậy, QSDĐ là quyền phát sinh từ quyền sở hữu toàn dân về đất đai. Hai là, QSDĐ là “quyền phụ thuộc”. NN được quyền tuyệt đối QL và sử dụng, định đoạt toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi đât nước. NN đã quy định nội dung của QSDĐ, quyết định trao QSDĐ cho các chủ thể, thu hồi lại QSDĐ … thông qua người sử dụng đất, NN trao QSDĐ nhưng người sử dụng đất bị hạn chế về rất nhiều nội dung: không được tự ý chuyển mục đích sử dụng đất… Ba là, QSH toàn dân về đất đai có tính bất biến trong khi đó QSDĐ thì không.

Tính bất biến của QSH toàn dân về đất đai là không bị thay đổi về thời gian, còn QSDĐ lại bị giới hạn trong thời hạn sử dụng đất đối với từng loại đất [38] c) Đăng ký quyền sử dụng đất Khái niệm đăng ký đất đai xuất hiện trên thế giới từ rất sớm, ở Úc Robert Richard Torrens là người đầu tiên đưa ra khái niệm đăng ký đất đai, đầu tiên có tên gọi là Hệ thống đăng ký bằng khoán (năm 1857), sau này đặt tên là hệ thống Torren. nh gọi là hệ thống đang ký bất động sản[1]. Theo UN-ECE [36] có hai hệ thống ghi nhận quyền sở hữu đất đai là hệ thống đăng ký đất đai và sổ đăng ký “land book”, nhiều nước còn là địa chính (Cadastre), cả hai hệ thống đều tồn tại phụ thuộc vào lịch sử của mỗi nước. Đăng ký đất đai theo định nghĩa của UN-ECE [36] là quá trình xác lập quyền của chủ sử dụng đất bằng hình thức đăng ký bằng văn bản và đăng ký những hồ sơ khác liên quan với chuyển giao quyền sở hữu đất hoặc dưới hình thức đăng ký quyền 8 sở hữu đất.

Đăng ký đất đai cung cấp những thông tin về vị trí thửa đất, ranh giới thửa đất trong bản đồ địa lý và bản đồ địa chính, nguồn gốc của bất động sản đã được đăng ký. Đăng ký đất đai có vai trò quan trọng đối với Nhà nước. Nếu sự quản lý nhà nước về đất đai tốt sẽ thúc đẩy sự khai thác những lợi ích từ đất đai. Theo UNECE lợi nhuận kinh tế và xã hội cũng xuất phát từ sự quản lý nhà nước về đất đai tốt.

Hệ thống đăng ký đất đai tốt sẽ thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản. Nó cũng bảo vệ sự phát triển nền kinh tế và của thị trường thế chấp. Theo pháp luật Việt Nam trước khi ban hành Luật Đất đai năm 2013 “đăng ký đất đai” được gọi là “Đăng ký quyền sử dụng đất”, đến Luật Đất đai năm 2013 đã sử dụng cụm từ “đăng ký đất đai” thay thế cho “đăng ký quyền sử dụng đất” đã dùng trong các văn bản trước đó. Theo “Từ điển luật học”: ĐKQSDĐ là việc thực hiện các công việc như kê khai, đăng kí đúng với tình hình, hiện trạng sử dụng đất như các thông tin về đất của các chủ sở hữu đất trên cơ sở sự hướng dẫn của cơ quan thực hiện đăng kí, thống kê đất đai.

Theo quy định tại khoản 15, điều 3 luật đất đai năm 2013 thì ĐKQSDĐ có nghĩa là Hồ sơ địa chính sẽ ghi lại “việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền QL đất đối với một thửa đất”. Có thể nhận thấy, khi có những thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt QSDĐ, CQNN có thẩm quyền sẽ ghi vào “Sổ ĐK BĐS”. Đây chính là ĐKQSDĐ, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Có 2 loại đăng ký QSDĐ như sau: i) Đăng ký ban đầu: thực hiện khi người sử dụng đất chưa được cấp GCNQSDĐ hoặc người sử dụng đất được sử dụng theo kết quả giải quyết của Toà án nhân dân, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của CQ hành chính NN.

ii) Đăng ký biến động: áp dụng trong trường hợp người sử dụng đất đã được cấp GCNQSDĐ nhưng trong quá trình sử dụng có sự thay đổi về thông tin. NSDĐ có thể ĐKQSDĐ tại Văn phòng ĐKQSDĐ. Cơ quan này lưu giữ toàn bộ thông tin về đất đai, cung cấp các thông tin khi có yêu cầu của NSDĐ. d) Pháp luật về ĐKQSDĐ 9 Là việc CQNN có thẩm quyền ban hành những VBQPPL theo trình tự, thủ tục được quy định nhằm điều chỉnh các QHXH trong lĩnh vực ĐKQSDĐ với mục đích ghi nhận QSDĐ của các chủ thể và thực hiện QLNN về đất đai.

Trên cơ sở khái niệm “Đăng ký quyền sử dụng đất” ở trên có thể đưa ra khái niệm “Pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành về nguyên tắc, đối tượng, trình tự, thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất; tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức đăng ký quyền sử dụng đất và giá trị pháp lý của việc đăng ký quyền SDĐ. Với tư cách là một thủ tục hành chính bắt buộc, việc ĐKQSDĐ cần phải được ghi nhận một cách công khai, rõ ràng, minh bạch trong các quy định pháp luật nhằm xác lập mối quan hệ ràng buộc về mặt pháp lý giữa Nhà nước và người sử dụng đất. Nhà nước cấp giấy CN QSD đất cho người sử dụng đất lần đầu và các quy định ghi nhận những biến động về quyền sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất vào trong hồ sơ địa chính và giấy CNQSDĐ. Để nhà nước có thể quản lý một cách hiệu quả đất đai thì cần phải xây dựng và hoàn thiện PL về ĐKQSDĐ.

Hiến pháp năm 1980 ra đời đã làm thay đổi căn bản chế độ sở hữu đất đai ở nước ta. Hình thức sở hữu toàn dân về đất đai thay thế tất cả các hình thức sở hữu khác. Việc xây dựng, kiện toàn hệ thống pháp luật đất đai nói riêng không chỉ đơn thuần là chỉ xây dựng, kiện toàn các hệ thống cơ quan quản lý đất đai mà quan trọng là nêu được các nội dung quản lý, quuy định chặt chẽ về mặt pháp lý các nội dung của nó.2 Đặc điểm của pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất Pháp luật về ĐKQSDĐ là 01 chế định cụ thể của của ngành luật đất đai (ở góc độ hệ thống cấu trúc) hay 01 bộ phận của pháp luật về đất đai bao gồm tổng thể các quy phạm PL được ban hành bởi CQNN có thẩm quyền với mục đích điều chỉnh nhóm QHXH phát sinh trong lĩnh vực ĐK QSDĐ. Trong mối quan hệ với các chế định pháp luật đất đai và hệ thống pháp luật, pháp luật ĐKQSDĐ là tiền đề cho việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ pháp luật đất đai, đặc biệt là quan hệ thực hiện QSDĐ của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo hộ, pháp luật về ĐKQSDĐ có những đặc điểm sau: Thứ nhất, pháp luật về ĐKQSDĐ thuộc nhóm “pháp luật công”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ