Luận án tiến sĩ đảng bộ tỉnh đồng nai lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở từ năm 1991 đến năm 2015

Luận án tiến sĩ về lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1991-2015, phân tích sâu sắc và toàn diện.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

319
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án

1.2. Những vấn đề luận án cần giải quyết

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ (1991 – 2005)

2.1. Các yếu tố tác động quá trình xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (1991 – 2005)

2.2. Chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh về xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở

2.3. Sự chỉ đạo và kết quả xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai

3. CHƯƠNG 3: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI (2006-2015)

3.1. Tình hình mới và quan điểm của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở

3.2. Chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về đẩy mạnh xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở

3.3. Sự chỉ đạo và kết quả đẩy mạnh xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở của Đảng bộ tỉnh (2006 - 2015)

4. CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

4.1. Bài học kinh nghiệm

DANH MỤC BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cách Đảng bộ Đồng Nai xây dựng hệ thống chính trị cơ sở 1991 2015

Quá trình xây dựng hệ thống chính trị cơ sở Đồng Nai 1991-2015 là một hành trình quan trọng, thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng bộ Đồng Nai trong việc củng cố và phát triển nền tảng chính trị vững chắc tại địa phương. Từ khi tái lập tỉnh năm 1991, Đồng Nai đã đối mặt với nhiều thách thức về kinh tế, xã hội, đặc biệt là sự đa dạng dân tộc, tôn giáo và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng. Trong bối cảnh đó, Đảng bộ Đồng Nai đã đề ra các chủ trương, chính sách nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở, bao gồm Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. Việc xây dựng hệ thống chính trị cơ sở không chỉ góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế mà còn tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo tinh thần dân chủ xã hội chủ nghĩa.

1.1. Tổng quan về hệ thống chính trị cơ sở Đồng Nai 1991 2015

Hệ thống chính trị cơ sở tại Đồng Nai bao gồm các tổ chức Đảng bộ cơ sở, chính quyền xã, phường, thị trấn, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Qua 24 năm, hệ thống này đã được củng cố và phát triển với nhiều đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động. Đồng Nai là tỉnh công nghiệp trọng điểm với đặc thù dân cư đa dạng, có hơn 38 dân tộc và nhiều tôn giáo lớn, điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh để đảm bảo ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội.

1.2. Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Đồng Nai trong xây dựng hệ thống chính trị cơ sở

Đảng bộ Đồng Nai giữ vai trò hạt nhân trong việc lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở. Qua các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và của tỉnh, Đảng bộ đã tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, đảng viên, đồng thời phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong vận động nhân dân. Sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đã tạo nên nền tảng vững chắc cho sự phát triển của hệ thống chính trị cơ sở Đồng Nai.

II. Hướng dẫn giải pháp phát triển chính trị cơ sở tại Đồng Nai 1991 2015

Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo ổn định chính trị, Đảng bộ Đồng Nai đã triển khai nhiều giải pháp đổi mới và phát triển hệ thống chính trị cơ sở. Các giải pháp tập trung vào củng cố tổ chức Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đổi mới hoạt động của chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội, đồng thời tăng cường công tác dân vận và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Việc thực hiện các giải pháp này đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và tạo sự đồng thuận trong nhân dân.

2.1. Phương pháp củng cố tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ cơ sở

Công tác xây dựng tổ chức Đảng được chú trọng với việc kiện toàn các chi bộ, đảng bộ cơ sở, nâng cao chất lượng sinh hoạt và phát triển đảng viên. Đồng thời, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn được đẩy mạnh nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và kỹ năng thực thi công vụ. Việc quy hoạch, sử dụng cán bộ được thực hiện bài bản, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng tại cơ sở.

2.2. Giải pháp đổi mới hoạt động chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội

Chính quyền cơ sở được kiện toàn về tổ chức và hoạt động, tăng cường vai trò quản lý, điều hành của UBND và nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND. Các tổ chức chính trị - xã hội như Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên được đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, phát huy vai trò tập hợp, vận động nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước và thực hiện các chủ trương của Đảng, Nhà nước.

2.3. Phương pháp phát huy quyền làm chủ của nhân dân và công tác dân vận

Đảng bộ Đồng Nai đặc biệt quan tâm đến việc phát huy dân chủ cơ sở thông qua việc thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Công tác dân vận được đổi mới, tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xây dựng và bảo vệ địa phương. Việc giải quyết các điểm nóng chính trị - xã hội được chú trọng nhằm giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

III. Bí quyết đổi mới hệ thống chính trị cơ sở Đồng Nai giai đoạn 1991 2015

Quá trình đổi mới hệ thống chính trị cơ sở tại Đồng Nai đã trải qua nhiều bước phát triển với những bài học kinh nghiệm quý báu. Việc đổi mới không chỉ tập trung vào tổ chức mà còn chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và phát huy vai trò của nhân dân. Các biện pháp đồng bộ và sáng tạo đã giúp hệ thống chính trị cơ sở Đồng Nai ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững ổn định chính trị.

3.1. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ Đồng Nai tại cơ sở

Đảng bộ tỉnh đã đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo, tập trung vào nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng. Việc xây dựng quy chế làm việc của cấp ủy cơ sở được hoàn thiện, nâng cao trách nhiệm của bí thư Đảng ủy, chủ tịch HĐND, UBND trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương.

3.2. Bí quyết xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có năng lực và phẩm chất

Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được chú trọng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và kỹ năng thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đồng thời, công tác đánh giá, phân loại cán bộ, đảng viên được thực hiện nghiêm túc, công khai nhằm nâng cao trách nhiệm và tinh thần nêu gương của cán bộ chủ chốt.

3.3. Kinh nghiệm phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội được đổi mới hoạt động, tập trung vào công tác vận động, tập hợp nhân dân, phát huy quyền làm chủ và tham gia xây dựng Đảng, chính quyền. Việc phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị được tăng cường nhằm nâng cao hiệu quả công tác dân vận, góp phần giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

IV. Phương pháp ứng dụng thực tiễn xây dựng hệ thống chính trị cơ sở Đồng Nai

Việc ứng dụng các phương pháp khoa học và thực tiễn trong xây dựng hệ thống chính trị cơ sở tại Đồng Nai đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống. Các phương pháp nghiên cứu lịch sử, điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu, khảo sát và thống kê được sử dụng để đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với đặc điểm địa phương. Sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn đã giúp Đảng bộ Đồng Nai xây dựng được hệ thống chính trị cơ sở ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

4.1. Phương pháp nghiên cứu và khảo sát thực trạng hệ thống chính trị cơ sở

Các phương pháp nghiên cứu lịch sử và xã hội học được áp dụng để thu thập, phân tích dữ liệu về quá trình xây dựng hệ thống chính trị cơ sở Đồng Nai. Phương pháp phỏng vấn sâu cán bộ chủ chốt và khảo sát ý kiến nhân dân giúp đánh giá khách quan thực trạng hoạt động của các tổ chức trong hệ thống, từ đó xác định những điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào công tác lãnh đạo chỉ đạo

Kết quả nghiên cứu được sử dụng làm cơ sở khoa học để Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng xây dựng các nghị quyết, kế hoạch, chương trình hành động phù hợp với tình hình thực tế. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và phát huy vai trò của nhân dân được triển khai đồng bộ, góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.

V. Kết luận và tương lai phát triển hệ thống chính trị cơ sở Đồng Nai 1991 2015

Qua 24 năm xây dựng và phát triển, hệ thống chính trị cơ sở Đồng Nai 1991-2015 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế về chất lượng tổ chức, năng lực cán bộ và hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống. Để phát triển bền vững, cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, tăng cường công tác dân vận và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Tương lai, hệ thống chính trị cơ sở Đồng Nai sẽ tiếp tục là nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của tỉnh.

5.1. Đánh giá thành tựu và hạn chế trong xây dựng hệ thống chính trị cơ sở Đồng Nai

Thành tựu nổi bật là hệ thống chính trị cơ sở được củng cố, tổ chức Đảng và chính quyền hoạt động hiệu quả hơn, các tổ chức chính trị - xã hội phát huy vai trò tích cực. Tuy nhiên, còn tồn tại hạn chế như chất lượng một số tổ chức cơ sở đảng chưa đồng đều, năng lực cán bộ còn hạn chế, công tác dân vận và phát huy dân chủ cơ sở chưa thực sự sâu rộng.

5.2. Định hướng phát triển hệ thống chính trị cơ sở Đồng Nai trong tương lai

Định hướng phát triển tập trung vào đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các thành tố trong hệ thống chính trị cơ sở, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, đảng viên, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đồng thời, tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án và phụ lục, Luận án gồm 4 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở (1991 – 2005) Chƣơng 3: Chủ trƣơng và sự chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (2006 – 2015) Chƣơng 4: Nhận xét và kinh nghiệm 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN Mục tiêu của tổng quan là nghiên cứu hai nội dung chủ yếu luận án: 1. Các nghiên cứu về xây dựng HTCT và HTCT ở cơ sở; 2.

Những công trình nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng và Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về xây dựng HTCT ở cơ sở. Các công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở Nghiên cứu hệ thống chính trị và hệ thống chính trị ở cơ sở đƣợc nhiều nhà khoa học, các nhà lãnh đạo quan tâm nghiên cứu trong thời gian qua. Sau Hội nghị Trung ƣơng 6 khóa VI (3/1989) lần đầu tiên khái niệm “Hệ thống chính trị” đƣợc dùng để thay cho khái niệm “Hệ thống chuyên chính vô sản” thì HTCT càng đƣợc nghiên cứu sâu hơn. Bàn về HTCT ở các nƣớc tƣ bản có các công trình tiêu biểu: “Chính trị và hệ thống chính trị các nước tư bản phát triển” của Hồ Văn Thông [91], “Thể chế chính trị thế giới đương đại” của nhóm tác giả Dƣơng Xuân Ngọc và Lƣu Văn An [72], “Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ (Mô hình tổ chức và hoạt động)” của Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) [63], “Về hệ thống chính trị Xingapo” của tác giả Lê Văn Đính (chủ biên) [44].

Các công trình khoa học nêu trên tập trung khai thác về lịch sử hình thành, phát triển, đặc trƣng và các mâu thuẫn bản chất của HTCT các nƣớc tƣ bản. Đi sâu nghiên cứu thể chế chính trị trong một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới, nhóm nghiên cứu cho rằng, việc lựa chọn mô hình và cơ chế vận hành của HTCT của mỗi nƣớc có sự tác động lớn từ yếu tố văn hóa, lịch sử lâu đời, các đảng phái chính trị hiện đóng vai trò quyết định trong đời sống chính trị nói chung và trong HTCT các nƣớc này nói riêng. Bàn về thể chế chính trị một số nƣớc ASEAN, các tác giả nhấn mạnh đến dấu ấn làng xã, công xã nông thôn, tính dân tộc, cục bộ địa phƣơng còn in đậm trong thiết chế chính trị ở các quốc gia này. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lịch sử hình thành và phát triển HTCT của Việt Nam là hƣớng nghiên cứu đƣợc nhiều nhà khoa học đi sâu khai thác.

Tiêu biểu: “Hệ thống chính trị Việt Nam - quá trình xây dựng và đánh giá thực trạng” của nhà nghiên cứu Vũ Minh Giang [48] là một trong những công trình sớm nghiên cứu có hệ thống về HTCT. Nhóm tác giả sử dụng phƣơng pháp phân kỳ lịch sử để tái hiện lại quá trình hình thành, phát triển của HTCT qua các thời kỳ, qua đó đƣa ra những chỉ dẫn có giá trị về hạn chế của HTCT nhƣ “thực trạng song trùng quyền lực giữa Đảng và Nhà nƣớc dẫn đến tình trạng bao biện làm thay hoặc trong chờ ỷ lại, kết cục là sự kém hiệu quả trong quản lý và điều hành” [tr 270], cơ chế tập trung, quan liêu - bao cấp có dấu ấn nặng nề trong HTCT, thiếu một thiết kế tổng thể cho HTCT trong thời kỳ quá độ, chƣa có chƣơng trình đào tạo và cơ chế tuyển chọn cán bộ hợp lý…[tr 271] đó là sự yếu kém của HTCT cơ sở cần đƣợc khắc phục. Cùng hƣớng tiếp cận trên nhƣng nhấn mạnh đến giải pháp đổi mới HTCT, đề tài khoa học cấp Nhà nƣớc “Hệ thống chính trị Việt Nam” của nhóm tác giả Nguyễn Hữu Khiển [65] công trình làm rõ thêm nền tảng lý luận và thực tiễn HTCT, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với HTCT, theo nhóm tác giả xây dựng HTCT cần nhấn mạnh đến đổi mới tổ chức, hoạt động và mối quan hệ của Đảng với các thành tố khác trong HTCT; làm rõ bản chất giai cấp công nhân trong quá trình xây dựng, tổ chức và lãnh đạo của Đảng đối với HTCT; củng cố, hoàn thiện tổ chức và phƣơng pháp hoạt động của Đảng. Cuốn sách “Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”[92], trong ấn phẩm này “Hệ thống chính trị đƣợc hiểu là hình thức tổ chức của chính trị và dân chủ xác lập bởi tổ chức và hoạt động của một hệ thống thống nhất các thiết chế bao gồm Đảng cộng sản Việt Nam; Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có trách nhiệm và quyền hạn thực hiện quyền lực chính trị theo ủy quyền của nhân dân [tr 201].

Xây dựng HTCT chính là “làm rõ nội hàm các nhiệm vụ, chức năng của hệ thống chính trị, các cấu trúc tổ chức của hệ thống chính trị, các quan hệ trong hệ thống chính trị tạo ra cơ sở lý luận để xây dựng hệ tiêu chí xác định tƣ cách thành viên của mỗi một tổ chức trong hệ thống 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính trị” [tr 422]. Cũng theo Lê Minh Thông trong tác phẩm “Một số vấn đề về cơ sở khoa học của công tác tổ chức trong hệ thống chính trị” [93] cho rằng: xuất phát từ mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của HTCT, công tác tổ chức trong HTCT phải đảm bảo mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân; phải thể hiện đƣợc cơ cấu tổ chức thực hiện quyền chính trị trong HTCT; đảm bảo cơ cấu tổ chức thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát trong HTCT; đảm bảo HTCT hoạt động đúng với tƣ cách là cơ chế tổ chức dân chủ và thực hành dân chủ. Cuốn sách “Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam (1986 - 2011)” [199] tác giả Phạm Ngọc Trâm nhấn mạnh “đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam (1986 - 2011) là một yêu cầu khách quan của công cuộc đổi mới, tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị” [tr 357]. Bằng phƣơng pháp phân kỳ lịch sử, tác giả đi sâu nghiên cứu quá trình xây dựng, đổi mới HTCT trên ba thành tố: đổi mới phƣơng thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền, đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Tác giả rút ra thành tựu, hạn chế và bốn bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng HTCT Việt Nam, một trong bốn bài học đó là “đổi mới hệ thống chính trị phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, từng bƣớc hoàn thiện nền dân chủ”[tr 367]. Cuốn sách “Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2020”[52] tác giả Trần Đình Hoan xác định “hệ thống chính trị là một phạm trù thể hiện hình thức tổng quát nhất của chính trị và dân chủ, xác lập cơ chế thực hiện quyền lực chính trị Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lý, nhân dân làm chủ trong điều kiện xây dựng và vận hành kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta” [tr 11]. Đổi mới HTCT phải đảm bải nguyên tắc “không nhằm mục tiêu tạo ra một hệ thống chính trị mới hay thay đổi bản chất của hệ thống chính trị hiện nay. Đổi mới hệ thống chính trị nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập trong hệ thống chính trị và trong từng tổ chức thành viên của hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và Nhà nƣớc pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân [tr 276], trên cơ sở đó, tác giả đƣa ra quan điểm, giải pháp đổi mới HTCT hiện nay.

15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận án Tiến sĩ của Bùi Thị Thu Hiền: “Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay”[51], tác giả khẳng định Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng HTCT vững mạnh, nhất là chăm lo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thƣờng xuyên đổi mới phƣơng thức lãnh đạo của Đảng và tăng cƣờng mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Quá trình vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào hoạt động lãnh đạo đổi mới HTCT của Đảng trong thời gian qua đạt đƣợc nhiều thành tựu: “Hệ thống chính trị Việt Nam đã tỏ rõ vai trò, vị trí, sức mạnh, trí tuệ và bản lĩnh chính trị của mình trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam”[tr 162]. Tuy vậy, tác giả cho rằng “hệ thống chính trị nƣớc ta hiện nay chƣa phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, vai trò của các cơ quan, tổ chức, các bộ phận hợp thành. Tổ chức Đảng nhiều nơi còn lấn sân, làm thay công việc Nhà nƣớc hoặc có lúc, có nơi, tổ chức Đảng yếu kém không lãnh đạo đƣợc nhà nƣớc[tr 163].

HTCT chƣa thực sự tinh gọn, hiệu quả: công tác cán bộ vẫn còn nhiều bất cập, thiếu dân chủ; phƣơng thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nƣớc, MTTQ và các đoàn thể chƣa rõ, chậm đổi mới; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi, lợi ích nhóm “Ông quan cách mạng” vẫn còn phổ biến.tác giả nhận định xây dựng HTCT cần tập trung vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; xây dựng nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân; xây dựng MTTQ Việt Nam; nâng cao dân trí và thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội. Cuốn sách“Nhà nước trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay” do Lê Minh Quân chủ biên [77]. Nhà nƣớc là trụ cột của HTCT, đổi mới và hoàn thiện Nhà nƣớc, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân là nhiệm vụ trung tâm của quá trình đổi mới HTCT. Theo tác giả việc nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của Nhà nƣớc trong HTCT là một trong những điều kiện để đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của HTCT; đồng thời giúp nhận thức đầy đủ và giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa các thành tố trong HTCT, trọng tâm là mối quan hệ giữa Nhà nƣớc với Đảng, với MTTQ và với các tổ chức chính trị - xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ