Mối quan hệ giữa Dân chủ và Pháp luật trong điều kiện Việt Nam hiện nay

Dân chủ và pháp luật ở Việt Nam: Mối quan hệ biện chứng, tương hỗ và thúc đẩy phát triển. Phân tích bối cảnh hiện nay, thực trạng và giải pháp.

Trường đại học

Không có thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ Luật học

2024

182
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Chương 1: SỰ CẦN THIẾT, NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT

1.1. Sự cần thiết khách quan của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

1.2. Khái niệm dân chủ và pháp luật

1.3. Tại sao dân chủ cần pháp luật?

1.4. Tại sao pháp luật cần dân chủ?

1.5. Hình thức biểu hiện của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật.1 Hiến pháp, hình thức biểu hiện trọng tâm của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

1.6. Các luật có nội dung quy định trực tiếp về quyền và cơ chế dân chủ

1.7. Dân chủ trong hoạt động xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật

1.8. Nội dung mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

1.9. Dân chủ là sức sống của pháp luật

1.10. Pháp luật là phương tiện và đại lượng của dân chủ

1.11. Những yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

1.12. Nền kinh tế thị trường phát triển tương thích với mối quan hệ giữa pháp luật và dân chủ

1.13. Kết cấu xã hội ảnh hưởng đến dân chủ và pháp luật

1.14. Truyền thống, văn hóa chính trị - pháp lý và nhận thức về mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật tác động đến dân chủ và pháp luật

1.15. Trào lưu dân chủ thế giới và pháp luật quốc tế ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật của quốc gia

2. Chương 2: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM

2.1. Các giai đoạn phát triển của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật ở Việt Nam từ 1945 đến nay

2.2. Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trong giai đoạn 1945 - 1959

2.3. Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trong giai đoạn 1959 - 1980

2.4. Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trong giai đoạn 1980 - 1992

2.5. Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật từ thời kỳ đổi mới cho đến nay

2.6. Thực trạng và nguyên nhân của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật ở Việt Nam

2.7. Thực trạng mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật ở Việt Nam

2.8. Nguyên nhân của những hạn chế trong mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

3. Chương 3: HOÀN THIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM

3.1. Nhu cầu hoàn thiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

3.2. Đổi mới kinh tế phải mở rộng dân chủ và hoàn thiện pháp luật

3.3. Nhu cầu hòan thiện mối quan hệ từ quá trình toàn cầu hóa

3.4. Nhu cầu hoàn thiện mối quan hệ từ sự thay đổi về mặt xã hội sau thời kỳ đổi mới

3.5. Nhu cầu xuất phát từ nhận thức về dân chủ và pháp luật

3.6. Nhu cầu xuất phát từ thực trạng mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

3.7. Nguyên tắc hoàn thiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

3.8. Thực hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trước hết phải là công việc của nhân dân

3.9. Thực hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật phải gắn với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia

3.10. Thực hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật phải gắn với thống nhất và ổn định xã hội

3.11. Thực hiện toàn diện và thống nhất giữa dân chủ và pháp luật

3.12. Thực hiện mối quan hệ trong điều kiện cụ thể và lộ trình thích hợp

3.13. Giải pháp hoàn thiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

3.14. Đổi mới nhận thức về mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

3.15. Hoàn thiện nội dung dân chủ trong hiến pháp và pháp luật

3.16. Thực hiện những điều kiện cho việc hoàn thiện mối quan hệ

3.17. Biện pháp tổ chức thực hiện phải đồng bộ và theo lộ trình

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Dân Chủ Pháp Luật Việt Nam Khái Niệm Quan Hệ

Dân chủ và pháp luật là những giá trị tiến bộ của nhân loại. Toàn cầu hóa thúc đẩy dân chủ hóa và vai trò của pháp luật. Việt Nam coi đây là biến đổi quan trọng từ sau 1986, thể hiện qua Cương lĩnh phát triển và Hiến pháp 1992 (sửa đổi). Nhận thức về dân chủ và pháp luật đa dạng, thậm chí mâu thuẫn. Điều này ảnh hưởng đến việc thực hiện dân chủ và pháp luật. Quan điểm khác nhau về dân chủ và pháp luật dẫn đến nhận thức khác nhau về mối quan hệ giữa chúng. Dân chủ và pháp luật là hai khái niệm khác nhau, nhưng trên thực tế, chúng liên quan mật thiết, đặc biệt trong lĩnh vực pháp luật về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Dân chủ và pháp luật là những phương thức quản lý của nhà nước và xã hội, chúng không thể triệt tiêu lẫn nhau. Dân chủ và pháp luật là hai phương tiện tổ chức và quản lý xã hội nhằm giải phóng và phát triển con người. Việc sử dụng hai phương tiện này không được xung đột, triệt tiêu hiệu quả. Dân chủ và pháp luật không thể đối lập và triệt tiêu lẫn nhau. Mong muốn của nhân loại là sự hài hòa, thống nhất giữa dân chủ và pháp luật. Việc thực hiện pháp luật đôi khi trói buộc và kìm hãm dân chủ. Thực hiện dân chủ chưa đồng bộ có thể dẫn đến sự phá vỡ trật tự pháp luật. Việt Nam đã thực hiện dân chủ và thực hiện dân chủ bằng pháp luật hơn 60 năm. Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa đáng tự hào. Quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật dân chủ, tiến bộ để quản lý xã hội cũng như hội nhập quốc tế vẫn cần phải cố gắng nhiều hơn. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh việc thực hiện dân chủ song song với việc thiết lập chế độ pháp quyền và điều này đã được cụ thể hóa trong Hiến pháp 1992 sửa đổi. Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật là sự cần thiết khách quan với những ai mong muốn thực hiện dân chủ và pháp luật. Với ý những ý nghĩa như trên, mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật có ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn sâu sắc, đặc biệt trong điều kiện Việt Nam hiện nay.

1.1. Khái Niệm Dân Chủ Quyền Lực Nhà Nước Nhân Dân

Thuật ngữ dân chủ (Demokratos) xuất phát từ Hy Lạp cổ đại, là từ ghép của hai từ Demos (bình dân, nhân dân) và Kratos (quyền lực, cai trị). Dân chủ từng được hiểu là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân hay nhân dân cai trị. Theo đó, khái niệm dân chủ có thể được giản lược thành những mệnh đề khác nhau như: tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước của dân, do dân và vì dân… Không dân chủ hay đối lập với dân chủ là độc tài, chuyên chế mà trong đó quyền lực không thuộc về nhân dân và không chịu một sự hạn chế nào với mục đích cai trị, trấn áp nhân dân. Khái niệm dân chủ cho đến nay được hiểu rất đa dạng. Dưới góc độ giai cấp,“…chừng nào mà còn có những giai cấp khác nhau, thì không thể nói đến dân chủ thuần túy được, mà chỉ có thể nói đến dân chủ có tính chất giai cấp”. Tiếp cận dưới góc độ giá trị, dân chủ được xem là giá trị tiến bộ của xã hội. Tiếp cận thể chế, dân chủ là chế độ xã hội, chế độ nhà nước, chế độ bầu cử. Tiếp cận chức năng, dân chủ được xem là một trong những phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực. Khái niệm dân chủ có thể phức tạp hơn khi cần phải trả lời cho câu hỏi: ai là dân và làm chủ như thế nào và đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đa dạng về khái niệm dân chủ và từ đó dẫn đến khác nhau trong việc xác định điều kiện, cách thức để thực hiện dân chủ. Nói chung, sự bất đồng về khái niệm dân chủ nhiều hơn là sự thống nhất. Dù có rất nhiều quan điểm khác nhau, các lý thuyết về dân chủ hiện nay có những điểm tương đối thống nhất là: Thứ nhất, các vấn đề trung tâm của các lý thuyết về dân chủ đều đặt mục đích vì con người và cho rằng nhân dân có quyền tự chủ, tự quyết định số phận của mình và chính nhân dân biết rõ nhất những gì là cần thiết cho chính họ cũng. Vì lý do đó, các lý thuyết về dân chủ cho rằng sự phát triển của dân chủ là tất yếu khách quan và nó là yếu tố hợp thành nội dung của tiến bộ lịch sử.

1.2. Pháp Luật Việt Nam Bản Chất Tính Khách Quan Chủ Quan

Khái niệm pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhận thức pháp lý và đối với hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật. Cũng với ý nghĩa đó, việc trả lời cho câu hỏi bản chất của pháp luật là gì sẽ ảnh hưởng đến việc xác định mối quan hệ giữa pháp luật với dân chủ. Sự khác nhau về quan điểm, trường phái tiếp cận về pháp luật dẫn đến sự khác nhau về khái niệm pháp luật và bản chất pháp luật. Trường phái pháp luật tự nhiên cho rằng bên cạnh pháp luật do nhà nước ban hành còn tồn tại một thứ pháp luật cao hơn, luật pháp của tự nhiên. Ngược lại, chủ nghĩa pháp lý thực định cho rằng pháp luật xuất phát từ nhà nước, là mệnh lệnh của nhà nước và được đảm bảo bằng các chế tài cưỡng bức. Từ sự nhấn mạnh thái quá tính quy luật của pháp luật trong trường phái pháp luật tự nhiên dẫn đến việc phủ nhận hoặc ít nhất là không coi trọng tính chất chủ quan của pháp luật và coi những gì không phù hợp với quy luật tự nhiên với đạo lý không được coi là luật. Trường phái pháp luật thực định lại quá nhấn mạnh tính chất ý chí nhà nước của pháp luật so với quy luật khách quan của các quan hệ xã hội và cho rằng không thể có luật nào cao hơn luật của nhà nước. Bản chất của pháp luật chính là những những mặt, những yếu tố nội tại quyết định sự tồn tại và phát triển của pháp luật. Tuy nhiên, cần phân biệt bản chất của pháp luật với bản chất giai cấp của pháp luật. Tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ trong xã hội” và cần chú ý đến những gì không phải là ý chí của giai cấp thống trị.

II. Vì Sao Dân Chủ Cần Pháp Luật Vai Trò Hợp Pháp Hóa Quyền Lực

Quyền lực nhà nước có thể dựa trên sự sợ hãi và đàn áp, sự tôn sùng lãnh tụ, hoặc niềm tin mù quáng. Quyền lực nhà nước dân chủ không thể dựa trên bạo lực và niềm tin mù quáng. Quyền lực nhà nước dân chủ thể hiện ý chí của nhân dân, hoặc ít nhất phải có sự ưng thuận. Sự ưng thuận mang lại tính hợp lý, hợp pháp cho quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước dân chủ cần được pháp luật hợp pháp hóa. Quyền lực nhà nước phi dân chủ hiện đại muốn hợp pháp hóa quyền lực, nhưng lo ngại tính minh bạch của quyền lực khi nó mang hình thức pháp lý. Quyền lực của nhà nước dân chủ phải có tính hợp lý và hợp pháp. Tính chính đáng biểu hiện thông qua sự ưng thuận và chuyển giao quyền lực của nhân dân cho nhà nước phải bằng phương thức minh bạch và tiên liệu trước để tránh tình trạng ngụy tạo sự ưng thuận của nhân dân và đảm bảo trật tự các quan hệ quyền lực trong xã hội. Với yêu cầu đó, pháp luật là phương tiện thích hợp nhất thỏa mãn tính minh bạch, ổn định và tiên liệu trước cho quá trình thiết lập quyền lực nhà nước vốn thuộc về nhân dân. Tính hợp lý và hợp pháp của quyền lực nhà nước dân chủ phải được thể hiện bằng pháp luật. Chính vì vậy, ngay sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra nhiệm vụ cấp bách là tiến hành tổng tuyển cử. Khi quyền lực nhà nước dân chủ có tính hợp pháp, nghĩa vụ tuân phục tự nguyện quyền lực nhà nước dân chủ mới hình thành. Sự tuân phục quyền lực của nhà nước dân chủ là sự tự tuân phục ý chí của nhân dân khi nó là nghĩa vụ pháp lý. Nếu coi dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân thì nhà nước dân chủ là sự chuyển giao quyền lực từ nhân dân cho nhà nước một cách có lý trí, không bị lừa dối và ép buộc và dân chủ cũng là sự quản lý của nhà nước được thực hiện một cách dân chủ. Sự chuyển giao và quản lý đó cần mang hình thức pháp lý. Chính vì vậy mà chế độ chuyên chế phải ngụy tạo tính hợp pháp của quyền lực nhà nước thông qua hiến pháp và pháp luật.

2.1. Pháp Luật Phương Tiện Thực Hiện Quyền Dân Chủ

Pháp luật là con đường, cách thức qua đó dân chủ đi vào cuộc sống. Pháp luật hợp thức hóa quyền lực dân chủ để quyền lực dân chủ trong một hình thức quyền lực mạnh nhất – quyền lực nhà nước. Dân chủ có thể có nhiều “con đường” để đi vào thực tế cuộc sống nhưng “con đường” nào là phổ biến nhất và hiệu quả nhất nếu không phải là pháp luật?. Giá trị ảnh hưởng của pháp luật tới dân chủ là khả năng thực hiện dân chủ và sự đảm bảo thực hiện dân chủ với phạm vi rộng hơn, tính hiện thực cao hơn so với phong tục tập quán hoặc các quy tắc chính trị xã hội khác. Pháp luật cũng là phương tiện hạn chế sự lạm dụng quyền lực để đảm bảo quyền lực thực sự có tính chất dân chủ. Sự chặt chẽ về mặt hình thức, tính công bằng, bình đẳng của pháp luật có ‎ý nghĩa đối với việc thực hiện quyền dân chủ của công dân và có ý‎ nghĩa quan trọng trong việc hạn chế sự lạm quyền của nhà nước, buộc nhà nước thực hiện dân chủ bằng trách nhiệm pháp lý. Nói cách khác, pháp luật không chỉ có giá trị trong việc “vận chuyển” dân chủ, pháp luật còn có giá trị rất cao trong việc thực hiện dân chủ.

2.2. Ràng Buộc Trách Nhiệm Nhà Nước Đảm Bảo Dân Chủ

Dân chủ là những yêu cầu về việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, quyền lực dân chủ phải bị kiểm soát tránh sự tha hoá đồng thời ràng buộc trách nhiệm thực hiện tích cực. Những yêu cầu này chỉ có thể thực hiện được khi có sự điều chỉnh bằng pháp luật. Điều chỉnh các quan hệ trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước bằng những quy tắc phi pháp lý khác như tôn giáo, đạo đức, tập quán…đã cho thấy nhiều bài học về sự tha hóa quyền lực trong lịch sử.

III. Vì Sao Pháp Luật Cần Dân Chủ Tính Chính Đáng Tuân Thủ

Pháp luật có tính chính đáng phụ thuộc vào việc xây dựng và thực hiện pháp luật theo phương thức nào và phản ánh ý chí của ai. Vì vậy, pháp luật trong chế độ quân chủ là ý chí của “đấng tối cao” nên hợp với lẽ phải và phần nào được tín đồ ưng thuận. Trong điều kiện hiện đại, tính chính đáng của pháp luật phải thể hiện ý chí chủ động, duy lý của nhân dân. Pháp luật có tính quy phạm phổ biến, được hiểu là sự tác động phổ quát của pháp luật lên mọi quan hệ xã hội và với mọi chủ thể. Pháp luật có tính xác định chặt chẽ về hình thức (rõ ràng, ổn định, tiên liệu được). Sự đảm bảo thực hiện pháp luật bằng nhà nước là việc thực hiện pháp luật sẽ được đảm bảo bằng khả năng sử dụng vũ lực một cách độc quyền của nhà nước. Sự cưỡng chế này phải là cưỡng chế có tính chất và có mục đích dân chủ hay quyền lực nhà nước đảm bảo thực hiện pháp luật phải là quyền lực dân chủ và bằng nhà nước dân chủ. Như vậy, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân cần phải được hợp pháp hóa bằng pháp luật và pháp luật với thuộc tính tác động phổ biến, chặt chẽ về hình thức và được đảm bảo thực hiện bằng sự độc quyền sử dụng vũ lực sẽ rất nguy hiểm nếu không gắn bó mật thiết với dân chủ.

3.1. Tính Quy Phạm Phổ Biến Cơ Sở Ý Chí Nhân Dân Khách Quan

Về mặt khách quan, tính phổ biến dựa trên sự phản ánh đúng quy luật vận động của các quan hệ xã hội. Tính quy phạm phổ biến, do vậy xuất phát từ mặt chủ quan, pháp luật tác động phổ biến nó phù hợp với ý chí của nhân dân. Về mặt khách quan, tính phổ biến dựa trên sự phản ánh đúng quy luật vận động của các quan hệ xã hội. Hai yêu cầu này phải có mối liên hệ chặt chẽ và thống nhất. Tuy nhiên, tính phổ biến có được trên cơ sở dân chủ bằng hình thức tham gia là lý tưởng nhất vì nó đòi hỏi sự phản ánh quy luật khách quan và sự tham gia mới có thể phản ánh ý chí của nhân dân.

3.2. Tính Xác Định Chặt Chẽ Ngăn Ngừa Lạm Dụng Quyền Lực

Quy luật khách quan và ý chí chủ quan của toàn thể nhân dân cần được xác định, có thể tiên liệu trước hậu quả của hành vi pháp lý và cũng phải ổn định, thống nhất và có hiệu lực thực hiện cao nhất. Về cơ bản, tính xác định chặt chẽ về hình thức đảm bảo pháp luật không thể bị hiểu sai, bị lạm dụng và thay đổi. Tính xác định chặt chẽ về hình thức đảm bảo ý chí của nhân dân và ngăn ngừa sự vi phạm khi pháp luật được áp dụng bởi nhà nước. Trong xã hội không có dân chủ và pháp quyền, các cá nhân sẽ không tiên liệu trước được hành vi pháp lý của mình và của người cai trị vì thiếu tính chất này của pháp luật.

IV. Xây Dựng Thực Thi Pháp Luật Dân Chủ Quyền Lực Hiệu Quả

Pháp luật tùy thuộc vào dân chủ vì quyền lực dân chủ trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật có ảnh hưởng rất lớn toàn bộ xã hội. Đặc trưng quan trọng nhất của quyền lực pháp lý của nhà nước là độc quyền sử dụng vũ lực. Vì vậy, quyền lực pháp lý đó phải được thực hiện một cách dân chủ và với mục đích dân chủ. Nội dung của pháp luật phản ánh ý chí chí của nhân dân và bảo vệ lợi ích của nhân dân nên bản thân nó đã là một giá trị dân chủ và chính nó cũng cần dân chủ. Cách thức xây dựng và thực hiện pháp luật sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phản ánh ý chí nhân dân vào pháp luật và bảo vệ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, cách thức xây dựng và thực hiện pháp luật phải được tiến hành một cách dân chủ, theo mô thức dân chủ. Xây dựng và thực hiện pháp luật theo cách thức dân chủ có thể chưa hẳn là thể hiện trực tiếp ý chí của nhân dân nhưng nếu theo cách thức dân chủ sự lạm dụng quyền lực trong xây dựng và thực hiện pháp luật có thể bị hạn chế. Hơn nữa, chúng ta cũng quan tâm đến sự tuân thủ pháp luật của công dân với tư cách là người chịu tác động của quyền lực pháp lý. Nhân dân thấy cần phải tôn trọng và thực hiện pháp luật dân chủ vì nó vừa là phương tiện và là kết quả của sự thể hiện ý chí của mình.

4.1. Nội Dung Pháp Luật Phản Ánh Ý Chí Bảo Vệ Nhân Dân

Cũng cần lưu ý là hành động và hành vi của nhân dân phải được điều chỉnh theo một khuôn khổ pháp luật cụ thể. Việc pháp luật tạo ra trật tự cho xã hội không đồng nghĩa với việc bóp nghẹt tự do. Có sự cân bằng giữa trật tự và tự do, trong đó luật pháp cần cung cấp đủ trật tự để bảo vệ tự do của mỗi cá nhân. Nếu không có luật pháp, quyền tự do sẽ bị lạm dụng và sẽ xảy ra tình trạng vô chính phủ. Việc điều chỉnh này phải hướng đến mục tiêu bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền.

4.2. Quy Trình Pháp Lý Dân Chủ Tham Gia Giám Sát

Hoạt động pháp lý được tiến hành một cách dân chủ thể hiện trong quy trình, cách thức xây dựng và thực hiện pháp luật mà ở đó nhân dân được tham gia, được giám sát…Chính vì nhân dân trở thành “một phần” trong hoạt động pháp lý nên khả năng tôn trọng và tự nguyện thực hiện pháp luật sẽ cao hơn. Chính vì vậy, pháp luật cần đến dân chủ vì chỉ bằng phương thức dân chủ quyền lực pháp lý mới có được thực hiện trên thực tế với một hiệu quả cao hơn.

V. Hiến Pháp Việt Nam Hình Thức Biểu Hiện Mối Quan Hệ Dân Chủ

Căn cứ theo hình thức biểu hiện thể chế của dân chủ, nội dung dân chủ của hiến pháp bao gồm vấn đề về nguồn gốc và bản chất quyền lực nhà nước, các quyền dân chủ và các cơ chế dân chủ. Vấn đề về nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nước trong hiến pháp được coi là nội dung đầu tiên và cơ bản nhất của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật. Chuyên chế hay dân chủ bắt đầu từ ngay từ nội dung này của hiến pháp. Xét về mặt lịch sử, vấn đề bản chất và nguồn gốc của quyền lực nhà nước được thể hiện trong hiến pháp là kết quả sự xuất hiện cách mạng tư sản và dân chủ tư sản nên nó là một trong những biểu hiện quan trọng của mối quan hệ này. Với những nước hiến pháp không thành văn, nội dung này cũng phải được ghi nhận trong các quy tắc pháp lý hiến tính dưới dạng tập quán. Hiện nay, hầu hết các nước đều tuyên bố quyền lực nhà nước của dân, do dân và vì dân. Vì vậy, chúng ta phải dựa trên cách thức quy định về nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nước để đánh giá tính chất dân chủ của hiến pháp với ba mức độ cơ bản. Nếu quyền lực nhà nước từ “Đấng tối cao” và vì lợi ích của kẻ được ủy thác, sẽ không có mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật vì ở đó không có dân chủ, ở đó nhân dân là những thần dân, thuộc dân chỉ có nghĩa vụ tuân phục tuyệt đối. Thể hiện mức độ dân chủ cao nhất khi nội dung về nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nước dân chủ được ghi nhận một cách rộng rãi nhất trong hiến pháp. Vấn đề nguồn gốc và bản chất được quy định trong hiến pháp được coi là dân chủ một cách đầy đủ hơn khi nội dung này được minh định bởi chính nhân dân thông qua thủ tục phúc quyết hiến pháp. Tính tối cao của hiến pháp một phần xuất phát từ nội dung của nó ghi nhận vấn đề về nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nước. vì tính tối cao của hiến pháp là một trong những nội dung quan trọng của chế độ pháp quyền nên có thể nói, dân chủ luôn gắn với nhà nước pháp quyền hay sự tối thượng của hiến pháp và pháp luật.

5.1. Quyền Dân Chủ trong Hiến Pháp Biểu Hiện và Thực Thi

Quyền con người không đặt ra nghĩa vụ pháp lý của con người nhưng quyền công dân phải gắn với nghĩa vụ pháp lý của công dân. Nếu chưa tách biệt quyền con người và quyền công dân, có thể không thấy rõ tính chất thiêng liêng của quyền con người và biểu hiện của sự nhấn mạnh nghĩa vụ cá nhân hơn trách nhiệm của nhà nước. Hơn nữa, việc thực hiện quyền con người không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà nó còn là trách nhiệm của toàn thể xã hội. Có thể nói, trong điều kiện hiện nay, việc không quy định quyền con người hoặc quy định không rõ ràng quyền này là biểu hiện mức độ dân chủ chưa cao trong hiến pháp. Thiếu một số quyền nhất định hoặc các quyền được quy định không đồng bộ hoặc không thực tế là biểu hiện thiếu dân chủ trong hiến pháp. Tuy nhiên, cho đến nay, số lượng những quyền dân chủ cơ bản hầu như không có sự khác biệt trong các hiến pháp.

5.2. Cơ Chế Dân Chủ trong Hiến Pháp Bảo Vệ Chế Ngự Tham Gia

Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền dân chủ, cơ chế chế ngự quyền lực, cơ chế tham gia dân chủ và cơ chế bảo vệ hiến pháp được xem là những biểu hiện chính của dân chủ. Nếu có ghi nhận quyền dân chủ mà chưa tổ chức thực hiện được trên thực tế thì ít nhất phải có cơ chế bảo vệ những quyền này khỏi sự vi phạm. Để bảo vệ quyền dân chủ khỏi sự vi phạm, một trong những cơ chế pháp lý quan trọng nhất chính là bảo vệ bằng Tòa án. Yêu cầu quan trọng để Tòa án có thể bảo vệ quyền dân chủ là Tòa án phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

VI. Pháp Luật Quy Định Quyền Dân Chủ Cụ Thể Hóa Hiến Pháp

Dân chủ trong các văn bản luật đóng vai trò cụ thể và hiện thực hóa nội dung dân chủ trong hiến pháp. Nếu nội dung dân chủ trong hiến pháp chưa được cụ thể hóa bằng luật, mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật gần như không tồn tại trên thực tế. Dân chủ trong luật phải đầy đủ, đồng bộ và thống nhất nội dung dân chủ trong hiến pháp. Các luật có nội dung quy định trực tiếp về quyền và cơ chế dân chủ cụ thể hóa những quy định về quyền và cơ chế tham gia dân chủ trong hiến pháp, chứa đựng nội dung giám sát và chế ngự quyền lực nhà nước. Cần có luật về trình tự, thủ tục (luật hình thức) bảo vệ quyền dân chủ. Nhóm này có vai trò khá quan trọng vì nó không những thực hiện sự bảo vệ quyền dân chủ mà nó còn đóng vai trò tổ chức thực hiện những luật có nội dung dân chủ khác.

6.1. Quyền và Cơ Chế Tham Gia Dân Chủ Thực Tế Hóa

Luật quy định cụ thể quyền và cơ chế tham gia dân chủ thể hiện trình tự, thủ tục lấy ý kiến của nhân dân trong luật. Luật về trưng cầu ý kiến của nhân dân chỉ là giải pháp tạm thời và nên chuyển tiếp sang hình thức phúc quyết của nhân dân.Hiến pháp chỉ có thể quy định nguyên tắc chung của chế độ bầu cử là phổ thông, bình đẳng, phiếu kín và có thể là tự do nhưng những khái niệm này được giải thích và thể chế hóa như thế nào lại ảnh hưởng đến nội dung dân chủ của hiến pháp, thậm chí ảnh hưởng đến cả nền dân chủ nói chung. Chính vì vậy, nội dung chế độ bầu cử trong hiến pháp được cụ thể hóa trong luật là biểu hiện rất quan trọng mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật.

6.2. Đường Lối Cai Trị

Cử tri phải được lựa chọn con người đại diện với “tài”, “đức” và quan trọng hơn phải được lựa chọn đường lối cai trị đất nước. Căn cứ lựa chọn đức và tài của ứng cử viên là cần thiết nhưng nó cần phải thể hiện bằng đường lối cai trị để nhân dân giám sát và đường lối này phải được đảm bảo bằng một uy tín của đảng chính trị. Sự lựa chọn của cử tri sẽ có ý nghĩa hơn khi họ được lựa chọn con người đại diện và đồng thời là sự lựa chọn đường lối cai trị của đảng vì đảng của ứng cử viên vừa đảm bảo cho khả năng hiện thực hóa “lời hứa” và giám sát đảng viên để đảm bảo uy tín của đảng trong kỳ bầu cử tới. Mặt khác, tiêu chí để lựa chọn phải định tính và định lượng để có thể dựa trên tiêu chí này để lựa chọn và kiểm soát người được trao quyền.

20/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: SỰ CẦN THIẾT, NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT 1.1 Sự cần thiết khách quan của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật Mối quan hệ nói chung được hiểu là “Sự gắn liền về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi, thay đổi thì có thể tác động đến sự vật kia” [17, tr. Từ điển Oxford định nghĩa về mối quan hệ “Là cách mà người hoặc sự vật được liên kết với nhau. Là sự liên kết mang tính chất đáp ứng, đối lập hay ưu trội giữa những sự vật hiện tượng”[131, tr. Như vậy, có thể hiểu mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật bao hàm vai trò và sự tương tác qua lại giữa dân chủ và pháp luật.

Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật mang tính chất khách quan vì xét ở một khía cạnh nhất định, tự thân dân chủ đã cần pháp luật vì dân chủ là phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước nên nó phải tồn tại trong những hình thức pháp lý. Khó có thể tưởng tượng quyền lực nhà nước dân chủ lại không mang hình thức là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đối với các chế độ chuyên chế, dù quyền lực tột đỉnh nhưng vẫn phải mượn đến pháp luật thì chế độ dân chủ cũng sẽ như vậy. Ví dụ, hầu hết các triều đại Trung Quốc phong kiến độc tôn Nho giáo, một tư tưởng vốn không trọng pháp luật nhưng các triều đại này vẫn củng cố chế độ chuyên chế của mình bằng pháp luật.

Ở khía cạnh này, cũng có thể coi mối quan hệ này là mối quan hệ giữa yếu tố bên trong (quyền lực dân chủ của nhà nước) và yếu tố bên ngoài (pháp luật về tổ chức và thực hiện quyền lực đó). Ngược lại, muốn phản ánh quy luật khách quan, thể hiện ý chí nhân dân để có thể hợp với lẽ phải và được thực hiện một cách tự nguyện và hiệu quả trên thực tế, pháp luật cần được xây dựng và thực hiện một cách dân chủ. Như vậy, có thể nói, tự thân pháp luật đã cần dân chủ. Do vậy, dù muốn hay không, các thế lực cai trị không thể quyết định sự tồn tại, phát triển của dân chủ và pháp luật cũng như mối quan hệ giữa chúng vì mối quan hệ giữa chúng có tính chất khách quan, quy luật.

Với sự tiến bộ của nhân loại, quá trình dân chủ hóa và sự vai trò và của pháp luật được coi là tất yếu khách quan và diễn ra trên phạm vi toàn cầu và mọi mặt của đời sống xã hội và được nhấn mạnh nhất trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực 9 nhà nước vì dân chủ và pháp luật đã được chấp nhận như là một giá trị nhân loại và mang tính chất phổ biến [2, 16, 21]. Xu hướng khách quan này đã dẫn đến nhu cầu thiết lập mối liên hệ chặt chẽ giữa dân chủ với pháp luật. Chính vì vậy, nguyên tắc thứ 7 trong Tuyên bố về dân chủ của Tổ chức Nghị viện quốc tế tại Cairô năm 1997 cho rằng: “Dân chủ chỉ có thể có được trên nền tảng sự tối thượng của luật pháp và sự thực hiện quyền con người. Trong một nhà nước dân chủ, không ai ở trên luật pháp và mọi người bình đẳng trước pháp luật” [109, tr.

Ngược lại, pháp luật của xã hội văn minh, tiến bộ không thể không có nội dung và tính chất dân chủ. Như vậy, sự đan kết giữa dân chủ và pháp luật là một quá trình phát triển tất yếu từ thấp đến cao theo lịch sử phát triển của xã hội. Tuy nhiên, dân chủ và pháp luật hình thành trong xã hội loài người, được thực hiện bởi con người, cho nên mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật cũng là sự cần thiết và mang tính chất chủ quan, thể hiện ý chí, mong muốn của con người. Với tư cách là những phương thức tổ chức và quản lý xã hội, quản lý nhà nước, dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng là sản phẩm nhận thức chủ quan và cũng là kết quả của hoạt động có chủ đích của con người.

Tính chủ quan thể hiện ở việc kẻ cầm quyền cũng như xã hội có nhận thức về dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng hay không và ở mức độ nào. Quan trọng hơn, dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng được thực hiện với những động cơ, mong muốn như thế nào trên thực tế cũng chính là một biểu hiện quan trọng của tính chất chủ quan của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật. Như vậy, không phải mọi hệ thống pháp luật đều có tính chất dân chủ và không phải mọi chế độ dân chủ là có pháp luật hay dân chủ và pháp luật không luôn luôn tồn tại và gắn kết chặt chẽ với nhau. Ví dụ, trong lịch sử, có những thời kỳ pháp luật xuất hiện nhưng chưa xuất hiện dân chủ (chế độ quân chủ chuyên chế) và có thời kỳ dân chủ hiện diện nhưng pháp luật không tồn tại (dân chủ nguyên thủy).

Có những hệ thống pháp luật được thực hiện triệt để nhưng nó bảo vệ cho chế độ chuyên chế và có nền dân chủ tồn tại trong điều kiện không có một trật tự pháp luật, hỗn loạn. Nói chung, mối quan hệ chặt chẽ giữa dân chủ và pháp luật chỉ xuất hiện trong những điều kiện khách quan nhất định song song với nhận thức, mong muốn thực hiện của con người. 10 Thực hiện dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng một cách hiệu quả là hiện thực mang tính khách quan và cũng là mong muốn chủ quan của mọi xã hội. Tuy nhiên, nội dung và tính chất của sự tương tác qua lại giữa dân chủ và pháp luật một phần phụ thuộc vào khái niệm dân chủ và pháp luật được hiểu như thế nào.

Bởi vì, sự khác nhau trong cách tiếp cận về dân chủ và pháp luật sẽ dẫn đến sự khác nhau về tính chất và nội dung của mối quan hệ và thực hiện mối quan hệ. Chính vì vậy, điều quan trọng trước hết là phải xác định khái niệm dân chủ và pháp luật.1 Khái niệm dân chủ và pháp luật 1.1 Khái niệm dân chủ Về mặt lịch sử, thuật ngữ Demokratos (dân chủ) xuất phát từ Hy Lạp cổ đại, là từ ghép của hai từ Demos (bình dân, nhân dân) và Kratos (quyền lực, cai trị). Dân chủ từng được hiểu là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân hay nhân dân cai trị. Theo đó, khái niệm dân chủ có thể được giản lược thành những mệnh đề khác nhau như: tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước của dân, do dân và vì dân…[11,15, 16, 21].

Không dân chủ hay đối lập với dân chủ là độc tài, chuyên chế mà trong đó quyền lực không thuộc về nhân dân và không chịu một sự hạn chế nào với mục đích cai trị, trấn áp nhân dân. Khái niệm dân chủ cho đến nay được hiểu rất đa dạng. Dưới góc độ giai cấp,“…chừng nào mà còn có những giai cấp khác nhau, thì không thể nói đến dân chủ thuần túy được, mà chỉ có thể nói đến dân chủ có tính chất giai cấp” [68, tr 304]. Tiếp cận dưới góc độ giá trị, dân chủ được xem là giá trị tiến bộ của xã hội.

Tiếp cận thể chế, dân chủ là chế độ xã hội, chế độ nhà nước, chế độ bầu cử. Tiếp cận chức năng, dân chủ được xem là một trong những phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực [103, tr. Khái niệm dân chủ có thể phức tạp hơn khi cần phải trả lời cho câu hỏi: ai là dân và làm chủ như thế nào và đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đa dạng về khái niệm dân chủ và từ đó dẫn đến khác nhau trong việc xác định điều kiện, cách thức để thực hiện dân chủ [153, tr. Nhìn chung, sự bất đồng về khái niệm dân chủ nhiều hơn là sự thống nhất.

Dù có rất nhiều quan điểm khác nhau, các lý thuyết về dân chủ hiện nay có những điểm tương đối thống nhất là: Thứ nhất, các vấn đề trung tâm của các lý 11 thuyết về dân chủ đều đặt mục đích vì con người và cho rằng nhân dân có quyền tự chủ, tự quyết định số phận của mình và chính nhân dân biết rõ nhất những gì là cần thiết cho chính họ cũng. Vì lý do đó, các lý thuyết về dân chủ cho rằng sự phát triển của dân chủ là tất yếu khách quan và nó là yếu tố hợp thành nội dung của tiến bộ lịch sử. Ví dụ, các tác giả Việt Nam như Thái Ninh, Hoàng Chí Bảo…hay quốc tế như Armatya Sen, Fukuyama, Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae Jung đều thống nhất về giá trị tiến bộ của dân chủ. Trên thực tế, giá trị tiến bộ của dân chủ đã được khẳng định trong những văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, đặc biệt từ Đại hội 6 đến nay [70].

Thứ hai, một trong những nội dung trọng tâm của những lý thuyết về dân chủ đề cập đến những vấn đề về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước mà quyền lực này có nguồn gốc từ nhân dân, do nhân dân và vì dân. Vì dân chủ có nội dung trọng tâm là về quyền lực nhà nước cho nên khái niệm dân chủ cần được xem xét tập trung trong lĩnh vực tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước hay cách tiếp cận dân chủ ở đây là tiếp cận thể chế. Thể chế ở đây được hiểu là các cơ chế thực thi, các tổ chức và các quy tắc điều chỉnh [10, tr. Dân chủ trong luận án được xem xét theo hai khía cạnh như sau: khía cạnh thứ nhất, dân chủ trong luận án được xem là một dạng quan hệ về quyền lực.

Quan hệ này diễn ra giữa những bên có hoặc có quyền lực nhiều hơn và kẻ không có hoặc có quyền lực ít hơn và là quan hệ về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Thực chất, nó là quan hệ về một “lượng” quyền lực không đổi, kẻ này được nhiều hơn cũng có nghĩa là kẻ khác sẽ ít hơn và mong muốn nhất là quyền lực ngày càng thuộc về toàn thể nhân dân. Dân chủ có thể là sự ban tặng của giai cấp thống trị nhưng trước hết nó phải là kết quả đấu tranh của giai cấp bị trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ