Chương 1: SỰ CẦN THIẾT, NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT 1.1 Sự cần thiết khách quan của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật Mối quan hệ nói chung được hiểu là “Sự gắn liền về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi, thay đổi thì có thể tác động đến sự vật kia” [17, tr. Từ điển Oxford định nghĩa về mối quan hệ “Là cách mà người hoặc sự vật được liên kết với nhau. Là sự liên kết mang tính chất đáp ứng, đối lập hay ưu trội giữa những sự vật hiện tượng”[131, tr. Như vậy, có thể hiểu mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật bao hàm vai trò và sự tương tác qua lại giữa dân chủ và pháp luật.
Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật mang tính chất khách quan vì xét ở một khía cạnh nhất định, tự thân dân chủ đã cần pháp luật vì dân chủ là phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước nên nó phải tồn tại trong những hình thức pháp lý. Khó có thể tưởng tượng quyền lực nhà nước dân chủ lại không mang hình thức là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đối với các chế độ chuyên chế, dù quyền lực tột đỉnh nhưng vẫn phải mượn đến pháp luật thì chế độ dân chủ cũng sẽ như vậy. Ví dụ, hầu hết các triều đại Trung Quốc phong kiến độc tôn Nho giáo, một tư tưởng vốn không trọng pháp luật nhưng các triều đại này vẫn củng cố chế độ chuyên chế của mình bằng pháp luật.
Ở khía cạnh này, cũng có thể coi mối quan hệ này là mối quan hệ giữa yếu tố bên trong (quyền lực dân chủ của nhà nước) và yếu tố bên ngoài (pháp luật về tổ chức và thực hiện quyền lực đó). Ngược lại, muốn phản ánh quy luật khách quan, thể hiện ý chí nhân dân để có thể hợp với lẽ phải và được thực hiện một cách tự nguyện và hiệu quả trên thực tế, pháp luật cần được xây dựng và thực hiện một cách dân chủ. Như vậy, có thể nói, tự thân pháp luật đã cần dân chủ. Do vậy, dù muốn hay không, các thế lực cai trị không thể quyết định sự tồn tại, phát triển của dân chủ và pháp luật cũng như mối quan hệ giữa chúng vì mối quan hệ giữa chúng có tính chất khách quan, quy luật.
Với sự tiến bộ của nhân loại, quá trình dân chủ hóa và sự vai trò và của pháp luật được coi là tất yếu khách quan và diễn ra trên phạm vi toàn cầu và mọi mặt của đời sống xã hội và được nhấn mạnh nhất trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực 9 nhà nước vì dân chủ và pháp luật đã được chấp nhận như là một giá trị nhân loại và mang tính chất phổ biến [2, 16, 21]. Xu hướng khách quan này đã dẫn đến nhu cầu thiết lập mối liên hệ chặt chẽ giữa dân chủ với pháp luật. Chính vì vậy, nguyên tắc thứ 7 trong Tuyên bố về dân chủ của Tổ chức Nghị viện quốc tế tại Cairô năm 1997 cho rằng: “Dân chủ chỉ có thể có được trên nền tảng sự tối thượng của luật pháp và sự thực hiện quyền con người. Trong một nhà nước dân chủ, không ai ở trên luật pháp và mọi người bình đẳng trước pháp luật” [109, tr.
Ngược lại, pháp luật của xã hội văn minh, tiến bộ không thể không có nội dung và tính chất dân chủ. Như vậy, sự đan kết giữa dân chủ và pháp luật là một quá trình phát triển tất yếu từ thấp đến cao theo lịch sử phát triển của xã hội. Tuy nhiên, dân chủ và pháp luật hình thành trong xã hội loài người, được thực hiện bởi con người, cho nên mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật cũng là sự cần thiết và mang tính chất chủ quan, thể hiện ý chí, mong muốn của con người. Với tư cách là những phương thức tổ chức và quản lý xã hội, quản lý nhà nước, dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng là sản phẩm nhận thức chủ quan và cũng là kết quả của hoạt động có chủ đích của con người.
Tính chủ quan thể hiện ở việc kẻ cầm quyền cũng như xã hội có nhận thức về dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng hay không và ở mức độ nào. Quan trọng hơn, dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng được thực hiện với những động cơ, mong muốn như thế nào trên thực tế cũng chính là một biểu hiện quan trọng của tính chất chủ quan của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật. Như vậy, không phải mọi hệ thống pháp luật đều có tính chất dân chủ và không phải mọi chế độ dân chủ là có pháp luật hay dân chủ và pháp luật không luôn luôn tồn tại và gắn kết chặt chẽ với nhau. Ví dụ, trong lịch sử, có những thời kỳ pháp luật xuất hiện nhưng chưa xuất hiện dân chủ (chế độ quân chủ chuyên chế) và có thời kỳ dân chủ hiện diện nhưng pháp luật không tồn tại (dân chủ nguyên thủy).
Có những hệ thống pháp luật được thực hiện triệt để nhưng nó bảo vệ cho chế độ chuyên chế và có nền dân chủ tồn tại trong điều kiện không có một trật tự pháp luật, hỗn loạn. Nói chung, mối quan hệ chặt chẽ giữa dân chủ và pháp luật chỉ xuất hiện trong những điều kiện khách quan nhất định song song với nhận thức, mong muốn thực hiện của con người. 10 Thực hiện dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng một cách hiệu quả là hiện thực mang tính khách quan và cũng là mong muốn chủ quan của mọi xã hội. Tuy nhiên, nội dung và tính chất của sự tương tác qua lại giữa dân chủ và pháp luật một phần phụ thuộc vào khái niệm dân chủ và pháp luật được hiểu như thế nào.
Bởi vì, sự khác nhau trong cách tiếp cận về dân chủ và pháp luật sẽ dẫn đến sự khác nhau về tính chất và nội dung của mối quan hệ và thực hiện mối quan hệ. Chính vì vậy, điều quan trọng trước hết là phải xác định khái niệm dân chủ và pháp luật.1 Khái niệm dân chủ và pháp luật 1.1 Khái niệm dân chủ Về mặt lịch sử, thuật ngữ Demokratos (dân chủ) xuất phát từ Hy Lạp cổ đại, là từ ghép của hai từ Demos (bình dân, nhân dân) và Kratos (quyền lực, cai trị). Dân chủ từng được hiểu là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân hay nhân dân cai trị. Theo đó, khái niệm dân chủ có thể được giản lược thành những mệnh đề khác nhau như: tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước của dân, do dân và vì dân…[11,15, 16, 21].
Không dân chủ hay đối lập với dân chủ là độc tài, chuyên chế mà trong đó quyền lực không thuộc về nhân dân và không chịu một sự hạn chế nào với mục đích cai trị, trấn áp nhân dân. Khái niệm dân chủ cho đến nay được hiểu rất đa dạng. Dưới góc độ giai cấp,“…chừng nào mà còn có những giai cấp khác nhau, thì không thể nói đến dân chủ thuần túy được, mà chỉ có thể nói đến dân chủ có tính chất giai cấp” [68, tr 304]. Tiếp cận dưới góc độ giá trị, dân chủ được xem là giá trị tiến bộ của xã hội.
Tiếp cận thể chế, dân chủ là chế độ xã hội, chế độ nhà nước, chế độ bầu cử. Tiếp cận chức năng, dân chủ được xem là một trong những phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực [103, tr. Khái niệm dân chủ có thể phức tạp hơn khi cần phải trả lời cho câu hỏi: ai là dân và làm chủ như thế nào và đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đa dạng về khái niệm dân chủ và từ đó dẫn đến khác nhau trong việc xác định điều kiện, cách thức để thực hiện dân chủ [153, tr. Nhìn chung, sự bất đồng về khái niệm dân chủ nhiều hơn là sự thống nhất.
Dù có rất nhiều quan điểm khác nhau, các lý thuyết về dân chủ hiện nay có những điểm tương đối thống nhất là: Thứ nhất, các vấn đề trung tâm của các lý 11 thuyết về dân chủ đều đặt mục đích vì con người và cho rằng nhân dân có quyền tự chủ, tự quyết định số phận của mình và chính nhân dân biết rõ nhất những gì là cần thiết cho chính họ cũng. Vì lý do đó, các lý thuyết về dân chủ cho rằng sự phát triển của dân chủ là tất yếu khách quan và nó là yếu tố hợp thành nội dung của tiến bộ lịch sử. Ví dụ, các tác giả Việt Nam như Thái Ninh, Hoàng Chí Bảo…hay quốc tế như Armatya Sen, Fukuyama, Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae Jung đều thống nhất về giá trị tiến bộ của dân chủ. Trên thực tế, giá trị tiến bộ của dân chủ đã được khẳng định trong những văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, đặc biệt từ Đại hội 6 đến nay [70].
Thứ hai, một trong những nội dung trọng tâm của những lý thuyết về dân chủ đề cập đến những vấn đề về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước mà quyền lực này có nguồn gốc từ nhân dân, do nhân dân và vì dân. Vì dân chủ có nội dung trọng tâm là về quyền lực nhà nước cho nên khái niệm dân chủ cần được xem xét tập trung trong lĩnh vực tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước hay cách tiếp cận dân chủ ở đây là tiếp cận thể chế. Thể chế ở đây được hiểu là các cơ chế thực thi, các tổ chức và các quy tắc điều chỉnh [10, tr. Dân chủ trong luận án được xem xét theo hai khía cạnh như sau: khía cạnh thứ nhất, dân chủ trong luận án được xem là một dạng quan hệ về quyền lực.
Quan hệ này diễn ra giữa những bên có hoặc có quyền lực nhiều hơn và kẻ không có hoặc có quyền lực ít hơn và là quan hệ về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Thực chất, nó là quan hệ về một “lượng” quyền lực không đổi, kẻ này được nhiều hơn cũng có nghĩa là kẻ khác sẽ ít hơn và mong muốn nhất là quyền lực ngày càng thuộc về toàn thể nhân dân. Dân chủ có thể là sự ban tặng của giai cấp thống trị nhưng trước hết nó phải là kết quả đấu tranh của giai cấp bị trị.