Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xã hội hiện đại, ly hôn là hệ quả pháp lý chấm dứt quan hệ hôn nhân khi mục đích hôn nhân không đạt được và đời sống chung không thể kéo dài. Tuy nhiên, sự đổ vỡ này tác động trực tiếp và sâu sắc nhất đến đối tượng con chung. Theo thống kê được tác giả trích dẫn trong văn bản, tỷ lệ ly hôn tại Việt Nam hiện ở mức báo động; trong số 65% - 70% các gia đình ly hôn, có hàng nghìn trẻ em chưa đến tuổi trưởng thành phải sống trong hoàn cảnh thiếu vắng sự chăm sóc của cha, mẹ hoặc cả hai, phải chuyển sang sinh sống cùng ông bà, người thân thích, cha dượng hoặc mẹ kế.
Tình trạng thiếu hụt sự chăm sóc, giáo dục toàn diện sau ly hôn dẫn tới nhiều hệ lụy xã hội nghiêm trọng. Nhiều trẻ em rơi vào cảnh lang thang, lao động sớm, vướng vào tệ nạn xã hội hoặc bị lạm dụng. Báo cáo thống kê của Bộ Công an được khóa luận dẫn chứng chỉ rõ: trong giai đoạn 2018 - 2020, cả nước ghi nhận 10.786 vụ người chưa thành niên vi phạm pháp luật với 16.583 đối tượng liên quan (nữ giới chiếm 5%, nam giới chiếm 95%); riêng năm 2020 đã xảy ra 4.262 vụ với hơn 6.500 đối tượng phạm pháp. Trung bình mỗi năm, toàn quốc có khoảng 13.000 trường hợp người chưa thành niên vi phạm pháp luật và khoảng 10.000 vụ án hình sự do người vị thành niên thực hiện, chiếm gần 20% tổng số vụ phạm pháp hình sự. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải củng cố và hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ con chung khi cha mẹ ly hôn.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Minh Châu (ngành Luật Hôn nhân và gia đình, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2024, dưới sự hướng dẫn khoa học của Bùi Thị Mừng) được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung khi cha mẹ ly hôn.
- Tìm hiểu, hệ thống hóa các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của con chung khi cha mẹ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân các cấp, chỉ ra những kết quả đạt được, các vướng mắc, bất cập và phân tích nguyên nhân của các hạn chế đó.
- Xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình.
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung khi cha mẹ ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thông qua các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân.
Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trong phạm vi các vụ việc hôn nhân gia đình nội địa tại Việt Nam trong những năm gần đây; không xem xét các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý cốt lõi: khái niệm ly hôn (Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014), khái niệm "đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp" (tổng hợp từ Đại từ điển Tiếng Việt, Từ điển Luật học và thuật ngữ "guarantee"), và xác định đối tượng con chung cần bảo vệ theo Khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối tượng con chung được phân loại theo 3 nhóm căn cứ: độ tuổi (người chưa đủ 18 tuổi theo Khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015), năng lực hành vi dân sự (mất năng lực hành vi dân sự theo Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015) và khả năng lao động/tài sản tự nuôi mình.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn kiện quốc tế và tài liệu hướng dẫn áp dụng được sử dụng trong công trình gồm:
- Hiến pháp: Hiến pháp năm 2013 (Điều 37).
- Luật chuyên ngành và luật liên quan: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (các điều 2, 38, 51, 55, 56, 59, 71, 81, 82, 84, 85, 116, 117, 119); Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 92); Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 35, Điều 208); Luật Trẻ em năm 2016; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014 - Điều 78); Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017 - Điều 186); Nghị định số 144/2021/NĐ-CP (Điều 57).
- Điều ước quốc tế: Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (UNCRC 1989 - Điều 1, Điều 12).
- Văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật và Án lệ: Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Giải đáp số 01/2018/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của TANDTC; Án lệ số 54/2022/AL (ban hành kèm theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14/10/2022 của Chánh án TANDTC).
- Tài liệu so sánh luật học: Luật Hôn nhân và gia đình Singapore năm 1961 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 - Điều 115 Chương 4).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích và chứng minh: Luận giải các điều khoản luật thực định, đối chiếu với các luận cứ khoa học để làm sáng tỏ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể.
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các kết quả nghiên cứu lý luận và số liệu xét xử để rút ra nhận định đánh giá.
- Phương pháp điều tra: Thu thập dữ liệu từ các báo cáo thống kê ngành tòa án, số liệu của Bộ Công an, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội và các nghiên cứu khoa học chuyên ngành.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, đối chiếu với các chuẩn mực quốc tế (UNCRC 1989) và pháp luật nước ngoài (Singapore).
Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thực tiễn lấy từ Cổng thông tin điện tử công bố bản án, quyết định của Tòa án nhân dân; Báo cáo thống kê công tác xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Đống Đa (Hà Nội) giai đoạn 2021 - 2023; số liệu giải quyết án phúc thẩm của TAND cấp cao tại Hà Nội giai đoạn 2022 - 7/2023; cùng các bản án sơ thẩm cụ thể tại TP. Hồ Chí Minh và Hải Phòng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung khi cha mẹ ly hôn
Chương 1 làm rõ các tiền đề lý luận và rà soát hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh việc bảo vệ quyền lợi của con chung khi quan hệ hôn nhân chấm dứt:
- Cơ sở lý luận và ý nghĩa: Khóa luận xác định đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung là tổng thể các biện pháp, cách thức được pháp luật quy định mà Tòa án phải áp dụng khi giải quyết ly hôn. Việc bảo đảm này mang ý nghĩa pháp lý sâu sắc (bảo vệ quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em; cụ thể hóa nguyên tắc hiến định và chuẩn mực quốc tế UNCRC 1989; thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa) và ý nghĩa xã hội to lớn (giúp trẻ em ổn định tâm sinh lý, giảm thiểu nguy cơ phạm tội và hành vi lệch chuẩn).
- Các yếu tố tác động: Quá trình bảo đảm quyền lợi của con chung chịu sự chi phối của 3 nhóm yếu tố: (i) Thể chế, chính sách và tính đồng bộ của hệ thống pháp luật; (ii) Trình độ nhận thức và ý thức pháp luật của đương sự và cán bộ có thẩm quyền tiến hành tố tụng; (iii) Phong tục, tập quán (tác động tích cực từ đạo hiếu, bổn phận gia đình; tác động tiêu cực từ tàn dư tư tưởng "trọng nam khinh nữ", "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô").
- Nội dung quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
- Hạn chế quyền ly hôn của người chồng: Khoản 3 Điều 51 quy định người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi nhằm bảo vệ sức khỏe thể chất và tâm lý của mẹ và trẻ sơ sinh.
- Xác định người trực tiếp nuôi con: Tôn trọng thỏa thuận tự nguyện của cha mẹ (Khoản 2 Điều 81). Trường hợp không thỏa thuận được, Tòa án quyết định căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con (điều kiện kinh tế, chỗ ở, thu nhập, đạo đức, lối sống). Quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng (trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện hoặc hai bên có thỏa thuận khác). Bắt buộc phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên (giảm 02 tuổi so với quy định tại Luật năm 2000), kết hợp với thủ tục tố tụng thân thiện theo Khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nghĩa vụ cấp dưỡng: Người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 82, Điều 116). Mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận hoặc Tòa án quyết định dựa trên thu nhập thực tế, khả năng tài chính của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của con. Phương thức cấp dưỡng thực hiện định kỳ (tháng, quý, nửa năm, năm hoặc một lần theo Điều 117). Quy định cơ chế cưỡng chế thi hành án (khấu trừ tài khoản, trừ vào thu nhập theo Điều 78 Luật Thi hành án dân sự), xử phạt hành chính (Điều 57 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP) hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 186 BLHS năm 2015).
- Thay đổi người trực tiếp nuôi con và hạn chế quyền thăm nom: Mở rộng diện chủ thể có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con (Điều 84) gồm cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em, Hội Liên hiệp Phụ nữ; quy định chế định giám hộ khi cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện (BLDS năm 2015). Hạn chế quyền thăm nom nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng con.
- Bảo đảm quyền tài sản của con: Xem xét phần công sức đóng góp của con trong khối tài sản chung của hộ gia đình (Khoản 1 Điều 59) và bảo đảm hiệu lực thỏa thuận của cha mẹ về việc giao tài sản cho con dưới 18 tuổi (Điều 38, Điều 55).
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng
Chương 2 đánh giá thực trạng xét xử thông qua các số liệu thống kê tư pháp và các vụ án thực tế, từ đó chỉ ra những điểm nghẽn trong áp dụng pháp luật:
-
Nhận xét chung về thực tiễn xét xử:
- Từ ngày 01/01/2023 đến 26/03/2024, Cổng thông tin điện tử công bố bản án của TAND ghi nhận số lượng lớn các vụ việc hôn nhân gia đình được giải quyết. Tại TAND quận Đống Đa (Hà Nội) năm 2023, thụ lý và giải quyết 1.249 vụ việc hôn nhân gia đình (trong đó có 150 vụ có con dưới 07 tuổi và 190 vụ có con từ 07 đến dưới 18 tuổi).
- Công tác hòa giải đoàn tụ được Tòa án chú trọng: tỷ lệ hòa giải thành tại TAND quận Đống Đa năm 2021 đạt 25,2%, năm 2022 đạt 27,1%; năm 2023 số vụ cho ly hôn chỉ chiếm 16,2% tổng số vụ khởi kiện. Tại TAND cấp cao tại Hà Nội giai đoạn 2022 - 7/2023, số lượng vụ việc phúc thẩm giải quyết là 60 vụ việc, đạt tỷ lệ 75%.
- Mô hình Tòa Gia đình và Người chưa thành niên (theo Luật Tổ chức TAND năm 2014) đã phát huy hiệu quả chuyên môn hóa trong việc bảo vệ quyền lợi trẻ em.
-
Tổng hợp các vụ việc xét xử thực tế được phân tích trong khóa luận:
| Bản án / Quyết định |
Cơ quan xét xử |
Đương sự và nội dung tranh chấp |
Phán quyết của Tòa án |
Đánh giá áp dụng pháp luật |
| Bản án số 593/2019/HNGĐ-ST (ngày 04/06/2019) |
TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh |
Nguyên đơn: Bà Châu Thị Kim N. Bị đơn: Ông Đinh Tiến Đ. Tranh chấp: Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Đinh Hoàng Ngân T (sinh năm 2004, khi xét xử 15 tuổi) do ông Đ có gia đình mới, giao cháu cho ông bà nội chăm sóc. |
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, giao cháu T cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng; tạm ngưng nghĩa vụ cấp dưỡng của ông Đ cho đến khi có yêu cầu. |
Phù hợp Điều 84 Luật HN&GĐ 2014; Tòa án lấy lời khai trực tiếp của cháu T (15 tuổi) thể hiện nguyện vọng sống cùng mẹ, đảm bảo tính khách quan và lợi ích thực tế của con. |
| Bản án số 03/2022/HNGĐ-ST (ngày 21/01/2022) |
TAND quận Hồng Bàng, TP. Hải Phòng |
Nguyên đơn: Anh Dương Văn C. Bị đơn: Chị Nguyễn Thu P. Tranh chấp: Ly hôn, phân chia 02 con chung (cháu L sinh 2005 và cháu M sinh 2008) và yêu cầu mức cấp dưỡng. |
Giao cháu M cho chị P nuôi dưỡng; giao cháu L cho anh C nuôi dưỡng. Anh C cấp dưỡng nuôi cháu M số tiền 5.000.000 đồng/tháng từ tháng 02/2022 đến khi cháu M đủ 18 tuổi. |
Đánh giá toàn diện điều kiện kinh tế và hoàn cảnh thực tế: cháu L học cấp III tập trung tại Hà Nội ở với cha, cháu M đang ở cùng mẹ được giữ nguyên môi trường sống ổn định. |
| Bản án số 95/2023/HNGĐ-ST (ngày 07/09/2023) |
TAND huyện An Dương, TP. Hải Phòng |
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H. Bị đơn: Anh Trần Văn T. Tranh chấp: Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung là cháu Trần Văn L (sinh năm 2012). Bị đơn cố tình vắng mặt, không hợp tác. |
Xử cho chị H ly hôn anh T; giao cháu L cho anh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; chưa xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng do đương sự không yêu cầu. |
Thẩm phán phải phối hợp với nhà trường để thu thập bản tự khai nguyện vọng của cháu L. Bản tự khai thiếu chữ ký xác nhận của cha mẹ, bộc lộ vướng mắc về hình thức lấy ý kiến con. |
- Tồn tại, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng pháp luật:
- Vấn đề lấy ý kiến của con từ đủ 07 tuổi trở lên: Trẻ em thường có xu hướng cảm tính muốn ở với mẹ; Thẩm phán còn lúng túng khi người mẹ không đủ điều kiện chăm sóc nhưng con kiên quyết chọn mẹ. Cán bộ xét xử phần lớn chưa được đào tạo chuyên sâu về tâm lý học lứa tuổi vị thành niên. Hình thức lấy ý kiến gián tiếp qua bản tự khai viết tay tiềm ẩn nguy cơ bị cha mẹ định hướng, thiếu tính khách quan; việc lấy ý kiến trực tiếp tại Tòa lại dễ tạo áp lực tâm lý nặng nề cho trẻ.
- Quy định giao con dưới 36 tháng tuổi cho mẹ: Bất cập phát sinh trong trường hợp người mẹ bỏ rơi con nhỏ cho người cha và gia đình bên nội nuôi dưỡng từ sơ sinh, sau đó quay lại yêu cầu quyền nuôi con khi ly hôn. Án lệ số 54/2022/AL đã giải quyết một phần tình huống này, song việc áp dụng còn thiếu thống nhất do khó định lượng tiêu chí "khi con còn rất nhỏ".
- Vấn đề xác định và thực thi nghĩa vụ cấp dưỡng: Tòa án gặp nhiều khó khăn trong việc xác minh thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng khi họ làm nghề tự do, không có bảng lương cố định hoặc cố tình che giấu thu nhập. Tình trạng Tòa án công nhận sự thỏa thuận không yêu cầu cấp dưỡng mà không thẩm định kỹ khả năng thực tế của người nuôi dưỡng làm ảnh hưởng tiêu cực đến điều kiện sống của trẻ. Chưa có quy định pháp luật cụ thể về mức cấp dưỡng tối thiểu, dẫn đến việc các Tòa án phải vận dụng tương tự pháp luật theo Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP (xác định mức cấp dưỡng không thấp hơn 01 tháng lương tối thiểu vùng).
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu chính: Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện khung pháp lý của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về bảo vệ con chung khi cha mẹ ly hôn; lượng hóa và phân tích bức tranh thực tiễn thông qua các số liệu thống kê xét xử tại TAND quận Đống Đa, TAND cấp cao tại Hà Nội và các bản án sơ thẩm thực tế. Công trình chỉ rõ 3 điểm nghẽn chính: thủ tục lấy ý kiến con từ đủ 07 tuổi, cơ chế giao con dưới 36 tháng tuổi và xác định mức cấp dưỡng tối thiểu.
- Hệ thống giải pháp, kiến nghị của tác giả:
- Hoàn thiện pháp luật: Cần ban hành văn bản hướng dẫn quy chuẩn hóa quy trình và hình thức lấy ý kiến con từ đủ 07 tuổi (đảm bảo tính bảo mật, không bắt buộc trẻ đối chất tại Tòa); làm rõ các trường hợp loại trừ quyền ưu tiên nuôi con dưới 36 tháng tuổi của người mẹ khi có hành vi bỏ mặc, không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc từ trước; luật hóa quy định mức cấp dưỡng tối thiểu (căn cứ theo mức lương tối thiểu vùng hoặc tỷ lệ thu nhập cố định) để bảo đảm quyền lợi thiết yếu cho trẻ.
- Nâng cao hiệu quả áp dụng: Mở rộng và chuẩn hóa mô hình Tòa Gia đình và Người chưa thành niên tại các cấp Tòa án nhân dân; bồi dưỡng kỹ năng tâm lý học, kỹ năng tố tụng thân thiện cho đội ngũ Thẩm phán; tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa Tòa án, Thi hành án dân sự, cơ quan quản lý lao động và chính quyền địa phương nhằm xác minh chính xác nguồn thu nhập và cưỡng chế nghĩa vụ cấp dưỡng.
- Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khắc phục hạn chế của các công trình trước đây (vốn chỉ dừng lại ở phân tích lý luận hoặc bình luận điều luật đại cương), khóa luận đã kết nối chặt chẽ giữa phân tích quy phạm với việc giải phẫu các bản án thực tiễn cụ thể và các án lệ mới ban hành, tạo ra nguồn tài liệu nghiên cứu có giá trị thực chứng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Công trình giới hạn phạm vi nghiên cứu trong các quan hệ hôn nhân và gia đình thuần túy nội địa theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; chưa xem xét, đánh giá việc bảo đảm quyền lợi của con chung trong các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp quyền nuôi con xuyên quốc gia.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền lợi của con chung trong các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài theo tư pháp quốc tế; khảo sát sâu hơn về cơ chế ủy thác tư pháp quốc tế trong việc xác minh tài sản và cưỡng chế nghĩa vụ cấp dưỡng qua biên giới.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Luật: Đặc biệt thuộc các chuyên ngành Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, phục vụ cho việc học tập, làm khóa luận, luận văn chuyên đề về quyền trẻ em và chế định ly hôn.
- Cán bộ thực tiễn tư pháp (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân, Luật sư): Cung cấp các phân tích tình huống thực tế, đối chiếu việc áp dụng Án lệ số 54/2022/AL, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP và kỹ năng giải quyết xung đột trong việc lấy ý kiến trẻ chưa thành niên và xác định mức cấp dưỡng nuôi con.
Câu hỏi thường gặp
1. Đối tượng "con chung của vợ chồng" được pháp luật bảo vệ khi cha mẹ ly hôn bao gồm những nhóm nào?
Theo Khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối tượng con chung được bảo vệ gồm: con chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi); con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự; con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
2. Người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong những trường hợp cụ thể nào?
Căn cứ Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe thể chất, tinh thần của người mẹ và sự an toàn của trẻ sơ sinh.
3. Quy định về độ tuổi bắt buộc Tòa án phải lấy ý kiến của con khi giải quyết quyền nuôi con có sự thay đổi như thế nào giữa các thời kỳ luật?
Theo Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án bắt buộc phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. So với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (quy định độ tuổi từ đủ 09 tuổi trở lên), độ tuổi bắt buộc lấy ý kiến đã được giảm đi 02 tuổi nhằm tôn trọng quyền tự do bày tỏ quan điểm của trẻ em theo Công ước UNCRC 1989.
4. Án lệ số 54/2022/AL giải quyết vướng mắc thực tiễn nào liên quan đến quy định giao con dưới 36 tháng tuổi cho mẹ?
Án lệ số 54/2022/AL giải quyết tình huống người mẹ bỏ nhà đi khi con còn rất nhỏ, không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng mà để người cha và gia đình bên nội nuôi dưỡng ổn định. Khi ly hôn, nếu người mẹ yêu cầu nuôi con dưới 36 tháng tuổi nhưng người cha có đủ điều kiện và việc thay đổi môi trường sống làm xáo trộn sự phát triển của trẻ, Tòa án có căn cứ giao con cho người cha trực tiếp nuôi dưỡng để bảo đảm lợi ích tốt nhất cho con.
5. Những chủ thể nào có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014?
Theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các chủ thể có quyền yêu cầu gồm: cha, mẹ; người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; và Hội Liên hiệp Phụ nữ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Minh Châu đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý thực định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của con chung khi cha mẹ ly hôn. Thông qua việc phân tích thực chứng số liệu thống kê xét xử và các bản án sơ thẩm cụ thể, công trình đã chỉ rõ những bất cập trong việc lấy ý kiến trẻ từ đủ 07 tuổi, quy định nuôi con dưới 36 tháng tuổi và cơ chế xác định nghĩa vụ cấp dưỡng. Các đề xuất hoàn thiện quy phạm pháp luật và giải pháp nâng cao chất lượng tố tụng thân thiện của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên mang giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu học thuật và thực tiễn xét xử tư pháp tại Việt Nam.