CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CẤP DƯỠNG CHO CON KHI CHA MẸ LY HÔN 1. Những vấn đề lý luận về cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn 1. Khái quát chung về cấp dưỡng 1. Khái niệm về cấp dưỡng Gia đình là một phần của xã hội vì vậy vấn đề hôn nhân và gia đình luôn là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước.
Đã có rất nhiều văn bản pháp luật ra đời thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về vấn đề này. Khoản 2 Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”. Để cụ thể hóa quy định này của Hiến pháp nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành nhằm đề cao vai trò của gia đình, phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xóa bỏ lạc hậu như Luật HN&GĐ năm 2014, BLDS năm 2015 (Điều 39) quy định về quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình. Các chủ thể trong quan hệ pháp luật HN&GĐ không chỉ quan tâm, chăm sóc lẫn nhau về tinh thần mà còn cả vật chất.
Cấp dưỡng giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật HN&GĐ thể hiện nét đặc trưng riêng biệt của quan hệ tài sản trong Luật HN&GĐ. Trong các công trình khoa học pháp lý, khái niệm cấp dưỡng đã được nhiều tác giả nghiên cứu và lý giải. Theo tiến sĩ Ngô Thị Hường “Cấp dưỡng là nghĩa vụ giữa những người đang có hoặc đã có quan hệ gia đình trong việc bảo đảm cuộc sống cho những người chưa thành niên, người đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản hoặc tuy có nhưng không đủ để bảo đảm cuộc sống của mình khi những người này không sống chung với nhau. Cấp dưỡng còn là biện pháp chế tài đối với người có hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng” 1.
Khái niệm này đã nêu được tính chất của mối quan hệ giữa người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng, phạm vi tham gia quan hệ cấp dưỡng là những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng khi những người này không cùng sống chung với nhau. 1 Ngô Thị Hường (2017), Giáo trình Luật HN&GĐ, NXB Lao Động- Xã Hội, Đại học Mở Hà Nội, Tr 162. 5 Dưới góc độ pháp lý, cấp dưỡng lần đầu tiên được ghi nhận là một chế định riêng tại chương VI Luật HN&GĐ năm 2000 và được tiếp tục kế thừa, phát huy, bổ sung, hoàn thiện tại chương VII Luật HN&GĐ năm 2014. Khoản 24 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 giải thích về cấp dưỡng như sau: “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này”.
Theo đó, cấp dưỡng được hiểu là một người phải đóng góp tiền hoặc tài sản để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người mà mình có trách nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng khi không sống chung. Khái niệm đã nêu được những nội dung chủ yếu của cấp dưỡng như đối tượng được cấp dưỡng, điều kiện cấp dưỡng, mục đích cấp dưỡng. Như vậy, cấp dưỡng phải được thực hiện bằng hoạt động tích cực của bên có nghĩa vụ cấp dưỡng nhằm thực hiện nghĩa vụ của mình. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật.
Đặc điểm của cấp dưỡng Thứ nhất, Cấp dưỡng là nghĩa vụ về tài sản, gắn liền với nhân thân của chủ thể, không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác vì nó liên quan đến lợi ích của người được cấp dưỡng thể hiện ở chỗ người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải chu cấp một khoản tiền hoặc tài sản nhất định để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Người được cấp dưỡng hướng tới lợi ích về tài sản, vật chất nhất định để bảo đảm cho cuộc sống của mình. Nếu nghĩa vụ cấp dưỡng được thay thế bằng nghĩa vụ khác thì sẽ đồng nghĩa với việc người được cấp dưỡng sẽ không nhận được tiền hoặc tài sản và cuộc sống của họ không được bảo đảm.
Cấp dưỡng là một quan hệ pháp lý được điều chỉnh bởi Luật HN&GĐ, đòi hỏi chủ thể phải trực tiếp thực hiện bằng tài sản do đó không thể chuyển giao cho người khác. Ví dụ: Anh A và chị B lấy nhau chung sống được 5 năm, do cuộc sống có nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình trạng không thể chung sống với nhau. Anh A và chị B 6 thuận tình ly hôn và việc nuôi con (cháu C) thuộc về chị B và anh A có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu C theo quyết định của Tòa án. Sau một thời gian anh A bị bệnh chết nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu C của anh a chấm dứt.
Qua ví dụ ta thấy, anh A là người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là cháu C, khi anh A chết thì nghĩa vụ cấp dưỡng của anh A chấm dứt vì nghĩa vụ này không thể chuyển giao cho những người thừa kế. Thứ hai, Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình trên cơ sở hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng Điều 107 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này”. Đặc điểm này thể hiện ở chỗ về quan hệ hôn nhân sẽ làm phát sinh cơ sở pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong đó có nghĩa vụ cấp dưỡng. Về quan hệ huyết thống: thể hiện sự ràng buộc giữa cha, mẹ và con.
Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn hoặc ngược lại con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Về quan hệ nuôi dưỡng: được pháp luật ghi nhận làm phát sinh nghĩa vụ giữa người nuôi dưỡng và người được nuôi dưỡng. Thứ ba, nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ có đi có lại nhưng không mang tính chất đồng thời và tuyệt đối. Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ có đi có lại, nó thể hiện ở chỗ các chủ thể đều có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau nếu một bên rơi vào tình trạng cần được cấp dưỡng.
Nghĩa vụ cấp dưỡng không mang tính chất đồng thời có nghĩa là trong cùng một thời điểm thì chỉ có thể một bên cấp dưỡng cho bên kia vì nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh khi một bên cần được cấp dưỡng và bên kia có khả năng. Ví dụ như khi cha mẹ ly hôn thì một bên cha hoặc mẹ sẽ phải cấp dưỡng cho con chưa thành niên hoặc đã thành niên không có khả năng lao động. Người con trong trường hợp này không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ vì họ không cần được cấp dưỡng và người con cũng không có khả năng cấp dưỡng. 7 Nghĩa vụ cấp dưỡng không mang tính tuyệt đối bởi nghĩa vụ này không phải luôn xảy ra với các chủ thể mà nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh khi có những điều kiện nhất định.
Cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn 1. Khái niệm cấp dưỡng cho con sau khi cha mẹ ly hôn Hiện nay, Luật HN&GĐ chưa có khái niệm cụ thể nào về vấn đề cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn. Dưới góc độ pháp lý, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn được ghi nhận từ khi Luật HNGĐ năm 1959 ra đời thể hiện sự quan tâm về quyền trẻ em của Nhà nước ta và tiếp tục được kế thừa, phát huy tại khoản 2 Điều 82 Luật HN&GĐ năm 2014. Hoàng Thị Huệ trong luận văn Thạc sĩ của mình có quan điểm cho rằng: “Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn là một nghĩa vụ pháp lý mà cha hoặc mẹ bắt buộc phải làm đối với con, nếu con là người chưa thành niên hoặc đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, khi không là người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi đã chấm dứt quan hệ hôn nhân bằng việc đóng góp tiền hoặc hiện vật tương ứng với nhu cầu thiết yếu của con đồng thời phù hợp với khả năng thực tế của mình để bù đắp những tổn thất về mặt vật chất cho con khi không được chung sống đồng thời với cha mẹ”.
2 Theo như quan điểm này, xét về nội dung pháp lý, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn được điều chỉnh bởi Luật HN&GĐ. Chủ thể của quan hệ này bao gồm cha mẹ và con; cha hoặc mẹ là chủ thể có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân; con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình là chủ thể được cấp dưỡng. Mục đích của nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn là bảo đảm sự phát triển toàn diện cho con, bù đắp sự tổn thất về vật chất và tình cảm của người không sống chung cùng với con. Quan điểm này đã đưa ra được một khái niệm rõ ràng và phù hợp về cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn.
Như vậy, từ quan điểm trên đồng thời cùng kết hợp với khái niệm cấp dưỡng được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2014 có thể hiểu: “Cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn là nghĩa vụ pháp lý mà cha hoặc mẹ phải đóng góp tiền hoặc tài sản để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên hoặc con đã thành 2 Hoàng Thị Huệ (2018), Thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi ly hôn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Tr10. 8 niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình khi không còn chung sống với nhau sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân”.