Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Quản lý kinh tế (Mã số: 9.10) với đề tài "Nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cho tỉnh Bắc Giang" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Thị Thanh Xuân dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đỗ Anh Tài tại Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Đại học Thái Nguyên (bảo vệ năm 2018).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI - Provincial Competitiveness Index) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) xây dựng là thước đo quan trọng đánh giá chất lượng điều hành kinh tế, mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh và nỗ lực cải cách hành chính của chính quyền các tỉnh, thành phố nhằm hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân.
Tỉnh Bắc Giang giữ vị trí địa kinh tế - chính trị trọng yếu, là địa bàn chuyển tiếp giữa các tỉnh Đông Bắc với Vùng Thủ đô Hà Nội và Đồng bằng sông Hồng, đồng thời là đầu mối giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa. Mặc dù sở hữu nhiều tiềm năng, sự phát triển kinh tế của tỉnh vẫn chưa tương xứng với lợi thế vốn có.
Năm 2006 – năm đầu tiên Bắc Giang tham gia đánh giá PCI, tỉnh đạt 55,89 điểm, xếp thứ 16/63 tỉnh, thành phố (thuộc nhóm "Khá"). Tuy nhiên, trong giai đoạn 2006–2017, thứ hạng của tỉnh biến động thiếu ổn định: có 2 năm rơi vào nhóm "Tương đối thấp" (năm 2008 và năm 2013). Đến năm 2017, mặc dù lãnh đạo tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương và biện pháp cải thiện môi trường đầu tư, Bắc Giang vẫn chỉ xếp thứ 33/63 và nằm trong nhóm "Trung bình". Khoảng cách điểm số giữa các tỉnh dẫn đầu và nhóm cuối bảng trên cả nước ngày càng thu hẹp (năm 2016 chỉ còn khoảng 6 điểm), tạo ra sức ép cạnh tranh quyết liệt giữa các địa phương.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Phần lớn các công trình trong nước và báo cáo PCI hàng năm mới dừng lại ở việc công bố điểm số, xếp hạng hoặc phân tích thực trạng chung, chưa đi sâu vào việc giải thích nguyên nhân nội tại từ góc nhìn của cả hai chủ thể: đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý nhà nước tại địa phương và cộng đồng doanh nghiệp dân doanh trực tiếp chịu tác động của chính sách. Luận án được triển khai nhằm lấp đầy khoảng trống này, làm rõ căn nguyên khiến nhiều chỉ số thành phần PCI của tỉnh Bắc Giang bị thấp điểm và suy giảm điểm kéo dài trong giai đoạn 2006–2017, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách cụ thể đến năm 2025.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu tìm ra nguyên nhân làm cho các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Bắc Giang bị thấp điểm và giảm điểm; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018–2025.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và việc nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
- Phân tích thực trạng, xác định nguyên nhân khiến các chỉ số thành phần PCI của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2006–2017 bị thấp điểm và suy giảm điểm số.
- Đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp khả thi cho giai đoạn 2018–2025 nhằm tăng điểm cho các chỉ số thành phần PCI bị thấp điểm và giảm điểm của tỉnh.
Câu hỏi nghiên cứu
- Những chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh nào của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2006–2017 bị thấp điểm và giảm điểm?
- Những nguyên nhân nào làm cho các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Bắc Giang bị đánh giá là thấp điểm và giảm điểm?
- Chính quyền tỉnh Bắc Giang cần chú trọng đến những vấn đề gì nhằm nâng cao các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đã bị thấp điểm và giảm điểm trong giai đoạn 2006–2017 và định hướng giai đoạn 2018–2025?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong mối quan hệ tác động tới việc thu hút đầu tư và hoạt động của các doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn; trọng tâm là các nhóm chỉ số thành phần PCI bị thấp điểm và giảm điểm liên tục giai đoạn 2006–2017:
- Nhóm chỉ số thấp điểm: Gia nhập thị trường, Tiếp cận đất đai, Tính minh bạch, Thiết chế pháp lý, Cạnh tranh bình đẳng.
- Nhóm chỉ số giảm điểm: Đào tạo lao động, Chi phí không chính thức, Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh.
- Phạm vi đối tượng khảo sát: Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước (hoạt động trong lĩnh vực Thương mại, Dịch vụ, Xây dựng, Công nghiệp, Hộ sản xuất kinh doanh) và cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các Sở, ban, ngành, phòng ban thuộc tỉnh Bắc Giang.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn tỉnh Bắc Giang (bao gồm 9 huyện và 1 thành phố).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2006–2017; số liệu điều tra sơ cấp được tiến hành thu thập trong năm 2017; các giải pháp và khuyến nghị được định hướng thực hiện cho giai đoạn 2018–2025.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Luận án đã phân loại các lý thuyết và công trình nghiên cứu quốc tế về năng lực cạnh tranh (NLCT) qua các giai đoạn phát triển:
-
Quan điểm cạnh tranh truyền thống và cổ điển:
- Adam Smith (1776) trong tác phẩm "Quốc phú luận" (The Wealth of Nations) đặt nền móng cho tư tưởng tự do cạnh tranh và đưa ra khái niệm "Lợi thế tuyệt đối", khẳng định cạnh tranh thông qua cơ chế thị trường và giá cả là động lực thúc đẩy nỗ lực của các cá nhân và tăng cường của cải quốc dân.
- David Ricardo (1817) với tác phẩm "Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khóa" đã phát triển lý thuyết của Adam Smith thành "Lợi thế so sánh", chứng minh các quốc gia có thể hưởng lợi từ thương mại quốc tế bằng cách chuyên môn hóa vào sản xuất các mặt hàng có hiệu quả tương đối cao hơn.
- E.H. Chamberlin (1933) với "Lý thuyết cạnh tranh độc quyền" phân tích trạng thái thị trường nằm giữa cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền thuần túy, nhấn mạnh vai trò của tính dị biệt hóa sản phẩm (bao gồm nhãn hiệu, chất lượng, bao bì, dịch vụ) và quảng cáo.
- Kinh tế học tổ chức ngành (Industrial Organization Economics - I/O) và Michael Porter (1980) nghiên cứu NLCT dựa trên cấu trúc ngành kinh doanh, xác định hành vi chiến lược và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
-
Quan điểm tân cổ điển:
- W. Jevons (1835–1882) ủng hộ cơ chế tự do cạnh tranh, phản đối sự can thiệp của nhà nước vào thị trường.
- John Bates Clark phát triển quy luật năng suất lao động và quy luật năng suất cận biên giảm dần của các yếu tố sản xuất.
- Alfred Marshall (1890, 1924) trong tác phẩm "Những nguyên lý kinh tế học" đã phân tích tính kinh tế bên trong và tính kinh tế bên ngoài của doanh nghiệp, lý giải hiện tượng các doanh nghiệp cùng ngành tập trung trên một phạm vi lãnh thổ và cơ sở lý giải sự can thiệp chính sách của nhà nước.
- Léon Walras (1834–1910) đưa ra mô hình cân bằng tổng thể, xem xét sự vận hành tối ưu của thị trường tự do cạnh tranh hoàn hảo trong việc phân bổ nguồn lực.
-
Quan điểm cạnh tranh hiện đại và năng lực cạnh tranh lãnh thổ:
- Eli Heckscher và Bertil Ohlin (1933) xây dựng mô hình H-O giải thích lợi thế so sánh bắt nguồn từ mức độ sẵn có và cường độ sử dụng các yếu tố sản xuất của mỗi quốc gia.
- Buckley, Pass và Prescott (1988), Waheeduzzan và cộng sự (1996), Henricsson và cộng sự (2004) tổng thuật sự phát triển phức tạp của các khái niệm NLCT và khẳng định tính đa chiều, chưa đồng nhất trong định nghĩa học thuật.
- Thorne (2002), Momay (2005), Flanagan và cộng sự (2007) ghi nhận sự bùng nổ của các công trình nghiên cứu NLCT từ thập niên 1990.
- Feurer và Chaharbaghi (1994) nhấn mạnh tính tương đối của NLCT và sự cân bằng động giữa sức mạnh tài chính, tiềm năng nhân lực và công nghệ.
- Kresl và cộng sự (1995) nghiên cứu NLCT đô thị thông qua 6 yếu tố biểu hiện (việc làm kỹ năng cao, sản phẩm thân thiện môi trường, giá trị gia tăng cao, tương thích tăng trưởng...) và chia thành hai nhóm: yếu tố kinh tế và yếu tố chiến lược (thể chế, chính sách).
- Paul Krugman (1996, 2008) xem xét tính cạnh tranh dưới giác độ thương mại quốc tế và nhấn mạnh NLCT thực chất gắn liền với năng suất của từng doanh nghiệp cụ thể hơn là thực thể địa lý trừu tượng.
- Gordon và Cheshire (1998) xem xét NLCT lãnh thổ như nỗ lực của các cơ quan đại diện khu vực nhằm nâng cao lợi thế vị trí và điều kiện sản xuất.
- Cuadrado-Roura và Rubalcaba-Bermejo (1998) chỉ ra vai trò của chuyên môn hóa kết hợp đa dạng hóa kinh tế lãnh thổ nhằm tránh rủi ro suy giảm vị thế cạnh tranh.
- Vũ Minh Khương và Haughton (2004) phân loại 9 nhóm chỉ số đo lường NLCT địa phương: Chính phủ và chính sách tài chính, Thể chế, Kết cấu hạ tầng, Nguồn nhân lực - công nghệ, Tài chính, Độ mở thương mại, Công nghiệp hỗ trợ, Cạnh tranh nội địa.
- Michael Porter (1990, 2005) hoàn thiện lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia và mô hình phân tích chuỗi giá trị gồm 9 nhóm hoạt động để xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp.
- Ming Zhang (2009) phân loại các hành động nâng cao tính cạnh tranh của chính quyền cấp tỉnh thành 3 khía cạnh: Đáp ứng hạ tầng cơ sở (giao thông, thông tin, điện, nước, vệ sinh); Cải thiện dịch vụ công cộng (giáo dục, y tế, an ninh, nhà ở); Giảm chi phí kinh doanh (đơn giản hóa thủ tục hành chính về đăng ký, nộp thuế, mặt bằng).
Các nghiên cứu tại Việt Nam
Các công trình trong nước được tác giả tổng hợp theo hai nhánh chính:
-
Nghiên cứu NLCT cấp doanh nghiệp, ngành và quốc gia:
- Bạch Thọ Cường (2002) tổng hợp toàn diện các lý thuyết cạnh tranh toàn cầu và mô hình tạo lập lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Trần Sửu (2005) trong công trình "Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa" phân loại các yếu tố ảnh hưởng thành nhóm bên trong (nhận thức lao động, quản trị, nguồn lực, cơ cấu tổ chức, chiến lược) và nhóm bên ngoài (nhà cung ứng, thị trường tiêu thụ, rủi ro vĩ mô, hạ tầng, chính sách nhà nước).
- Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Học viện Năng lực cạnh tranh Châu Á Singapore (ACI) và Michael Porter (2010) công bố "Báo cáo Năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010 (VNCR 2010)", phân tích toàn diện NLCT vĩ mô và vi mô của nền kinh tế Việt Nam.
- Thái Thị Kim Oanh (2015) ứng dụng mô hình Dwyer & Kim (2003) phân tích NLCT du lịch biển đảo tỉnh Nghệ An.
- Nguyễn Nam Thắng (2015) nghiên cứu các mô hình NLCT cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch (mô hình Mill & Morrison 1992, Crouch 2007, chỉ số TTCI của Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF 2014).
-
Nghiên cứu NLCT và PCI cấp địa phương:
- Vũ Thành Hưng (2005) là một trong những nghiên cứu đầu tiên khái quát hóa vấn đề NLCT cấp tỉnh tại Việt Nam thông qua phân tích bảng xếp hạng PCI.
- Phan Nhật Thanh (2011) phân tích thực trạng PCI tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006–2010 bằng thống kê mô tả, kiến nghị nâng cao tính minh bạch, thiết chế pháp lý, đào tạo lao động và tính tiên phong của lãnh đạo tỉnh, tuy nhiên chưa đi sâu vào nhóm chỉ số suy giảm điểm như tiếp cận đất đai hay chi phí gia nhập thị trường.
- Nguyễn Đức Hải (2013) nghiên cứu hoạt động marketing lãnh thổ nhằm thu hút FDI trên địa bàn TP. Hà Nội giai đoạn 2009–2012.
- Nguyễn Đình Dương (2014) phân tích NLCT của TP. Hà Nội theo 7 tiêu chí: Môi trường thể chế; Các yếu tố đầu vào cơ bản; Độ mở và liên kết hội nhập; Kết cấu hạ tầng; NLCT của doanh nghiệp và sản phẩm chủ lực; Lợi thế tuyệt đối.
- Báo cáo PCI thường niên của VCCI và USAID: Xây dựng khung đánh giá dựa trên 10 chỉ số thành phần đo lường chất lượng điều hành kinh tế tác động lên khu vực kinh tế tư nhân.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù các nghiên cứu trước đã tiếp cận đa dạng về lý thuyết và thực tiễn, hầu hết các công trình tại Việt Nam chỉ dừng lại ở việc phản ánh điểm số và thứ hạng hàng năm của VCCI hoặc đánh giá chung NLCT của doanh nghiệp/ngành. Chưa có công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu về các nguyên nhân gốc rễ (nguyên nhân nội tại) dẫn đến tình trạng các chỉ số thành phần PCI bị thấp điểm và suy giảm điểm kéo dài trên địa bàn tỉnh Bắc Giang suốt giai đoạn 2006–2017, thông qua việc đối chiếu và kiểm định ý kiến đánh giá đồng thời từ phía các nhà quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp dân doanh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm năng lực cạnh tranh: Luận án tổng hợp các góc độ tiếp cận (từ CIEM, Michael Porter, Paul Krugman, Nguyễn Như Ý, Phan Nhật Thanh và Luật Cạnh tranh 2015), từ đó đưa ra định nghĩa khái quát: "Năng lực cạnh tranh là khả năng tập hợp đầy đủ các nguồn lực, lợi thế của mình và được vận dụng phát huy tối đa các nguồn lực, lợi thế đó nhằm mang lại hiệu quả cao thực hiện những mục tiêu nhất định so với các điều kiện chung, giống nhau với các đối tượng khác."
- Khung phân tích PCI: Dựa trên cấu trúc 10 chỉ số thành phần do VCCI và USAID thiết lập:
- Chi phí gia nhập thị trường (GNTT)
- Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất (TCDĐ)
- Tính minh bạch và tiếp cận thông tin (TMB)
- Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước (CPTG)
- Chi phí không chính thức (CPKCT)
- Môi trường cạnh tranh bình đẳng (CTBĐ)
- Tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh (TND)
- Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp (DVHTDN)
- Đào tạo lao động (ĐTLĐ)
- Thiết chế pháp lý và an ninh trật tự (TCPL)
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
-
Phương pháp định tính:
- Phương pháp phân tích tài liệu và tổng hợp lịch sử: Rà soát các chủ trương, văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, báo cáo tổng kết của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bắc Giang và các báo cáo PCI thường niên của VCCI (2006–2017).
- Phương pháp so sánh và đúc rút bài học kinh nghiệm: Phân tích kinh nghiệm thực tiễn trong việc cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao chỉ số PCI tại 3 địa phương lân cận:
- Tỉnh Bắc Ninh: Mô hình "Bác sĩ doanh nghiệp" tiếp nhận và giải quyết trực tiếp vướng mắc của cơ sở kinh doanh.
- Tỉnh Quảng Ninh: Cải cách thủ tục hành chính gắn với mô hình Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư (IPA) và triển khai Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và địa phương (DDCI).
- Tỉnh Thái Nguyên: Thành lập Tổ công tác chuyên trách trong việc tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp.
-
Phương pháp định lượng:
- Phương pháp thống kê mô tả: Phân tích động thái biến thiên điểm số trung vị PCI, chuỗi dữ liệu 10 chỉ số thành phần của Bắc Giang trong 12 năm (2006–2017), so sánh tương quan với bình quân cả nước và khu vực Miền núi phía Bắc.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (Survey): Thiết kế phiếu khảo sát riêng cho 2 nhóm đối tượng: (1) Cán bộ, chuyên viên quản lý nhà nước tại các sở, ban, ngành; (2) Giám đốc/chủ các doanh nghiệp ngoài nhà nước và hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Thang đo được thiết kế theo dạng Likert đo lường mức độ đồng thuận đối với các yếu tố nguyên nhân tác động đến điểm số PCI.
- Kỹ thuật phân tích nhân tố và kiểm định độ tin cậy thang đo: Sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha để kiểm định tính nhất quán nội tại của các biến quan sát đo lường nguyên nhân khiến các chỉ số thành phần PCI bị thấp điểm và giảm điểm.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: Cơ sở dữ liệu PCI giai đoạn 2006–2017 từ VCCI và USAID; Niên giám Thống kê tỉnh Bắc Giang (Cục Thống kê tỉnh Bắc Giang); Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của UBND tỉnh Bắc Giang, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư tỉnh Bắc Giang.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua điều tra chọn mẫu phân tầng đối với các doanh nghiệp dân doanh đang hoạt động trong các lĩnh vực Công nghiệp, Xây dựng, Thương mại - Dịch vụ và cán bộ tại các cơ quan quản lý nhà nước phân bổ trên 10 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Bắc Giang năm 2017.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu và cơ sở lý luận về nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Chương 1 hệ thống hóa các trường phái lý thuyết kinh tế về cạnh tranh và NLCT từ cổ điển đến hiện đại, đồng thời làm rõ cấu trúc 10 chỉ số thành phần của PCI và mối quan hệ giữa công tác điều hành kinh tế cấp tỉnh với sự phát triển của khu vực tư nhân.
Tác giả phân tích kinh nghiệm thực tiễn trong quản trị và nâng cao chỉ số PCI tại 3 địa phương điển hình (Bắc Ninh, Quảng Ninh, Thái Nguyên) giai đoạn 2007–2017:
- Bắc Ninh: Đột phá nhờ mô hình đối thoại trực tiếp "Bác sĩ doanh nghiệp", phân công cán bộ chuyên trách giải quyết các vướng mắc của doanh nghiệp FDI và DNTN, giúp PCI Bắc Ninh duy trì vị trí top đầu cả nước.
- Quảng Ninh: Thực hiện cải cách hành chính đồng bộ thông qua mô hình Ban Xúc tiến và Hỗ trợ Đầu tư (IPA) tập trung, đồng thời tiên phong vận hành Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và địa phương (DDCI) tạo áp lực cải cách từ cấp cơ sở.
- Thái Nguyên: Thành lập các Tổ công tác liên ngành trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án công nghiệp quy mô lớn và chuỗi cung ứng phụ trợ.
Từ các mô hình trên, luận án rút ra 4 bài học cốt lõi cho Bắc Giang: (1) Cần sự cam kết và tinh thần tiên phong của lãnh đạo cao nhất; (2) Phải chuyển đổi cơ chế giải quyết thủ tục từ phân tán sang tập trung, công khai, minh bạch; (3) Phải thiết lập kênh thông tin tiếp nhận và xử lý phản ánh thực chất; (4) Cần lượng hóa và gắn trách nhiệm công vụ của từng sở, ban, ngành, địa phương với kết quả cải thiện môi trường kinh doanh.
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang, chỉ ra các lợi thế về vị trí địa lý liền kề vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, hệ thống hạ tầng giao thông và nguồn lao động dồi dào, cùng sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng giai đoạn 2010–2017. Đồng thời, chương này phân tích chi tiết quy trình nghiên cứu, thiết kế bảng câu hỏi khảo sát, phương pháp chọn mẫu phân tầng theo địa bàn (9 huyện và TP. Bắc Giang) và theo ngành nghề hoạt động. Tác giả thiết lập hệ thống thang đo gồm các biến quan sát phản ánh nguyên nhân ảnh hưởng tới từng chỉ số thành phần PCI để đưa vào kiểm định thống kê.
Chương 3: Thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Bắc Giang qua giai đoạn 2006–2017
Chương 3 tập trung phân tích diễn biến PCI của tỉnh Bắc Giang trong 12 năm và làm rõ sự phân hóa giữa các nhóm chỉ số:
| Nhóm chỉ số PCI của tỉnh Bắc Giang | Các chỉ số thành phần cụ thể | Đặc trưng diễn biến giai đoạn 2006–2017 |
|---|---|---|
| Nhóm chỉ số thấp điểm | - Gia nhập thị trường - Tiếp cận đất đai - Tính minh bạch - Thiết chế pháp lý - Cạnh tranh bình đẳng |
Điểm số thường xuyên thấp hơn điểm trung vị của cả nước; thủ tục cấp phép và tiếp cận mặt bằng kéo dài; tiếp cận quy hoạch, tài liệu pháp lý còn nhiều rào cản; giải quyết tranh chấp qua tòa án chưa tạo dựng được niềm tin vững chắc. |
| Nhóm chỉ số giảm điểm | - Đào tạo lao động - Chi phí không chính thức - Tính năng động của chính quyền |
Từng đạt thứ hạng cao trong những năm đầu nhưng sau đó suy giảm dần; chất lượng đào tạo nghề chưa bắt kịp yêu cầu công nghiệp hóa; gánh nặng chi phí "bôi trơn" và nạn nhũng nhiễu còn phổ biến; sự linh hoạt, sáng tạo trong thực thi chính sách ở cấp cơ sở có xu hướng chững lại. |
| Nhóm chỉ số duy trì điểm khá | - Chi phí thời gian - Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp |
Duy trì điểm số tương đối ổn định nhờ việc ứng dụng một cửa điện tử và sự tham gia của các tổ chức hiệp hội doanh nghiệp. |
Tác giả sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để kiểm định độ tin cậy của các thang đo nguyên nhân:
- Thang đo nguyên nhân chỉ số Gia nhập thị trường thấp điểm: Làm rõ nguyên nhân do thời gian đăng ký doanh nghiệp và cấp phép ngành nghề kinh doanh có điều kiện còn chồng chéo, việc niêm yết quy trình chưa đồng bộ.
- Thang đo nguyên nhân chỉ số Tiếp cận đất đai thấp điểm: Xác định nguyên nhân chính nằm ở công tác bồi thường giải phóng mặt bằng chậm, quỹ đất sạch trong các Khu công nghiệp/Cụm công nghiệp (KCN/CCN) hạn chế, rủi ro thu hồi đất và thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phức tạp.
- Thang đo nguyên nhân chỉ số Tính minh bạch thấp điểm: Bắt nguồn từ việc doanh nghiệp khó tiếp cận các tài liệu quy hoạch, bản đồ sử dụng đất, ngân sách tỉnh và thông tin đấu thầu mua sắm công; trang thông tin điện tử của các sở ngành cập nhật chậm.
- Thang đo nguyên nhân chỉ số Chi phí không chính thức và Tính năng động giảm điểm: Tình trạng cán bộ nhũng nhiễu khi thanh tra, kiểm tra; sự thiếu nhất quán trong chỉ đạo điều hành giữa cấp tỉnh và cấp huyện/xã, hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên.
- Thang đo nguyên nhân chỉ số Đào tạo lao động giảm điểm: Khoảng cách lớn giữa chất lượng đào tạo của các trường nghề địa phương với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp trong KCN, tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ/bằng cấp thấp.
Chương 4: Giải pháp nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018–2025
Trên cơ sở phân tích định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018–2025, chương 4 xây dựng hệ thống giải pháp chia theo các nhóm trọng tâm:
-
Nhóm giải pháp cho các chỉ số thấp điểm:
- Gia nhập thị trường: Liên thông thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ dưới mức quy định chung; triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4; hỗ trợ tối đa thủ tục cấp phép cho các dự án khởi nghiệp.
- Tiếp cận đất đai: Công khai 100% quy hoạch sử dụng đất, tạo cơ chế giải phóng mặt bằng sạch tạo quỹ đất cho KCN, CCN; đơn giản hóa thủ tục giao đất, cho thuê đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Tính minh bạch: Đẩy mạnh số hóa thông tin, cập nhật kịp thời các văn bản chỉ đạo, chính sách ưu đãi đầu tư, quy hoạch ngành trên Cổng thông tin điện tử tỉnh và các website chuyên ngành; nâng cao hiệu quả hoạt động đối thoại doanh nghiệp định kỳ.
- Thiết chế pháp lý và Cạnh tranh bình đẳng: Nâng cao năng lực xét xử của Tòa án kinh tế, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và hợp đồng kinh tế; chống các hành vi bảo hộ ngầm hoặc ưu đãi bất bình đẳng cho một nhóm doanh nghiệp cụ thể.
-
Nhóm giải pháp cho các chỉ số giảm điểm:
- Kiểm soát chi phí không chính thức: Công khai đường dây nóng, tăng cường thanh tra công vụ; xử lý nghiêm các hành vi vòi vĩnh, phiền hà trong quá trình cấp phép, thanh kiểm tra thuế, hải quan, môi trường, phòng cháy chữa cháy.
- Nâng cao tính năng động và tiên phong của bộ máy chính quyền: Thiết lập cơ chế đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với từng sở, ngành, huyện, thành phố (tương tự mô hình DDCI của Quảng Ninh); khuyến khích cán bộ cấp cơ sở dám nghĩ, dám làm và chủ động tháo gỡ khó khăn cho dự án đầu tư.
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Đổi mới chương trình đào tạo nghề theo cơ chế đặt hàng của doanh nghiệp; kết nối chặt chẽ giữa các trường cao đẳng, trung cấp nghề trên địa bàn với các hiệp hội doanh nghiệp và KCN.
-
Nhóm giải pháp nâng cao năng lực nội tại cho cộng đồng doanh nghiệp:
- Tăng cường năng lực quản trị tài chính, minh bạch hóa báo cáo tài chính để nâng cao khả năng tiếp cận vốn ngân hàng.
- Xây dựng chiến lược nhân sự dài hạn, chú trọng đào tạo nội bộ và nâng cao năng suất lao động.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh lãnh thổ dưới góc độ điều hành kinh tế vi mô và vĩ mô, tổng hợp các quan điểm từ trường phái cổ điển (Adam Smith, David Ricardo), tân cổ điển (Alfred Marshall, Walras) đến các lý thuyết hiện đại (Michael Porter, Paul Krugman, Kresl, Ming Zhang).
- Xây dựng khung phân tích liên kết giữa 10 chỉ số thành phần PCI với các rào cản thể chế hành chính cụ thể ở cấp tỉnh, thiết lập hệ thống thang đo đánh giá nguyên nhân bên trong (nội tại) khiến các chỉ số PCI thành phần bị thấp điểm và suy giảm điểm số.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên cung cấp bức tranh toàn diện và có hệ thống về diễn biến chỉ số PCI của tỉnh Bắc Giang xuyên suốt 12 năm (2006–2017).
- Đã chỉ rõ và chứng minh bằng dữ liệu thực nghiệm 5 chỉ số thành phần thường xuyên thấp điểm (Gia nhập thị trường, Tiếp cận đất đai, Tính minh bạch, Thiết chế pháp lý, Cạnh tranh bình đẳng) và 3 chỉ số thành phần có xu hướng giảm điểm (Đào tạo lao động, Chi phí không chính thức, Tính năng động của chính quyền).
- Luận chứng khoa học hệ thống nguyên nhân gốc rễ thông qua việc kết hợp ý kiến khảo sát của hai chủ thể: nhà quản lý và doanh nhân; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và lộ trình thực thi đến năm 2025 có tính ứng dụng trực tiếp cho UBND tỉnh Bắc Giang và làm tài liệu tham khảo cho các tỉnh thuộc vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.
Kiến nghị đề xuất từ luận án
- Đối với Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương: Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát; hoàn thiện thể chế đất đai và kinh doanh; chuẩn hóa quy trình thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp nhằm giảm thiểu sự trùng lặp.
- Đối với VCCI: Tiếp tục hoàn thiện phương pháp luận điều tra PCI, bổ sung các tiêu chí đánh giá sâu hơn về mức độ chuyển đổi số và phát triển bền vững ở địa phương.
- Đối với Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Bắc Giang: Ban hành Nghị quyết chuyên đề về cải thiện PCI; định kỳ tổ chức hội nghị đối thoại doanh nghiệp thực chất; triển khai bộ chỉ số DDCI để đánh giá năng lực cạnh tranh của các sở, ban, ngành và UBND cấp huyện; xử lý nghiêm cán bộ vi phạm kỷ luật đạo đức công vụ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Phạm vi đối tượng khảo sát sơ cấp: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào khối doanh nghiệp dân doanh (ngoài nhà nước) và đội ngũ cán bộ công chức tỉnh Bắc Giang, chưa mở rộng điều tra sâu trên nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) – một khu vực đang tăng trưởng mạnh tại Bắc Giang.
- Giới hạn chuỗi dữ liệu: Dữ liệu điều tra sơ cấp phục vụ kiểm định nhân tố chỉ được thu thập tại thời điểm năm 2017; số liệu thứ cấp kết thúc ở năm 2017 theo tiến độ thực hiện luận án, do đó chưa phản ánh được các biến động chính sách và điều hành kinh tế giai đoạn sau năm 2018.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi điều tra đối với khối doanh nghiệp FDI nhằm so sánh sự khác biệt trong cảm nhận môi trường kinh doanh giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.
- Ứng dụng mô hình chuỗi thời gian (time-series) hoặc dữ liệu bảng (panel data) cho các khảo sát định lượng sơ cấp nhiều năm liên tiếp nhằm theo dõi mức độ chuyển biến của các chỉ số sau khi áp dụng các nhóm giải pháp cải cách.
- Nghiên cứu so sánh không gian đa chiều giữa Bắc Giang với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và tiểu vùng Đông Bắc.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực Quản lý kinh tế:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận tổng quan lý thuyết năng lực cạnh tranh, quy trình thiết kế công cụ điều tra xã hội học và kỹ thuật ứng dụng kiểm định Cronbach’s Alpha trong việc phân tích các chỉ số quản trị công và môi trường kinh doanh.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước tại Bắc Giang: Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn trực tiếp giúp UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư xây dựng các kế hoạch hành động cải thiện PCI hàng năm, thiết kế các chương trình đồng hành cùng doanh nghiệp và hoàn thiện cơ chế một cửa liên thông.
- Đối với các tỉnh, thành phố khác trong khu vực: Là bài học kinh nghiệm điển hình trong việc nhận diện điểm nghẽn hành chính và giải quyết căn nguyên của tình trạng tụt hạng năng lực cạnh tranh cấp địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định những chỉ số thành phần PCI nào của tỉnh Bắc Giang bị thấp điểm và giảm điểm trong giai đoạn 2006–2017?
Theo kết quả phân tích trong luận án, các chỉ số thành phần được phân thành hai nhóm:
- Nhóm chỉ số thấp điểm (thường xuyên thấp hơn điểm trung vị cả nước): Gia nhập thị trường, Tiếp cận đất đai, Tính minh bạch, Thiết chế pháp lý, Cạnh tranh bình đẳng.
- Nhóm chỉ số giảm điểm (có xu hướng suy giảm rõ rệt qua thời gian): Đào tạo lao động, Chi phí không chính thức, Tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh.
2. Luận án đã tham khảo bài học kinh nghiệm nâng cao PCI từ những địa phương nào và nội dung cụ thể là gì?
Luận án nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn từ 3 địa phương lân cận:
- Tỉnh Bắc Ninh: Mô hình đối thoại "Bác sĩ doanh nghiệp" trực tiếp "bắt bệnh" và tháo gỡ vướng mắc cho các nhà đầu tư.
- Tỉnh Quảng Ninh: Mô hình cải cách thủ tục đầu tư tập trung qua Ban Xúc tiến và Hỗ trợ Đầu tư (IPA) và triển khai Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành, địa phương (DDCI).
- Tỉnh Thái Nguyên: Thành lập Tổ công tác liên ngành chuyên trách tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ dự án.
3. Phương pháp định lượng nào được sử dụng để kiểm định các nguyên nhân ảnh hưởng đến chỉ số PCI của Bắc Giang?
Luận án sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi đối với cán bộ quản lý nhà nước và lãnh đạo doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn 9 huyện và 1 thành phố của tỉnh Bắc Giang năm 2017. Dữ liệu sau đó được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả và kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha nhằm xác định các yếu tố nguyên nhân thực sự tác động đến điểm số của từng chỉ số thành phần PCI.
4. Giai đoạn 2006–2017, thứ hạng và điểm số PCI của tỉnh Bắc Giang biến động như thế nào?
Năm 2006 (năm đầu tiên tham gia đánh giá), Bắc Giang đạt 55,89 điểm, xếp thứ 16/63 tỉnh thành (thuộc nhóm "Khá"). Trong các năm tiếp theo, thứ hạng của tỉnh biến động bất ổn định: có 2 năm rơi vào nhóm "Tương đối thấp" (năm 2008 và 2013). Đến năm 2017, tỉnh xếp thứ 33/63 tỉnh, thành phố và chỉ đạt mức xếp loại "Trung bình".
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để nâng cao chỉ số PCI tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018–2025?
Luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp chính:
- Nhóm giải pháp dành riêng cho các chỉ số thành phần thấp điểm (đơn giản hóa thủ tục gia nhập thị trường, công khai quy hoạch đất đai, tăng cường minh bạch hóa thông tin, củng cố thiết chế pháp lý).
- Nhóm giải pháp cho các chỉ số thành phần bị giảm điểm (kiểm soát và xóa bỏ nạn chi phí không chính thức, áp dụng cơ chế đánh giá DDCI để nâng cao tính năng động của bộ máy cơ sở, đổi mới đào tạo nghề theo nhu cầu doanh nghiệp).
- Nhóm giải pháp nâng cao năng lực tài chính và quản trị nhân lực cho bản thân các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Thanh Xuân là một công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về thực trạng và giải pháp nâng cao Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa tổng quan lý thuyết kinh tế học cạnh tranh với phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (khảo sát thực chứng và kiểm định Cronbach’s Alpha), luận án đã bóc tách rõ nét các nguyên nhân nội tại khiến các chỉ số thành phần PCI của tỉnh bị thấp điểm và suy giảm trong suốt giai đoạn 2006–2017. Hệ thống giải pháp đồng bộ và có trọng tâm cho giai đoạn 2018–2025 được đề xuất trong luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác chỉ đạo điều hành kinh tế của chính quyền tỉnh Bắc Giang cũng như phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy về quản lý kinh tế địa phương.