Chương 1: Đặc điểm địa lý tự nhiên, địa chất khu vực nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Đặc điểm khoáng vật - ngọc học, nguồn gốc và điều kiện thành tạo của peridot khu vực nghiên cứu Kết luận Tài liệu tham khảo 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, ĐỊA CHẤT KHU VỰC NGHIÊNCỨU 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên Vùng Tây Nguyên, một thời gọi là Cao nguyên Trung phần Việt Nam là khu vực cao nguyên bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng với diện tích tự nhiên là 54.474 km2 chiếm 16,8% diện tích tự nhiên cả nước. Tây Nguyên là một tiểu vùng, cùng với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hợp thành vùng Nam Trung Bộ, thuộc Trung Bộ Việt Nam. Vị trí địa lý vùng Tây Nguyên (http://www.com/toa-dam-truc-tuyen-tay-nguyen-voi-xoa-doi-giam- ngheo/1888/) 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đặc điểm địa hình Vùng Tây Nguyên nằm về phía Tây của dãy Trường Sơn, bề mặt địa hình dốc thoải dần từ Đông sang Tây, đón gió Tây nhưng ngăn chặn gió Đông Nam thổi vào. Địa hình chia cắt phức tạp có tính phân bậc rõ ràng, bao gồm: Địa hình cao nguyên là địa hình đặc trưng nhất của vùng, tạo lên bề mặt của vùng. Dạng địa hình này thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp với qui mô lớn. Địa hình vùng núi.
Địa hình thung lũng chiếm diện tích không lớn; chủ yếu phát triển cây lương thực, thực phẩm và nuôi cá nước ngọt. Khí hậu Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, khí hậu ở Tây Nguyên chịu ảnh hưởng của khí hậu cận xích đạo; nhiệt độ trung bình năm khoảng 20 0C điều hoà quanh năm biên độ nhiệt ngày và đêm chênh lệch cao trên 5,5 0C. Khí hậu được chia làm hai mùa: mùa mưa nóng ẩm, tập trung 85 - 90% lượng mưa của cả năm từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô nóng hạn, thiếu nước trầm trọng từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất. Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400 - 500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m (như Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm, đặc điểm của khí hậu núi cao.
Thủy văn Tây Nguyên có một mạng lưới sông suối khá dày, nhiều ghềnh thác; có 4 hệ thống sông chính gồm hệ thống sông Pô Kô - Sê San (Kon Tum); hệ thống sông Ba- Ayun (Gia Lai); hệ thống sông Sêrêpốk (Đắk Lắk) và hệ thống sông Đồng Nai (Đắk Nông và Lâm Đồng) có trữ lượng thủy năng rất lớn, chiếm trên 22% nguồn thủy năng của cả nước, có thể sản xuất 15 tỷ Kwh điện mỗi năm. Tổng lưu lượng nước mặt là 50 tỷ mét khối. Chế độ dòng chảy chịu tác động của khí hậu. Nguồn nước ngầm tương đối lớn nhưng nằm sâu, giếng khoan trên 100 mét.
Trước đây đã xây 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dựng các nhà máy thủy điện Đa Nhim (160.000 kW) trên sông Đa Nhim (thượng nguồn sông Đồng Nai), Đray H'inh (12.000 kW) trên sông Serepôk. Mới đây, công trình thủy điện Yaly (700.000 kW) đưa điện lên lưới từ năm 2000 và đang có dự kiến xây dựng các công trình thủy điện khác như Bon Ron - Đại Ninh, Plây Krông. Đặc điểm địa chất 1. Địa tầng Tham gia vào cấu trúc địa chất của vùng nghiên cứu có các thành tạo tuổi từ tiền Cambri đến Kainozoi (Hình 1.
Sơ đồ địa chất vùng Tây Nguyên, tỷ lệ 1/2. Các đá biến chất Arkei – Proterozoi Các thành tạo biến chất trong vùng Tây Nguyên phân bố rộng rãi ở trung tâm địa khối Kon Tum và ven rìa của khối này trải qua nhiều pha biến chất và mức độ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com biến chất khác nhau; bao gồm các đá của phức hệ Kan Nack, phức hệ Ngọc Linh, phức hệ Khâm Đức-Núi Vú : Phức hệ Kan Nack (NA - PP kn) [Nguyễn Xuân Bao, Trần Tất Thắng, 1979]: Thành phần của phức hệ bao gồm: ₋ Granulit mafic Kon Cot: bao gồm granulit mafic hai pyroxene, gneiss biotit- silimalit-granat-cordierit (leptynit). ₋ Leptynit Xa Lam Cô: thuộc loại metapelit (biến chất ở tướng granulit). Thành phần chủ yếu là đá phiến thạch anh-biotit-granat-silimalit-graphit, gneiss bioti-granat-silimalit xen thấu kính hay lớp mỏng amphibolite có tàn dư pyroxen, các tập mỏng quazit giàu grafit.
₋ Granulit vôi Đăk Lô: thực chất là đá hoa chứa diopsid và wollastonit, gặp trên một diện tích rất nhỏ ở thể thấu kính tại thượng nguồn Sông Ba (xã K’roong) trong diện lộ của leptynit Xa Lam Cô. Đá sáng màu, hạt lớn, có thể nhìn rõ những hạt diopsid và olivin bên cạnh calcite và wollastonit. Phức hệ Ngọc Linh (MP nl) [Nguyễn Xuân Bao, Trần Tất Thắng, 1979] Các đá của phức hệ lộ ra ở thượng nguồn sông Đăk Mi, Đông và Đông Bắc tỉnh Kon Tum, thượng nguồn Sông Re và vùng A Yun Pa. Thành phần thạch học bao gồm: Đá phiến kết tinh Đăk Mi, Gneiss amphibol Sông Re, Gneis biotit Ba Điền, Amphibolit Ia Ban, Granulit Đèo Măng Rơi.
Tuổi thành tạo: dựa vào tuổi đồng vị của gneiss amphibol Sông Re, thường dao động từ 230-2541 Tr.n, phức hệ Ngọc Linh được để ở mức tuổi Mesoproterozoi. Phức hệ Khâm Đức - Núi Vú (NP3-ε1 kv) bao gồm các thành tạo biến chất từ tướng amphibolit đến tướng đá phiến lục thuộc hệ tầng Khâm Đức [Nguyễn Văn Trang, 1985] và hệ tầng Núi Vú [Koliada, 1991] trước đây. Phức hệ phân bố khá rộng, từ vùng bắc Ngọc Linh, Tắc Pỏ đến Khâm Đức, Núi Vú, tây Kon Tum. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phức hệ Khâm Đức gồm các nhóm đá: Amphibolit Khâm Đức, gneis amphibol Trà Dơn, gneis biotit Tiên An, đá phiến kết tinh giàu nhôm Hưng Nhượng, metacacbonat Thạnh Mỹ.
Phức hệ có quan hệ kiến tạo với phức hệ Ngọc Linh nằm dưới và bất chỉnh hợp với hệ tầng A Vương tuổi Cambri giữa-Ordovic sớm nằm trên, đồng thời bị granit của phức hệ Chu Lai xuyên cắt gây migmatit hóa mạnh mẽ. Tuổi Neoproterozoi muộn-Cambri sớm của phức hệ được xác định dựa vào sưu tập di tích vi cổ sinh trong đá hoa đolomit nêu trên và tuổi đồng vị của granit phức hệ Chu Lai. Đá trầm tích Paleozoi sớm - giữa Đá trầm tích Paleozoi sớm - giữa KVNC gặp trong hai hệ tầng Phong Hanh và Cư Brei phân bố ở phía đông bắc và trung tâm của vùng nghiên cứu. Hệ tầng Phong Hanh (-S? ph) [Nguyễn Xuân Bao và nnk] Trong vùng nghiên cứu, các đá của hệ tầng chỉ lộ ra một diện tích nhỏ ở khu vực núi Ông Miêu, gồm đá phiến sét đen, argilit, các lớp mỏng bazan porphyrit, đá phiến silic phân dải, chuyển lên trên là các lớp cát kết dạng quarzit, quarzit sericit.
Trong đá phiến silic và quarzit có các vi mạch thạch anh magnetit lấp đầy khe nứt. Hệ tầng Cƣ Brei (D1 cb) [Thân Đức Duyện, 2003] Hệ tầng lộ trên diện tích nhỏ ở rìa đông nam vùng núi Cư Brei, huyện Sa Thầy (Kon Tum), gồm cát, sạn kết, cát kết phân lớp dày màu xám, sét kết, bột kết, đá phiến talc, và đá vôi chứa di tích Tảo và Huệ biển, đá vôi dolomite xen những tập sét kết, bột két, đá phiến sericit. Các đá trầm tích - phun trào andesit Cacbon muộn - Permi Đá trầm tích - phun trào andesit Cacbon muộn - Permi gặp trong hệ tầng Đăk Lin. Hệ tầng Đăk Lin (C3-P1 dl) [Nguyễn Kinh quốc và nnk., 1982] Hệ tầng gồm đá phiến sét, bột kết, cát kết, silic, đá phun trào andesitobazan, andesit porphyry (5-15 m) và tuf của chúng, cuội kết, agglomerateandesit porphyry 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và tuf hạt mịn, ít đá silic, silic dạng ngọc bích xanh, sét kết, bột kết, sét vôi xen kẽ các lớp mỏng andesit porphyry, andesitobazan, dacit, ryodacit, đá vôi, sét vôi và ngọc bích đỏ.
Các đá trầm tích - phun trào andesit Permi muộn - Trias sớm Đá trầm tích - phun trào andesit Permi muộn - Trias sớm gặp trong hệ tầng Chư Prông. Hệ tầng Chƣ Prông (P3-T1 cp) [Nguyễn Kinh Quốc, 1988] Hệ tầng phân bố ở các vùng Plei Keng (Kon Tum), Chư Prông, Tiêu Teo, Chư Klin (Gia Lai), Chư Kết, Đăk Nao (Đăk Lăk) và một số nơi khác, gồm aglomerat, tuf andesit, tuf andesitodacit, cuội sạn kết, tuf ryolit, felsit porphyry, andesit, andesitobazan và tuf felsit, ryolit, ryodacit và tuf của chúng. Các đá trầm tích - phun trào Trias trung Các đá trầm tích - phun trào Trias trung gặp trong hệ tầng Mang Yang. Hệ tầng Mang Yang (T2a my) [Nguyễn Kinh Quốc, 1985] Hệ tầng gồm gồm cuội kết, tảng kết cơ sở xen ít lớp mỏng đá phiến sét-silic, porphyr thạch anh xen ít lớp kẹp sét kết xám, bột kết xám xen ít lớp kẹp sét vôi chứa vật chất than, chuyển lên cát kết, sỏi kết, cuội kết sét kết phân lớp dày, sỏi kết tuf, tuf ryolit, felsic, ryolit sét vôi phân lớp mỏng xám đen chứa vật chất hữu cơ,cát kết hạt mịn xám sáng.
Trầm tích Jura Trong vùng nghiên cứu, các thành tạo trầm tích Jura chiếm khối lượng lớn và phân bố rộng rãi thành các dải lớn từ phía tây và phía đông xuống trung tâm đến phía nam vùng, gồm có loạt Bản Đôn với các hệ tầng Đray Linh tuổi Jura sớm, La Ngà Jura giữa, mà dạng lục địa tương đương phát triển ở các vùng rìa bể là hệ tầng Ea Sup và thành tạo trầm tích - nguồn núi lửa hệ tầng Đèo Bảo Lộc tuổi Jura muộn. Hệ tầng Đray Linh (J1 dl) [Vũ Khúc và nnk., 1983] Hệ tầng gồm cuội kết cơ sở, sạn kết chứa cuội vàng nhạt, sạn kết thạch anh, cát kết xám sáng, dạng khối chuyển lên bột kết xám, phân lớp mỏng, bột kết vôi xám, thỉnh thoảng có lớp chứa nhiều kết hạch vôi và xen các lớp kẹp cát bột kết 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hệ tầng Đray Linh nằm không chỉnh hợp trên các trầm tích Paleozoi hay Trias hạ và trung. Về phía trên, hệ tầng nằm chỉnh hợp dưới các trầm tích Jura trung.
Dựa vào Cúc đá, hệ tầng được định tuổi là Jura sớm. Hệ tầng La Ngà (J2 ln) [Vũ Khúc và nnk., 1983] Hệ tầng gồm đá phiến sét xám đen, bột kết xám sẫm, bột kết dạng dải thanh, chuyển lên đá phiến sét xám đen, nhiều lớp chứa pyrite tinh thể kích thước từ 2-3 đến 6-8 mm, xen bột kết xám sẫm và cát kết xám hạt mịn, trên cùng là bột kết và đá phiến sét phân dải thanh rất đặc trưng, màu xám sáng, xám đến xám sẫm.