Luận văn thạc sĩ về đặc điểm kịch Nguyễn Huy Tưởng

Khám phá luận văn thạc sĩ về đặc điểm kịch của Nguyễn Huy Tưởng, phân tích sâu sắc và những đóng góp nổi bật trong văn học Việt Nam.

Chuyên ngành

Lí luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

115
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: HÀNH TRÌNH KỊCH NGUYỄN HUY TƯỞNG

1.1. Kịch Nguyễn Huy Tưởng trong sự phát triển của kịch nói Việt Nam

1.1.1. Những vở kịch trước cách mạng tháng 8/1945

1.1.2. Những vở kịch sau cách mạng tháng 8/1945

2. CHƯƠNG 2: ĐỀ TÀI, NHÂN VẬT VÀ CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG KỊCH NGUYỄN HUY TƯỞNG

2.1. Đề tài lịch sử - cách mạng

2.2. Hình tượng nhân vật trung tâm

2.3. Hình tượng nhân vật kẻ sĩ

2.4. Hình tượng nhân vật phản diện

2.5. Hình tượng những con người mới

2.6. Cảm hứng và khuynh hướng tư tưởng chủ đạo

3. CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT KỊCH NGUYỄN HUY TƯỞNG

3.1. Xung đột kịch

3.2. Xung đột dân tộc

3.3. Xung đột giữa khát vọng cá nhân và hiện thực xã hội

3.4. Ngôn ngữ kịch

3.4.1. Ngôn ngữ nhân vật

3.4.2. Ngôn ngữ tác giả

3.5. Không gian - thời gian nghệ thuật

3.5.1. Sự đan xen giữa không gian gia đình và không gian xã hội

3.5.2. Thời gian đồng hiện giữa hiện tại và quá khứ

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về đặc điểm nghệ thuật kịch Nguyễn Huy Tưởng

Kịch Nguyễn Huy Tưởng là một trong những thể loại nghệ thuật nổi bật trong văn học Việt Nam hiện đại. Tác phẩm của ông không chỉ phản ánh sâu sắc những vấn đề xã hội mà còn thể hiện những giá trị nhân văn cao cả. Kịch của Nguyễn Huy Tưởng thường mang tính sử thi, thể hiện những xung đột giữa cá nhân và xã hội, giữa khát vọng và hiện thực. Đặc điểm này đã tạo nên sức hấp dẫn và giá trị nghệ thuật cho các tác phẩm của ông.

1.1. Đặc điểm nội dung trong kịch Nguyễn Huy Tưởng

Nội dung kịch của Nguyễn Huy Tưởng thường xoay quanh các đề tài lịch sử và cách mạng. Ông khéo léo lồng ghép những vấn đề xã hội vào trong từng vở kịch, từ đó tạo ra những xung đột kịch tính giữa các nhân vật. Những tác phẩm như 'Vũ Như Tô' hay 'Bắc Sơn' không chỉ đơn thuần là những câu chuyện mà còn là những bài học về nhân cách và trách nhiệm của con người trong xã hội.

1.2. Tính nhân văn trong kịch Nguyễn Huy Tưởng

Tính nhân văn là một trong những giá trị cốt lõi trong kịch Nguyễn Huy Tưởng. Ông thường xây dựng hình tượng nhân vật với những khát vọng lớn lao, thể hiện sự đấu tranh không ngừng nghỉ của con người trước những thử thách của cuộc sống. Điều này không chỉ tạo ra sự đồng cảm từ phía khán giả mà còn khơi dậy những suy tư về số phận con người trong xã hội.

II. Những thách thức trong việc phân tích kịch Nguyễn Huy Tưởng

Việc phân tích kịch Nguyễn Huy Tưởng gặp nhiều thách thức do sự phong phú và đa dạng trong nội dung và hình thức. Các tác phẩm của ông thường chứa đựng nhiều lớp nghĩa, yêu cầu người nghiên cứu phải có cái nhìn sâu sắc và toàn diện. Hơn nữa, sự phát triển của xã hội và văn hóa cũng ảnh hưởng đến cách tiếp cận và hiểu biết về các tác phẩm này.

2.1. Khó khăn trong việc tiếp cận nội dung kịch

Nội dung kịch Nguyễn Huy Tưởng thường mang tính chất lịch sử, đòi hỏi người phân tích phải có kiến thức vững về bối cảnh lịch sử và văn hóa Việt Nam. Điều này có thể gây khó khăn cho những người mới bắt đầu tìm hiểu về kịch của ông.

2.2. Sự đa dạng trong hình thức nghệ thuật

Kịch Nguyễn Huy Tưởng không chỉ đơn thuần là những lời thoại mà còn bao gồm cả ngôn ngữ hình thể, âm nhạc và không gian sân khấu. Sự đa dạng này tạo ra những thách thức trong việc phân tích và đánh giá giá trị nghệ thuật của các tác phẩm.

III. Phương pháp phân tích kịch Nguyễn Huy Tưởng hiệu quả

Để phân tích kịch Nguyễn Huy Tưởng một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu đa dạng. Việc kết hợp giữa phương pháp thực chứng và phương pháp thi pháp học sẽ giúp người nghiên cứu có cái nhìn sâu sắc hơn về các tác phẩm. Ngoài ra, việc tham khảo các tài liệu nghiên cứu trước đó cũng là một yếu tố quan trọng.

3.1. Phương pháp thực chứng trong nghiên cứu kịch

Phương pháp thực chứng giúp người nghiên cứu tiếp cận các tác phẩm một cách khách quan, từ đó đưa ra những nhận định chính xác về nội dung và hình thức nghệ thuật. Việc phân tích các yếu tố lịch sử, xã hội trong tác phẩm sẽ giúp làm rõ hơn giá trị nghệ thuật của kịch Nguyễn Huy Tưởng.

3.2. Phương pháp thi pháp học trong phân tích kịch

Phương pháp thi pháp học tập trung vào việc phân tích cấu trúc, ngôn ngữ và hình thức nghệ thuật trong kịch. Điều này giúp người nghiên cứu nhận diện được những đặc điểm nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Huy Tưởng, từ đó làm nổi bật giá trị nghệ thuật của các tác phẩm.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ kịch Nguyễn Huy Tưởng trong đời sống

Kịch Nguyễn Huy Tưởng không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong đời sống xã hội. Các tác phẩm của ông thường phản ánh những vấn đề nóng bỏng của xã hội, từ đó tạo ra những cuộc thảo luận sôi nổi trong cộng đồng. Việc đưa các tác phẩm này vào giảng dạy trong trường học cũng là một cách để truyền tải những giá trị nhân văn đến thế hệ trẻ.

4.1. Giá trị giáo dục từ kịch Nguyễn Huy Tưởng

Các tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng thường chứa đựng những bài học quý giá về nhân cách, trách nhiệm và tình yêu quê hương. Việc đưa kịch của ông vào chương trình giảng dạy sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóa và lịch sử dân tộc.

4.2. Tác động xã hội từ kịch Nguyễn Huy Tưởng

Kịch Nguyễn Huy Tưởng đã tạo ra những tác động tích cực đến xã hội, khơi dậy tinh thần yêu nước và ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân. Các vở kịch của ông thường được dàn dựng trong các sự kiện văn hóa, tạo ra không khí sôi nổi và gắn kết cộng đồng.

V. Kết luận về giá trị nghệ thuật kịch Nguyễn Huy Tưởng

Kịch Nguyễn Huy Tưởng là một phần không thể thiếu trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Những đặc điểm nghệ thuật độc đáo, cùng với giá trị nhân văn sâu sắc đã tạo nên sức hấp dẫn cho các tác phẩm của ông. Việc nghiên cứu và tìm hiểu về kịch Nguyễn Huy Tưởng không chỉ giúp làm rõ hơn giá trị nghệ thuật mà còn góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc.

5.1. Tương lai của nghiên cứu kịch Nguyễn Huy Tưởng

Nghiên cứu kịch Nguyễn Huy Tưởng vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển. Các nhà nghiên cứu trẻ có thể tiếp tục khai thác những khía cạnh mới mẻ trong tác phẩm của ông, từ đó làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu mới

Cần có những nghiên cứu sâu hơn về các tác phẩm kịch của Nguyễn Huy Tưởng, đặc biệt là trong bối cảnh hiện đại. Việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu mới sẽ giúp làm sáng tỏ hơn những giá trị nghệ thuật và xã hội trong kịch của ông.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đặc điểm kịch nguyễn huy tưởng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. HÀNH TRÌNH KỊCH NGUYỄN HUY TƯỞNG 1. Kịch Nguyễn Huy Tưởng trong sự phát triển của kịch nói Việt Nam Đầu thế kỉ XX, cùng với những biến chuyển tích cực trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, đời sống văn hóa nƣớc nhà cũng có những khởi sắc và đạt nhiều thành tựu rực rỡ. Sau nhiều thế kỉ chịu ảnh hƣởng và tác động của văn hóa Trung Hoa, trí thức Việt Nam trong đó có các văn nghệ sĩ đã từng bƣớc thoát ra khỏi những ảnh hƣởng cố hữu của văn hóa vùng để tiếp nhận những luồng tƣ tƣởng văn minh phƣơng Tây.

Sự xâm lƣợc của thực dân Pháp với chiêu bài khai hóa văn minh cho xứ thuộc địa đã làm nảy sinh nhiều nhân tố mới: một số nhà trƣờng Pháp -Việt đƣợc mở ra, đào tạo đƣợc nhiều nhân tài mang trong mình cả hai nền văn hóa Đông -Tây; báo chí, nhà in hình thành; văn chƣơng trở thành một nghề kiếm sống. Nếp nghĩ về con ngƣời, thời cuộc của văn nghệ sĩ cũng có những thay đổi, nhiều quan niệm nhân sinh mới mẻ xuất hiện làm nên cuộc cách mạng trong văn chƣơng. Quá trình giao lƣu văn hóa Đông -Tây trên đất nƣớc Việt Nam tạo ra một bƣớc ngoặt lớn trên mọi mặt. Xét trên bình diện đời sống văn học, cuộc tiếp biến giữa văn học truyền thống với văn học phƣơng Tây (đặc biệt là Pháp) đã thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình hiện đại hóa văn học nƣớc nhà.

Chữ quốc ngữ đã thay thế cho chữ Hán, chữ Nôm, tầng lớp tri thức Tây học thay cho tầng lớp Nho sĩ, nhiều thể loại mới ra đời nhƣ: tiểu thuyết tâm lí, phóng sự, thơ mới, lí luận phê bình, kịch… Với những cách tân táo bạo về hình thức biểu hiện và nội dung phản ánh, các văn sĩ hiện đại đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh thiêng liêng cao cả trong cuộc chuyển giao thời đại. Trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc, việc một số thể loại mới ra đời đáp ứng đƣợc nhu cầu của công chúng là biểu hiện của sự phát triển. Những năm đầu thế kỉ XX, văn học Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ, tăng tốc cả về số lƣợng, chất lƣợng các tác giả, tác phẩm với các cây bút tài năng nhƣ: Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Ngô Tất Tố, Nguyễn LUAN VAN CHAT LUONG download- 9 :- add luanvanchat@agmail.com Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng…mà ngày nay tên tuổi của họ với những tác phẩm vƣợt thời gian vẫn đƣợc bạn đọc nhắc đến với niềm kính trọng, khâm phục. Nhắc đến sự phát triển của văn học giai đoạn 1930 - 1945, Vũ Ngọc Phan trầm trồ, thán phục: “Một năm có thể kể như ba mươi năm của người”[45; 50].

Một trong những thể loại ra đời vào những năm đầu thế kỉ XX là loại hình kịch nói, một thể loại xung kích, gặt hái đƣợc nhiều thành công, tác động trực tiếp đến ngƣời đọc, ngƣời xem, mang lại những hiệu quả thẩm mĩ tích cực. Trƣớc khi xuất hiện ở Việt Nam, kịch nói có lịch sử phát triển khá lâu đời. Ngay từ thời cổ đại, ở HiLạp - La Mã, Ai Cập, các sân khấu kịch, các nhà hát đóng vai trò trung tâm trong đời sống sinh hoạt văn hóa, thu hút đƣợc số lƣợng lớn các tầng lớp xã hội quan tâm, thƣởng thức. Những vở kịch của Xôphôclơ, Esin, Ơripit, Pie Coocnây, Raxin, Môlie, U.Sêchxpia…đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho kịch thế giới.

Từ cái nôi sản sinh và phát triển, theo không gian và thời gian, những tác phẩm kịch kinh điển đƣợc dịch và trình diễn trên sân khấu nhiều nƣớc trong khu vực và thế giới. Ở Việt Nam, hình thức sấn khấu dân gian tuồng, chèo hình thành từ rất sớm, tồn tại và lƣu truyền trong dân gian. Những gánh tuồng từ Bình Định đến các tích chèo sân đình ở đồng bằng Bắc Bộ đã phản ánh một cách sinh động những vấn đề của xã hội nhƣ: cuộc đấu tranh giữa thiện - ác , lên án áp bức bất công, phản ánh tâm tƣ, tình cảm của nhân dân. Loại hình sân khấu này phù hợp với cƣ dân nông nghiệp lúa nƣớc, đáp ứng nhu cầu nghe, nhìn, thƣởng thức trực diện của tầng lớp bình dân.

Có nhiều ý kiến cho rằng kịch nói có nguồn gốc từ tuồng chèo, vì tuồng chèo có yếu tố thoại, yếu tố nói kẻ. Dựa vào yếu tố thoại trong vở tuồng Nghêu sò ốc hến, nhà nghiên cứu Hoàng Châu Ký nhận định: “ Tuồng đồ là kịch nói sử dụng một số làn điệu tuồng” [29; 40], còn tác giả của công trình Những vấn đề lịch sử văn học kịch Việt Nam lại khẳng định: “Kịch nói Việt Nam có nguồn gốc từ phương Tây, ảnh hưởng phương Tây không những không làm giảm phẩm chất và tổn thương danh giá của nó mà còn trả lại tính khách quan lịch sử cho nó, khẳng định lại quy luật về sự ảnh hưởng của văn hóa, văn học giữa các khu vực LUAN VAN CHAT LUONG download - 10:- add luanvanchat@agmail.com như một hiện tượng phổ biến trong văn học thế giới” [29; 42], “sự ra đời của kịch nói vào những năm đầu thế kỉ là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa, của sự ảnh hưởng có lúc cưỡng bức, có lúc tự giác của văn hóa phương Tây, trực tiếp là văn hóa Pháp đối với văn hóa Việt Nam …sự ra đời của kịch nói ở đô thị là kết quả của một tác động lịch sử và văn hóa từ bên ngoài vào chứ chưa phải là kết quả của một quá trình phát triển nội tại, nảy sinh trong những điều kiện lịch sử, kinh tế và văn hóa nội tại” [29; 62]. Có thể nói nhìn ở góc độ đồng đại và lịch đại, nguồn gốc của kịch nói Việt Nam có sự kết hợp hài hòa của yếu tố truyền thống và hiện đại. Sức sống nội sinh của các loại hình sân khấu dân gian tạo nền tảng, động lực để để cơn gió của quá trình giao lƣu, hội nhập kích thích, hình thành.

Kịch là sản phẩm của quá trình giao lƣu văn hóa Đông - Tây mà dấu ấn hiện đại chi phối rõ nét. Sự xuất hiện của kịch nói là “sự khởi đầu một thời đại mới trong văn học thành văn của dân tộc”[44; 502], “là một thể loại mới nhất của ta” [45; 220]. Với tƣ cách là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, kịch vừa là một thể loại văn học vừa là loại hình nghệ thuật biểu diễn sân khấu: “Kịch không những là một nghệ thuật tổng hợp mà đúng hơn, một giao hưởng những nghệ thuật”[6; 27], nhƣng để có một vở diễn trên sân khấu, yếu tố đầu tiên là phải có kịch bản, kịch bản có vai trò quan trọng, then chốt quyết định đến thành công của sân khấu trình diễn. Những năm 20 của thế kỉ XX, trên Đông Dương tạp chí, An Nam tạp chí ngƣời đọc thấy xuất hiện các vở hài kịch, bi kịch của nƣớc ngoài nhƣ: Người bệnh tưởng, Trưởng giả học làm sang, Người biển lận, Lôi xích, Hòa Lạc, Chàng ngốc hóa khôn vô tình… đƣợc các dịch giả Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh biên soạn, giới thiệu, đem đến cho bạn đọc món ăn tinh thần mới, đồng thời kích thích, mở ra hƣớng đi mới cho các kịch gia nƣớc nhà khám phá, thể hiện.

Cũng trong thời gian này, chính quyền thực dân bảo hộ cho xây dựng các nhà hát ở Hà Nội, Hải Phòng phục vụ nhu cầu thƣởng thức văn hóa của tầng lớp trí thức, thị dân. Các hội Khai trí Tiến Đức, Hội Uẩn Hoa đã lần lƣợt cho công diễn những vở kịch mô phỏng kịch Tây, mang lại không khí mới cho đời sống LUAN VAN CHAT LUONG download - 11:- add luanvanchat@agmail.com văn hóa, văn học nƣớc nhà. Và cũng từ những tối đi xem kịch đó, những trí thức nặng lòng với quê hƣơng đất nƣớc đã ý thức về trách nhiệm của mình với non sông, nhiều ngƣời trong số họ tự hỏi: tại sao ngƣời nƣớc mình lại đi diễn kịch Tây? mặc những bộ quần áo của mấy kỉ trƣớc cho ngƣời mình xem?. Để trả lời cho câu hỏi đó, những vở kịch của Trần Tuấn Khải, Nguyễn Ngọc Sơn, Đoàn Ân, Đoàn Phú Tứ, Vi Huyền Đắc, Nam Xƣơng…đã khơi dòng cho kịch nói Việt Nam từng bƣớc hòa vào biển lớn của kịch thế giới.

Ngƣời đƣợc coi là đã khai sinh cho kịch Việt Nam là Vũ Đình Long với vở Chén thuốc độc, in trên báo Hữu Thanh (Tản Đà làm chủ bút) số 4 - 5 tháng 9/1921. Sau đêm công diễn trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội ngày 22/10/1921, các báo chí xuất bản bằng chữ Quốc ngữ nhƣ: Thực nghiệp dân báo, Hữu Thanh, Nam Phong. đã liên tiếp dăng tải các bài phê bình gây xôn xao dƣ luận. Ông Nguyễn Mạnh Bổng khi giới thiệu vở Chén thuốc độc đã coi “ngày 22 octobre 1921 là một ngày kỉ niệm lớn trong văn học sử nước ta…lối văn kịch trong văn học sử nước ta có lẽ sẽ kể từ bản kịch Chén thuốc độc của ông Vũ Đình Long”[29; 61].

Tản Đà trên báo Hữu Thanh số 3/1921 cũng viết: “Vở kịch của ông Vũ Đình Long in ra đây so với văn giới các nước thời chưa biết ra làm sao, so với quốc văn sau này cũng chưa dám biết ra làm sao. Nhưng cứ trong áng văn chương hiện thời của ta nay thời vở kịch của ông tưởng cũng đáng là có giá trị”. Vở kịch của Vũ Đình Long với tính chất phê phán những thói hƣ tật xấu trong xã hội đã đặt viên gạch đầu tiên cho quá trình dựng xây nền kịch nói nƣớc nhà. Sau Vũ Đình Long, các vở kịch của Vi Huyền Đắc (Uyên ương; Hoàng Mộng Điệp.), Lê Công Đắc (Tiểu thư đi bộ), Nguyễn Hữu Kim (Bạn và vợ), Trần Đại Thụ (Dây oan nghiệt), Nam Xƣơng (Ông Tây An Nam), Vũ Trọng Can, Khái Hƣng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Nhƣợc Pháp, Huy Thông, Vũ Hoàng Chƣơng, Lƣu Quang Thuận, Thế Lữ…đã tạo ra diện mạo mới cho sự phát triển của loại hình kịch.

Mặc dù còn một số hạn chế trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, cách bài trí, sắp xếp phân cảnh chƣa thật hợp lí, nhƣng những đóa hoa đầu mùa của kịch đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt khi nó đƣợc gieo mầm ở mảnh đất màu mỡ, giàu truyền LUAN VAN CHAT LUONG download - 12:- add luanvanchat@agmail. Là loại hình sinh sau đẻ muộn, kịch Việt Nam đã có những bƣớc tiến đáng kể, từ chỗ phải lệ thuộc, mô phỏng vào kịch Pháp đến đổi mới, sáng tạo, thuần Việt trong hành động, ngôn ngữ, suy nghĩ của nhân vật là những nỗ lực không ngừng của những kịch gia nặng tình với văn hóa, văn học dân tộc, trong đó có nhà viết kịch tài ba Nguyễn Huy Tƣởng. Những vở kịch trước cách mạng tháng tám năm 1945.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ