Tổng quan luận án

Đề tài "Đặc điểm tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975)" do nghiên cứu sinh Bùi Tiến Sỹ thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Phong Nam và TS Hà Ngọc Hòa, hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế (tháng 12 năm 2016). Luận án thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, tiếp cận theo hướng định tính chuyên sâu về lịch sử văn học và thi pháp thể loại.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại, tùy bút giữ một vị trí quan trọng, góp phần định hình diện mạo đa dạng của nền văn học dân tộc và khẳng định phong cách nghệ thuật của nhiều tác gia tiêu biểu. Mặc dù văn học miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 là một bộ phận của lịch sử văn học Việt Nam với di sản phong phú về thể loại, số lượng đồ sộ và nội dung phức tạp, mảng tùy bút ở khu vực đô thị thời kỳ này vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống. Do những biến động lịch sử, sự thất tán tư liệu và các rào cản trong nhận thức, nhiều tác phẩm tùy bút có giá trị vẫn còn xa lạ với công chúng đương đại, thậm chí từng bị nhìn nhận một chiều. Việc khảo sát tùy bút đô thị miền Nam không chỉ giúp nhận thức đầy đủ đặc trưng của một thể loại mà còn làm sáng tỏ quy luật vận động của đời sống văn học miền Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định hai mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Về phương diện lý thuyết: Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của tùy bút ở đô thị miền Nam để tìm ra đặc điểm và quy luật vận động của thể loại này trong mối quan hệ tương tác với các thể loại văn học khác. Từ đó, đưa ra cái nhìn khách quan, khoa học về một thể loại văn học từng bị hiểu nhầm hoặc chưa được biết đến đầy đủ, góp phần giải quyết các vướng mắc trong cách tiếp cận văn học miền Nam giai đoạn 1954 – 1975.
  2. Về phương diện thực tiễn: Cung cấp kết quả nghiên cứu ứng dụng vào công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập về văn học đô thị miền Nam nói chung và tùy bút giai đoạn 1954 – 1975 nói riêng; tạo lập cách nhìn nhận cởi mở, đối thoại tư tưởng đa chiều trong mối quan hệ giữa văn chương và hiện thực đời sống.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các tác giả và tác phẩm tùy bút tiêu biểu được sáng tác, xuất bản tại khu vực đô thị miền Nam Việt Nam. Văn bản khảo sát tập trung vào các tác giả chủ chốt: Vũ Bằng (Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam, Thương nhớ mười hai), Bình Nguyên Lộc (Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc), Sơn Nam (Nói về miền Nam, Cá tính miền Nam và Thuần phong mỹ tục Việt Nam, Gốc cây, cục đá và ngôi sao), Nguyễn Xuân Hoàng (Ý nghĩ trên cỏ), Võ Phiến / Tràng Thiên (Quê hương tôi, Tạp văn Tràng Thiên, Thư nhà, Ảo ảnh, Phù thế, Chúng ta, qua cách viết, Đất nước quê hương), Mai Thảo (Căn nhà vùng nước mặn, Tùy bút), Nguyễn Ngọc Lan (Chứng từ năm năm, Đường hay pháo đài, Cho cây rừng xanh lá, Nước ta còn đó), Thanh Tâm Tuyền (Tạp ghi). Nguồn tư liệu bổ sung gồm các bài viết trên các tạp chí xuất bản tại Sài Gòn trước 1975 (Văn, Sáng Tạo, Đối Diện, Bách Khoa, Khởi Hành, Trình Bầy...).
  • Phạm vi thời gian: Các tác phẩm được sáng tác và công bố từ năm 1954 đến năm 1975.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào các đô thị lớn ở miền Nam Việt Nam, chủ yếu là Sài Gòn, Huế và một số thành phố khác.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích lịch sử nghiên cứu tùy bút đô thị miền Nam qua ba không gian học thuật:

                  LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC & TÙY BÚT ĐÔ THỊ MIỀN NAM (1954 - 1975)
    Tại Miền Nam (1954-1975)                  Tại Miền Bắc                              Ở Hải Ngoại
• Giới thiệu, điểm sách báo chí           • 1954-1985: Phê phán chính trị           • Khôi phục, ghi chép tư liệu
• Công trình nhận định văn học:            (Nguyễn Đức Đàn, Thạch Phương,            (Võ Phiến, Nguyễn Vy Khanh)
  Nguyễn Ngu Í, Tạ Tỵ, Cao Huy Khanh,       Lê Đình Kỵ, Trần Trọng Đăng Đàn)       • Chuyên luận chân dung:
  Huỳnh Phan Anh, Thanh Lãng,              • Sau 1986: Khách quan hóa khoa học       Nguyễn Hưng Quốc (về Võ Phiến),
  Nguyễn Văn Trung, Doãn Quốc Sỹ...         (Nguyễn Phúc, Trần Hoài Anh,              Thụy Khuê (tổng quan)
                                             Nguyễn Thị Thu Trang, Trần Văn Minh)

1. Nghiên cứu tại miền Nam (1954 – 1975)

Trước năm 1975, văn học đô thị miền Nam được giới thiệu chủ yếu qua các bài điểm sách, tiểu luận trên các tập san như Văn, Bách Khoa, Khởi Hành, Tin Sách, Sáng Tạo. Một số công trình tổng hợp tiêu biểu gồm có: Sống và viết với... của Nguyễn Ngu Í (Nguyễn Hữu Ngư); Mười khuôn mặt văn nghệ (1970) và Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay (1972) của Tạ Tỵ; Văn chương và kinh nghiệm hư vô (1968), Đi tìm tác phẩm văn chương (1972) của Huỳnh Phan Anh; các bài tiểu luận của Cao Huy Khanh trên báo Khởi Hành và tập san Thời Tập (1970, 1974); Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965) của Phạm Thế Ngũ; Văn học và tiểu thuyết (1973) của Doãn Quốc Sỹ. Nhìn chung, các nghiên cứu này chủ yếu phác họa chân dung tác giả hoặc phân tích tác phẩm theo hướng phê bình cảm nhận, chưa đi sâu phân lập thể loại tùy bút một cách độc lập.

2. Nghiên cứu tại miền Bắc

  • Giai đoạn 1954 – 1985: Giới nghiên cứu tiếp cận văn học miền Nam dưới nhãn quan chính trị - ý thức hệ, tập trung phê phán tính chất thực dân mới. Hàng trăm bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học (ít nhất 56 bài từ 1960 đến 1975), Tạp chí Học tập, Văn nghệ Quân đội. Các công trình tiêu biểu gồm bài viết của Nguyễn Đức Đàn (1972), Thạch Phương (1977), Đỗ Đức Hiểu (1978), Hà Xuân Trường (1979), Trần Độ (1981), Lữ Phương (1981), Phong Hiền (1984), Chính Nghĩa (1984), Phạm Minh Lăng (1984), Phạm Văn Sỹ (1986), Lê Đình Kỵ (Nhìn lại tư tưởng văn nghệ thời Mỹ ngụy, 1987), Trường Lưu (Văn hóa - văn nghệ một thời hai trận tuyến, 2001) và các khảo luận của Trần Trọng Đăng Đàn (Nọc độc văn hóa thực dân mới Mỹ, 1983; Lại bàn về nọc độc văn học thực dân mới Mỹ, 1987; Văn hóa - văn nghệ Nam Việt Nam 1954-1975, 1990). Phạm Văn Sĩ trong Văn học giải phóng miền Nam (1974) gộp chung tùy bút vào thể ký kháng chiến.
  • Từ sau 1986 đến nay: Giới học thuật trong nước chuyển sang cách tiếp cận khoa học, khách quan. Tiêu biểu là các luận án tiến sĩ của Nguyễn Phúc (1995), Trần Hoài Anh (2008, in sách 2009), Nguyễn Thị Thu Trang (2008), Trần Văn Minh (2011), Nguyễn Thị Việt Nga (2012).

3. Nghiên cứu tại hải ngoại

Sau năm 1975, các tác giả hải ngoại nghiên cứu nhằm khôi phục bức tranh văn học miền Nam, tiêu biểu là bộ Văn học miền Nam tổng quan của Võ Phiến (khảo luận từ 1987 đến 1999 gồm các tập Tổng quan, Truyện, Ký, Tùy bút và kịch, Thơ), các bài viết của Nguyễn Vy Khanh, Thụy Khuê, và chuyên luận Võ Phiến (1996) của Nguyễn Hưng Quốc. Các công trình này cung cấp nhiều tư liệu quý nhưng đôi khi mang thiên kiến chính trị hoặc chỉ tập trung vào mặt tiến bộ mà lãng tránh những yếu tố suy đồi, bế tắc.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án xác định rằng: cho đến thời điểm 2016, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt, toàn diện và có hệ thống về thể loại tùy bút ở đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975. Luận án khắc phục các cách tiếp cận đơn lẻ, phân lập rạch ròi tùy bút với các dạng ký khác, đánh giá khách quan cả thành tựu lẫn hạn chế trên cơ sở văn bản nghệ thuật.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  1. Khái niệm và nguồn gốc tùy bút: Luận án truy nguyên thuật ngữ tùy bút từ chữ essai (tiếng Pháp) / essay (tiếng Anh). Tác giả đối chiếu định nghĩa của Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển giản yếu ("tùy thời mà biên chép"), định nghĩa trong Từ điển Văn học (thể văn xuôi phái sinh từ ký, giàu chất trữ tình, cấu tứ theo dòng cảm xúc chủ quan), sách Văn học Việt Nam thế kỷ XX, nghiên cứu Tam diện tùy bút của Trần Thanh Hà (xem tùy bút là "thánh địa của cái tôi", thông tin tâm trạng thay vì thông tin sự kiện), và luận án của Trần Văn Minh (2011).
  2. Đặc trưng thể loại tùy bút: Luận án đúc kết 5 đặc trưng:
    • Tính dung hợp: Kết hợp tự sự, trữ tình, chính luận và triết lý.
    • Bộc lộ trực tiếp cảm xúc và cái tôi: Thể hiện trực tiếp thế giới quan, nhân sinh quan của tác giả.
    • Đa dạng về dung lượng: Phân chia thành đoản thiên tùy bút, trung thiên tùy bút và trường thiên tùy bút.
    • Linh hoạt trong kết cấu: Kết cấu trữ tình – tự sự, kết cấu theo thời gian, kết cấu tâm lý liên tưởng.
    • Ngôn ngữ và giọng điệu đặc trưng: Ngôn ngữ giàu chất thơ, hoài niệm, triết lý; giọng điệu đa thanh (tâm tình, triết lý, suy tưởng, mỉa mai hóm hỉnh).
  3. Khái niệm "Văn học đô thị miền Nam": Luận án xác định đây là khái niệm mang tính quy ước không gian – thời gian, chỉ các tác phẩm được sáng tác, in ấn tại các đô thị miền Nam (chủ yếu là Sài Gòn, Huế) dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa từ 1954 đến 1975, hướng đến đối tượng độc giả thành thị (trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh sinh viên).
  4. Ba khuynh hướng văn học chính ở đô thị miền Nam:
    • Khuynh hướng chống Cách mạng (phục vụ chính sách tố Cộng, tuyên truyền chính trị).
    • Khuynh hướng kháng chiến, yêu nước, tiến bộ.
    • Khuynh hướng gắn với triết học, tôn giáo (Phật giáo, Kitô giáo, triết học hiện sinh phương Tây của J.P. Sartre, A. Camus).

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp Nội dung và cách thức thực hiện trong luận án
Phương pháp chọn mẫu (Case study) Lựa chọn các tác giả, tác phẩm tiêu biểu mang tính đại diện cao (Vũ Bằng, Võ Phiến, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo, Nguyễn Ngọc Lan, Sơn Nam, Nguyễn Xuân Hoàng, Thanh Tâm Tuyền) để khảo sát chuyên sâu, từ đó khái quát đặc điểm chung.
Phương pháp phân tích - tổng hợp Phân tích chi tiết văn bản tùy bút về nội dung tư tưởng, cảm hứng thời đại, ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu; sau đó tổng hợp thành hệ thống đặc điểm thi pháp.
Phương pháp cấu trúc - hệ thống Đặt tùy bút trong mối quan hệ hữu cơ với hệ thống văn học đô thị miền Nam và tiến trình văn xuôi Việt Nam hiện đại, khảo sát từ bình diện vĩ mô đến từng chỉnh thể tác phẩm.
Phương pháp so sánh - đối chiếu So sánh giữa các tác giả (Vũ Bằng - Võ Phiến, Bình Nguyên Lộc - Mai Thảo), giữa các giai đoạn (1954–1963 và 1964–1975), giữa văn học đô thị miền Nam với văn học miền Bắc và văn học tiền chiến.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 khảo sát bức tranh nghiên cứu văn học và tùy bút đô thị miền Nam (1954 – 1975) qua các thời kỳ lịch sử và các địa bàn nghiên cứu khác nhau. Tác giả phân tích những khó khăn thực tế về mặt văn bản học do tình trạng thất tán sách báo sau năm 1975, đồng thời chỉ ra sự đối lập trong cách đánh giá giữa các khu vực:

  • Giới phê bình miền Nam trước 1975 tập trung vào tính chất chân dung, điểm sách báo chí nhưng thiếu tính hệ thống.
  • Giới nghiên cứu miền Bắc giai đoạn 1954 – 1975 và thập niên 1980 nhìn nhận văn học đô thị miền Nam dưới lăng kính đấu tranh tư tưởng, xem đây là công cụ văn hóa thực dân mới phục vụ chính trị của chính quyền Sài Gòn.
  • Các công trình sau 1986 trong nước và các nghiên cứu ở hải ngoại (như của Võ Phiến, Nguyễn Hưng Quốc, Thụy Khuê) đã mở ra góc nhìn học thuật đa chiều hơn nhưng vẫn còn những khoảng trống và nhận định thiếu thống nhất về mặt thể loại. Từ đó, Chương 1 xác lập tính cần thiết của việc xây dựng một hệ thống lý thuyết, tiêu chí phân loại khoa học nhằm khảo sát toàn diện diện mạo và đặc điểm nghệ thuật của thể loại tùy bút.

Chương 2: Diện mạo tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975)

Chương 2 phục dựng bối cảnh lịch sử, văn hóa, sự phát triển của hệ thống xuất bản, báo chí và phân tích quá trình vận động của tùy bút qua hai giai đoạn lịch sử:

Giai đoạn Bối cảnh và Tác giả tiêu biểu Đặc điểm vận động của thể loại tùy bút
1954 – 1963 (Giai đoạn kiến tạo nền móng) • Bối cảnh: Hiệp định Genève 1954 chia cắt đất nước; cuộc di cư của hơn 2 triệu người từ Bắc vào Nam mang theo đội ngũ văn nghệ sĩ; văn hóa phương Tây và Mỹ bắt đầu du nhập.
• Tác giả tiêu biểu: Bình Nguyên Lộc, bước đầu xuất hiện Vũ Bằng (Miếng ngon Hà Nội), Võ Phiến (Thư nhà).
• Tùy bút còn ở bước khởi đầu, số lượng tác phẩm chưa nhiều.
• Đóng vai trò tiêu biểu nhất là Bình Nguyên Lộc với tập Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc (gồm các bài viết từ 1952-1962 đăng trên Thời Trân, Sáng Tạo, Nhân Loại, in sách năm 1966). Tác phẩm tập trung truy tìm cội nguồn văn hóa, lịch sử Sài Gòn, sự giao lưu văn hóa Bắc – Nam và thế giới tâm linh, phong tục.
1964 – 1975 (Giai đoạn phát triển nở rộ) • Bối cảnh: Biến cố chính trị năm 1963 (Ngô Đình Diệm bị lật đổ); quân đội Mỹ trực tiếp tham chiến với số lượng lớn; đời sống xã hội xáo trộn dữ dội; báo chí, nhà xuất bản tư nhân phát triển bùng nổ.
• Tác giả tiêu biểu: Vũ Bằng, Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyễn Ngọc Lan, Sơn Nam, Nguyễn Xuân Hoàng, Thanh Tâm Tuyền.
• Tùy bút bùng nổ về số lượng và phong cách nghệ thuật đa dạng.
• Vũ Bằng khẳng định phong cách qua Miếng lạ miền Nam (1969) và Thương nhớ mười hai (1972), kết hợp vốn văn hóa sâu rộng về Bắc Việt với chất trữ tình nồng nàn.
• Võ Phiến (Quê hương tôi, Ảo ảnh, Phù thế) thể hiện bút pháp phân tích tinh nhạy, giọng điệu dí dỏm, mỉa mai thâm thúy gắn với văn hóa thôn dã.
• Mai Thảo (Căn nhà vùng nước mặn, Tùy bút) đưa vào tùy bút cảm quan hiện sinh, cái tôi cô đơn và hoài niệm viễn xứ.
• Nguyễn Ngọc Lan (Chứng từ năm năm, Đường hay pháo đài, Nước ta còn đó) định hình dòng "tùy bút triết học", giàu tính chính luận và phản biện xã hội.

Luận án phân tích hai nhóm nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển của tùy bút:

  • Yếu tố bên ngoài: Tác động của hoàn cảnh chiến tranh, sự du nhập của triết học phương Tây (chủ nghĩa hiện sinh), sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống báo chí (Văn, Sáng Tạo, Đối Diện, Bách Khoa) và các nhà xuất bản tư nhân (An Tiêm, Trình Bầy, Khai Phóng, Thời Mới).
  • Yếu tố nội tại: Nhu cầu giãi bày nội tâm, tìm kiếm điểm tựa tinh thần của người cầm bút trước thực trạng đời sống đô thị đầy biến động và bất an.

Chương 3: Cảm hứng thời đại trong tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975)

Chương 3 đi sâu phân tích thế giới quan và cảm xúc chủ đạo của các cây bút tùy bút qua hai trục cảm hứng lớn:

  1. Cảm hứng nhân sinh:
    • Nỗi cô đơn của con người thời đại: Dưới tác động của chiến tranh khốc liệt và lối sống thực dụng nơi đô thị, con người rơi vào trạng thái bơ vơ, lạc lõng, hoài nghi về ý nghĩa tồn tại. Tác phẩm của Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Xuân Hoàng khắc họa đậm nét tâm trạng khủng hoảng hiện sinh, cảm thức về sự vô nghĩa và hư vô.
    • Nỗi ưu tư và hoài niệm: Thể hiện rõ nét qua tâm thức của những nhà văn di cư (Vũ Bằng, Mai Thảo) luôn đau đáu hướng về quá khứ, về không gian văn hóa Kẻ Chợ - Bắc Việt xưa cũ; hoặc tâm sự hoài cổ, tìm về cội nguồn dân tộc của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam.
  2. Cảm hứng lịch sử:
    • Chiến tranh và tôn giáo: Tùy bút phản ánh trực tiếp nỗi đau thương, chết chóc do chiến tranh tàn phá làng mạc và con người. Nhiều nhà văn tìm đến tôn giáo (Phật giáo, Công giáo) như một cứu cánh tinh thần để phản đối bạo lực, kêu gọi hòa bình (tiêu biểu là các tập tùy bút chính luận của linh mục Nguyễn Ngọc Lan).
    • Những thiên kiến trong quan điểm tư tưởng trước thời cuộc: Luận án phân tích khách quan các hạn chế tư tưởng, chỉ ra những trang viết mang quan điểm chính trị thiên lệch, chống cộng cực đoan của một số tác giả (như Võ Phiến, Mai Thảo) do chịu sự chi phối của ý thức hệ và bộ máy tuyên truyền của chính quyền Sài Gòn đương thời.

Chương 4: Đặc điểm nghệ thuật tùy bút ở đô thị miền Nam (1954 – 1975)

Chương 4 khảo sát các bình diện thi pháp hình thức làm nên giá trị thẩm mỹ của thể loại:

  • Dung lượng và kết cấu:
    • Dung lượng: Tồn tại linh hoạt cả ba dạng thức: đoản thiên tùy bút (các bài viết ngắn dạng tạp ghi, tản văn đăng báo), trung thiên tùy bút (tập hợp nhiều bài viết độc lập xoay quanh một chủ đề thống nhất như Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc), và trường thiên tùy bút.
    • Kết cấu: Phá vỡ kết cấu cốt truyện thông thường, triển khai theo mạch cảm xúc nội tâm; kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình; kết cấu theo trình tự thời gian (như 12 tháng trong năm của Vũ Bằng) hoặc kết cấu liên tưởng tâm lý phóng khoáng.
  • Ngôn ngữ và giọng điệu:
    • Ngôn ngữ: Sử dụng ngôn ngữ giàu chất thơ, tinh tế và gợi cảm (Vũ Bằng, Mai Thảo); vận dụng sinh động khẩu ngữ, phương ngữ Nam Bộ và ngôn ngữ đời sống thị thành thường nhật (Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Võ Phiến); ngôn ngữ chính luận sắc bén, giàu tính triết luận (Nguyễn Ngọc Lan).
    • Giọng điệu: Đa dạng và biến hóa: giọng tâm tình thủ thỉ, sâu lắng; giọng trầm tư suy tưởng; giọng mỉa mai, hóm hỉnh, thâm thúy (đặc trưng của Võ Phiến); giọng triết lý, tranh luận thế sự trực diện.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận và thực tiễn

  1. Về mặt lý luận:
    • Luận án đã xác lập một khung lý thuyết và tiêu chí nhận diện rõ ràng về thể loại tùy bút trong bối cảnh văn học đô thị miền Nam (1954 – 1975), phân biệt tùy bút với các thể loại ký khác như phóng sự, ký sự, nhật ký, tạp văn.
    • Chỉ ra quy luật vận động nội tại của tùy bút: từ giai đoạn đặt nền móng gắn với ý thức tìm kiếm bản sắc (1954–1963) đến giai đoạn bùng nổ, đa dạng hóa phong cách và chiều sâu triết mỹ (1964–1975).
  2. Về mặt thực tiễn:
    • Đánh giá toàn diện, có hệ thống và khách quan về thành tựu cũng như hạn chế của mảng tùy bút đô thị miền Nam, chỉ rõ đóng góp của bộ phận này vào thành tựu chung của văn xuôi hiện đại Việt Nam.
    • Khảo sát thấu đáo và giải tỏa những nhìn nhận định kiến về từng trường hợp tác gia cụ thể (Vũ Bằng, Võ Phiến, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo, Nguyễn Ngọc Lan), khẳng định giá trị văn hóa, nhân văn trong các tác phẩm của họ bên cạnh việc phê phán những lệch lạc về lập trường chính trị.
    • Cung cấp nguồn tư liệu văn bản học và thư mục có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX.

Kiến nghị và giải pháp học thuật

  • Đề xuất đưa các tác phẩm tùy bút có giá trị thẩm mỹ và văn hóa cao của văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 vào chương trình giảng dạy, học tập chuyên đề ở bậc đại học và sau đại học ngành Ngữ văn.
  • Cần tiếp tục đẩy mạnh công tác sưu tầm, bảo quản và tái bản có chọn lọc các văn bản tùy bút trước năm 1975 đang bị thất tán hoặc lưu trữ phân tán trong các bộ sưu tập tư nhân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Về nguồn tư liệu: Do hoàn cảnh lịch sử sau năm 1975, sách báo miền Nam bị thất tán nghiêm trọng, nhiều bản thảo và ấn phẩm gốc chỉ còn nằm rải rác ở các kho lưu trữ tại Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh hoặc thuộc sở hữu tư nhân trong và ngoài nước, gây khó khăn cho việc tiếp cận trọn vẹn văn bản.
  • Về phạm vi khảo sát: Luận án chưa thể thống kê toàn bộ 100% tác giả, tác phẩm tùy bút xuất bản trong 20 năm tại miền Nam mà phải áp dụng phương pháp chọn mẫu, tập trung vào các gương mặt tiêu biểu. Nhiều tác giả có tác phẩm tùy bút đăng trên các báo chí thời kỳ này (như Thế Uyên, Bửu Ý, Phan Du, Trùng Dương, Nguyễn Thị Hoàng, Lãng Nhân, Kinh Dương Vương...) chưa được phân tích sâu.
  • Về tư liệu hải ngoại: Nguồn tài liệu xuất bản ở nước ngoài sau 1975 có khối lượng đáng kể nhưng tính chất phức tạp, đan xen yếu tố chính trị phi học thuật, đòi hỏi thời gian xử lý và giám định văn bản lâu dài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát diện bao quát đối với các tác giả tùy bút chưa được đề cập; nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa tùy bút đô thị miền Nam và tùy bút miền Bắc cùng thời kỳ (1954 – 1975) trên bình diện thi pháp học so sánh.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học và Văn hóa học khi tiếp cận các chuyên đề về văn học miền Nam 1954 – 1975, thi pháp thể loại ký - tùy bút.
  • Giảng viên đại học, cao đẳng giảng dạy học phần Lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, cung cấp hệ thống luận điểm và dẫn chứng văn bản cụ thể.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử cần tư liệu về đời sống tâm lý, phong tục tập quán và sinh hoạt văn hóa của cư dân đô thị miền Nam trong hai thập niên biến động của thế kỷ XX.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Khung phân tích thi pháp tùy bút (Chương 4), chuyên luận về quá trình vận động của thể loại qua mốc biến cố 1963 (Chương 2), và hệ thống đánh giá tác gia Vũ Bằng, Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến, Nguyễn Ngọc Lan.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án chọn mốc năm 1963 để phân chia quá trình vận động của tùy bút đô thị miền Nam?
Năm 1963 là dấu mốc chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, kéo theo sự thay đổi sâu sắc về chính trị, quân sự (Mỹ đưa quân trực tiếp vào miền Nam) và sự bùng nổ của báo chí, xuất bản tư nhân. Về mặt văn học, trước 1963 tùy bút mang tính chất đặt nền móng với hạt nhân Bình Nguyên Lộc; sau 1963, thể loại này phát triển vượt bậc về số lượng, đề tài và hình thành đội ngũ tác giả đông đảo (Vũ Bằng, Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyễn Ngọc Lan).

2. Tập tùy bút Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc có vị trí như thế nào trong luận án?
Tác phẩm được xem là hiện tượng tiêu biểu nhất định hình diện mạo tùy bút đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1963. Tập sách tập hợp các bài viết từ 1952 đến 1962, xuất bản lần đầu năm 1966 tại Sài Gòn (in 658 bản), thể hiện hành trình truy tìm cội nguồn lịch sử - ngôn ngữ Sài Gòn, giao thoa văn hóa Bắc – Nam và phong tục dân dã Nam Bộ.

3. Tùy bút của tác giả Nguyễn Ngọc Lan có nét đặc thù gì so với các tác giả khác?
Tùy bút của Nguyễn Ngọc Lan (Chứng từ năm năm, Cho cây rừng xanh lá, Nước ta còn đó) định hình phong cách "tùy bút triết học" độc đáo. Tác phẩm của ông kết hợp lối viết tùy bút trữ tình với tư duy triết luận, ghi chép người thật việc thật, phản biện các vấn đề thời sự, chiến tranh và tôn giáo dưới góc nhìn triết học sâu sắc.

4. Luận án chỉ ra những mặt hạn chế nào trong tư tưởng của một số tác giả tùy bút miền Nam?
Luận án chỉ rõ bên cạnh giá trị nhân văn và văn hóa, một số tác phẩm tùy bút thời kỳ này bộc lộ thái độ bế tắc, hoang mang hiện sinh cực đoan, hoặc mang nặng thiên kiến chính trị phản động, phục vụ cho chính sách chống Cộng của chính quyền Sài Gòn (thể hiện trong một số bài viết thời sự của Võ Phiến, Mai Thảo).

5. Luận án khảo sát các tác phẩm tiêu biểu nào của nhà văn Vũ Bằng?
Luận án tập trung khảo sát ba tác phẩm tùy bút nổi tiếng nhất của Vũ Bằng: Miếng ngon Hà Nội (1960), Miếng lạ miền Nam (1969, có tài liệu ghi Món lạ miền Nam) và Thương nhớ mười hai (1972), làm rõ chất trữ tình đằm thắm gắn liền với không gian văn hóa Bắc Việt và nỗi sầu xứ phương Nam.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Tiến Sỹ là công trình chuyên khảo công phu, giải quyết khoảng trống học thuật về thể loại tùy bút ở đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975. Bằng phương pháp chọn mẫu, phân tích cấu trúc hệ thống và so sánh thi pháp, tác giả đã phục dựng sinh động diện mạo, hai chặng đường vận động, các chiều kích cảm hứng thời đại cùng những đặc trưng nghệ thuật nổi bật của thể loại. Công trình đóng góp thiết thực vào việc thẩm định khách quan di sản văn học miền Nam, xác lập vị trí xứng đáng của mảng tùy bút này trong dòng chảy văn xuôi hiện đại Việt Nam.