Chương 1 TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU VÀ NGUYỄN HUY THIỆP TRONG DÒNG CHẢY LỊCH SỬ VÀ VĂN HỌC Chúng tôi trình bày chương này như là sự giải thích một phần cho câu hỏi tại sao chúng tôi lại chọn hai hiện tượng văn học Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp để vẽ lại đồ thị vận động của truyện ngắn Việt Nam trước và sau Đổi mới. Có thể nhận thấy hai nhà văn này là hai cây bút tiêu biểu, điển hình cho hai giai đoạn văn học trước và sau Đổi mới. Từ cái nhìn so sánh, đối chiếu hai thế giới nghệ thuật của hai nhà văn này, chúng ta có thể nhận thức được tương đối chính xác diện mạo phát triển của truyện ngắn trong hai thời kỳ văn học trên. Một số vấn đề về truyện ngắn Mặc dù thuật ngữ truyện ngắn ra đời muộn (khoảng cuối thế kỷ XIX) nhưng bản thân truyện ngắn đã xuất hiện và tồn tại ngay từ buổi bình minh của nhân loại, khi con người mới biết sáng tác văn chương.
Trải qua hàng ngàn năm, với bao biến cố thăng trầm trong tiến trình phát triển văn học và của lịch sử thể loại, ngày nay, khi con người bị dồn ép về mặt thời gian nhiều hơn bao giờ hết thì truyện ngắn càng có khả năng chiếm lĩnh được vị trí quan trọng trên văn đàn trong kỉ nguyên Hiện đại, Hậu hiện đại. Con người hiện đại dường như không có đủ thời gian dành cho những bộ tiểu thuyết đồ sộ như: Tây du kí, Tam quốc diễn nghĩa, Hồng Lâu Mộng, Những người khốn khổ, Chiến tranh và hòa bình, Sông Đông êm đềm… Truyện ngắn với sự hàm chứa điều sâu sắc, thú vị trong một hình thức nhỏ, gọn, đã chinh phục độc giả đương đại. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Việt Nam, quan niệm về truyện ngắn cũng vô cùng phong phú và đa dạng. Trong cuốn Từ điển văn học, truyện ngắn được định nghĩa: “là hình thức tự sự loại nhỏ.
Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: Một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội”. Nhà nghiên cứu Phương Lựu trong Lý luận văn học đã phát biểu: “Truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự. Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười hoặc gần với những bài ký ngắn. Nhưng thực ra không phải.
Nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời” [10]. Theo Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì truyện ngắn là: “Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: Đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn” [8]. Chưa có một định nghĩa thống nhất về truyện ngắn nhưng từ một số khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm nhận diện của truyện ngắn là (1) ngắn gọn là quy luật của việc cấu tạo truyện ngắn; (2) chi tiết truyện ngắn rất cô đúc, hàm súc, (3) truyện ngắn thường chỉ phản ánh một khoảnh khắc, một số phận con người; (4) có sức chứa lớn.
Raymond Carver – một trong những bậc thầy truyện ngắn thế giới ghi nhận: ngày nay “tác phẩm hay nhất, tác phẩm hấp dẫn và thỏa mãn nhất về nhiều mặt, thậm chí có lẽ tác phẩm có cơ hội lớn nhất để trường tồn, chính là tác phẩm được viết dưới dạng truyện ngắn”. Truyện ngắn với lợi thế nhỏ gọn đang bùng nổ với tốc độ chóng mặt. Người đọc quen và thích đọc truyện ngắn trong vài chục phút hoặc trong một vài giờ. Hơn nữa, sau nhiều năm 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chiếm lĩnh văn đàn, thơ, kịch, tiểu thuyết dường như đang vắt kiệt về khả năng hồi sinh và đổi mới thể loại.
Trong khi đó truyện ngắn còn là mảnh đất tương đối trống, điều này tạo điều kiện hết sức thuận lợi để các cây bút trẻ khẳng định tài năng. Ở Việt Nam, truyện ngắn cũng vì thế mà nở rộ và đạt được những thành tựu nổi bật. Lịch sử phát triển của nền văn học hiện đại và đương đại Việt Nam gắn liền với truyện ngắn. Là thể loại năng động, bộ xương cấu thành thể loại của truyện ngắn luôn thay đổi do tác động của điều kiện lịch sử, văn hoá, xã hội.
Thế kỷ XX truyện ngắn Việt Nam phát triển liên tục và vượt trội lên trên tất cả các thể loại, bắt đầu từ những năm hai mươi với sự đóng góp của Nguyễn Bá Học, Phạm Huy Tốn, Hồ Biểu Chánh,… Đến những năm 1930 – 1945, truyện ngắn phát triển vượt bậc với tên tuổi của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Kim Lân, Tô Hoài, Bùi Hiển, Vũ Bằng… Từ sau Cách mạng tháng Tám, truyện ngắn có chững lại nhưng vẫn chảy liên tục với tên tuổi: Trần Đăng, Vũ Tú Nam, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Vũ Thị Thường, Lê Minh, Nguyễn Minh Châu… Trước 1975, do tác động của điều kiện hoàn cảnh chiến tranh và yêu cầu của Đảng về một nền văn nghệ cổ vũ, động viên cho hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng mang đặc trưng “ký hoá” và “sử thi hoá” rõ nét. Trong điều kiện hoàn cảnh mới của đất nước sau 1975, thể loại nhạy cảm này chắc chắn có những thay đổi quan trọng. Giới nghiên cứu cũng như giới sáng tác hầu như đều thống nhất sau 1975, truyện ngắn là thể loại gặt hái nhiều thành công, “được mùa thể loại”. Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng tiếp theo “những vụ được mùa của truyện ngắn, đây có thể coi là giai đoạn có nhiều truyện ngắn hay trong văn học Việt Nam”.
Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng trong công trình Truyện ngắn, những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại cũng khẳng định sự thành công của truyện ngắn sau 1975 là: “.truyện 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngắn phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng”, “truyện ngắn có bước đột khởi nhờ vào ngọn gió lành của công cuộc đổi mới” [16]. Có thể nói, khi chiến tranh kết thúc, truyện ngắn vượt lên tỏ rõ sự ưu việt của mình trong sự khám phá nghệ thuật đời sống. Nhất là 1986 trở đi, truyện ngắn gần như đã độc chiếm toàn bộ văn đàn, hằng ngày trên các báo và các tạp chí có trên dưới hai mươi truyện ngắn được in. Thực tế ấy đã kích thích mạnh đến việc sáng tác, phê bình – lý luận về truyện ngắn những năm gần đây.
Để thấy được rõ hơn sự vận động của thể loại văn học này, chúng ta có thể lấy ra hai ví dụ tiêu biểu, đó là Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp. Mỗi nhà văn với một phong cách riêng đã tạo nên “hiệu ứng” truyện ngắn hay và được gắn với các tên gọi “bội thu”, “thăng hoa”, điều đó chứng tỏ truyện ngắn đã được đổi mới. Truyện ngắn Đỗ Chu trong dòng chảy lịch sử và văn học trước Đổi mới 1. Vài nét về tác giả Đỗ Chu Đỗ Chu tên thật là Chu Bá Bình.
Bút danh Đỗ Chu lấy họ mẹ và họ cha ghép thành. Ông sinh năm 1943 tại Phủ Lạng Thương, Bắc Giang (có một số tài liệu viết là năm 1944). Đỗ Chu vào nghề viết từ 1962, khi còn ngồi trên ghế nhà trường với truyện ngắn Ao làng trích trên tạp chí Văn nghệ quân đội. Từ năm 1962, khi những truyện ngắn đầu tay của Đỗ Chu ra đời, văn đàn đã xôn xao tán tụng.
Ông sớm nổi tiếng với những truyện ngắn đầy phong vị trữ tình, được chào đón như một nhà văn tiêu biểu của thế hệ mới, sau thế hệ “tiền chiến” và “kháng chiến”. Nối tiếp những thành công từ các truyện đầu tay đó, các tuyển tập truyện ngắn của Đỗ Chu đã ra đời. Với hơn 40 năm cầm bút, Đỗ Chu đã miệt mài viết và thử sức với rất nhiều thể loại văn học như tiểu thuyết, tùy bút, ký sự… nhưng bạn đọc nhớ tới ông nhiều hơn cả vẫn là với truyện ngắn. Đỗ Chu đã vinh dự được nhận giải Nhà nước về văn học - nghệ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuật năm 2001, giải thưởng Hội Nhà văn năm 2003 với tác phẩm Một loài chim trên sóng, nhận giải văn học ASEAN năm 2004.
Giải thưởng quốc tế này thêm một lần nữa khẳng định đóng góp của Đỗ Chu đối với văn học dân tộc đồng thời tôn vinh vị thế của văn học Việt Nam trên bản đồ văn học khu vực. Hai tập truyện ngắn Chuyện màu hạ và Lão Mai gồm 35 truyện ngắn xuất sắc được chính nhà văn tuyển chọn và được Nhà xuất bản Văn học in tháng 11/2010. Dòng chảy lịch sử và văn học trước Đổi mới và vị thế truyện ngắn Đỗ Chu Con đường văn nghiệp của Đỗ Chu trải qua hai giai đoạn: trước và sau năm 1975. Hai giai đoạn này đã chứng kiến những đổi mới nghệ thuật và tư duy của nhà văn.1 Giai đoạn trước năm 1975 Sau Cách mạng tháng Tám, đất nước ta phải tiếp tục trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng dân tộc.
Lúc này vận mệnh đất nước được đặt lên hàng đầu. Nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam (trong đó có văn học nghệ thuật) là phục vụ công cuộc kháng chiến kiến quốc, cổ vũ lòng yêu nước và khơi dậy tinh thần chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. Văn học được xem như một mặt trận và nghệ sỹ là chiến sỹ trên mặt trận ấy. Các nhà văn bị cuốn vào không khí chính trị sôi nổi và hào hứng chuốt nhọn vũ khí văn chương để phục vụ cho cách mạng.
Trước hết đó là văn học phục vụ chính trị. Những vấn đề chính trị trở thành nội dung trực tiếp của tác phẩm và nhà văn có nghĩa vụ tuyên truyền những quan điểm chính trị, những nhiệm vụ của công tác chính trị trong sáng tác của mình. Là tiếng nói chính thống, quan phương của tư tưởng quốc gia, trước 1975, văn học sử thi đặt ra những vấn đề mang tầm vóc lịch sử, liên quan tới vận mệnh và sự sống còn của cả một dân tộc. Nó bổ đôi và phân chia thế giới thành hai nửa “địch” và “ta” đối đầu với nhau như 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước với lửa, sống với chết.
Trong thế giới ấy, “lịch sử chọn ta làm điểm tựa”. Ta đốt lửa trong tim, hoá thành Đancô, phơi phới một niềm tin “làm người lính đi đầu”.