Đặc điểm của tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX

Luận án tiến sĩ phân tích đặc điểm tiểu thuyết tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX, khám phá sự giao thoa giữa cá nhân và xã hội.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

159
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Những nghiên cứu về tự truyện trên thế giới được giới thiệu ở Việt Nam

1.2. Những nghiên cứu về tự truyện và tiểu thuyết có tính chất tự truyện ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ DIỆN MẠO TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XX

3. CHƯƠNG 3: TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XX - NHÌN TỪ CẢM QUAN HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI

4. CHƯƠNG 4: TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XX - NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về đặc điểm tiểu thuyết tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX

Tiểu thuyết tự truyện là một thể loại văn học độc đáo, kết hợp giữa yếu tố tự truyện và hư cấu. Trong văn học Việt Nam thế kỷ XX, thể loại này đã phát triển mạnh mẽ, phản ánh những biến động xã hội và tâm tư của con người. Các tác phẩm tiêu biểu như 'Những ngày thơ ấu' của Nguyên Hồng hay 'Nỗi buồn chiến tranh' của Bảo Ninh đã thể hiện rõ nét đặc điểm này. Sự giao thoa giữa thực tế và hư cấu trong tiểu thuyết tự truyện không chỉ tạo ra những câu chuyện hấp dẫn mà còn mang lại cái nhìn sâu sắc về cuộc sống.

1.1. Định nghĩa và nguồn gốc tiểu thuyết tự truyện

Tiểu thuyết tự truyện, hay còn gọi là autofiction, là thể loại kết hợp giữa tự truyện và hư cấu. Nguồn gốc của thể loại này có thể được truy nguyên từ những tác phẩm văn học phương Tây, nhưng ở Việt Nam, nó đã có những biến thể riêng, phản ánh văn hóa và xã hội đặc thù.

1.2. Sự phát triển của tiểu thuyết tự truyện ở Việt Nam

Từ những năm đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết tự truyện đã bắt đầu xuất hiện và phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sau thời kỳ đổi mới. Nhiều tác giả đã sử dụng yếu tố tự truyện để thể hiện tâm tư, tình cảm và những trải nghiệm cá nhân của mình.

II. Những thách thức trong việc nhận diện tiểu thuyết tự truyện

Việc nhận diện tiểu thuyết tự truyện trong văn học Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất về định nghĩa và tiêu chí phân loại. Điều này dẫn đến sự nhầm lẫn giữa tiểu thuyết tự truyện và các thể loại khác như hồi ký hay tiểu thuyết truyền thống. Sự đa dạng trong cách thể hiện và nội dung cũng làm cho việc phân loại trở nên phức tạp hơn.

2.1. Khó khăn trong việc phân loại thể loại

Nhiều tác phẩm được coi là tiểu thuyết tự truyện nhưng lại không hoàn toàn đáp ứng các tiêu chí cần thiết. Điều này khiến cho việc phân loại trở nên khó khăn và gây nhầm lẫn cho độc giả.

2.2. Sự khác biệt giữa tiểu thuyết tự truyện và hồi ký

Tiểu thuyết tự truyện và hồi ký đều có yếu tố tự truyện, nhưng tiểu thuyết tự truyện thường mang tính hư cấu nhiều hơn. Hồi ký thường chỉ đơn thuần là ghi chép lại những sự kiện trong cuộc đời tác giả mà không có sự sáng tạo nghệ thuật.

III. Phương pháp nghiên cứu tiểu thuyết tự truyện trong văn học Việt Nam

Để nghiên cứu tiểu thuyết tự truyện, các nhà nghiên cứu thường áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp tiểu sử giúp tìm hiểu mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm, trong khi phương pháp so sánh giúp phân tích sự khác biệt giữa tiểu thuyết tự truyện và các thể loại khác. Ngoài ra, phương pháp liên ngành cũng được sử dụng để làm rõ hơn các khía cạnh văn hóa và xã hội trong tác phẩm.

3.1. Phương pháp tiểu sử trong nghiên cứu

Phương pháp tiểu sử giúp làm rõ mối liên hệ giữa cuộc đời tác giả và tác phẩm. Điều này giúp hiểu rõ hơn về động lực sáng tác và bối cảnh xã hội mà tác giả sống.

3.2. Phương pháp so sánh và đối chiếu

Phương pháp so sánh giúp phân tích sự khác biệt giữa tiểu thuyết tự truyện và các thể loại khác, từ đó làm nổi bật những đặc điểm riêng của tiểu thuyết tự truyện trong văn học Việt Nam.

IV. Ứng dụng thực tiễn của tiểu thuyết tự truyện trong văn học Việt Nam

Tiểu thuyết tự truyện không chỉ là một thể loại văn học mà còn là một công cụ phản ánh hiện thực xã hội. Các tác phẩm tự truyện thường mang lại cái nhìn sâu sắc về tâm tư, tình cảm và những trải nghiệm của con người trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Điều này giúp độc giả hiểu rõ hơn về cuộc sống và con người Việt Nam trong thế kỷ XX.

4.1. Tiểu thuyết tự truyện như một công cụ phản ánh xã hội

Nhiều tác phẩm tiểu thuyết tự truyện đã phản ánh chân thực những biến động xã hội, từ chiến tranh đến hòa bình, từ khổ đau đến hy vọng. Điều này giúp độc giả cảm nhận được sự chuyển mình của xã hội Việt Nam.

4.2. Tác động của tiểu thuyết tự truyện đến độc giả

Tiểu thuyết tự truyện thường tạo ra sự đồng cảm mạnh mẽ với độc giả. Những câu chuyện chân thực và cảm động giúp độc giả hiểu rõ hơn về những nỗi đau và niềm vui trong cuộc sống.

V. Kết luận về tiểu thuyết tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX

Tiểu thuyết tự truyện đã khẳng định được vị trí của mình trong văn học Việt Nam thế kỷ XX. Sự kết hợp giữa yếu tố tự truyện và hư cấu đã tạo ra những tác phẩm độc đáo, phản ánh sâu sắc tâm tư và hiện thực xã hội. Dù còn nhiều thách thức trong việc nhận diện và phân loại, tiểu thuyết tự truyện vẫn là một thể loại có giá trị nghệ thuật và xã hội lớn.

5.1. Tương lai của tiểu thuyết tự truyện trong văn học Việt Nam

Với sự phát triển không ngừng của văn học, tiểu thuyết tự truyện có khả năng tiếp tục phát triển và đổi mới. Các tác giả trẻ có thể mang đến những góc nhìn mới mẻ và sáng tạo hơn cho thể loại này.

5.2. Đánh giá tổng quan về tiểu thuyết tự truyện

Tiểu thuyết tự truyện đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của văn học Việt Nam. Những tác phẩm tiêu biểu không chỉ mang lại giá trị nghệ thuật mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về con người và xã hội Việt Nam.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu - Chương 2: Cơ sở lý luận và diện mạo tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX - Chương 3: Tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX - Nhìn từ cảm quan hiện thực và con người - Chương 4: Tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX - Nhìn từ phương thức thể hiện 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về tự truyện trên thế giới đƣợc giới thiệu ở Việt Nam Tự truyện trong nguyên ngữ Hy Lạp là autos (chính mình), bios (cuộc đời), và graphein (viết), nghĩa là “viết về chính cuộc đời mình”. Cách kết hợp ba thành tố này tạo thành autobiography trong tiếng Anh và sau đó được sử dụng trong tiếng Pháp autobiographie, nhưng cách viết này trở thành một thuật ngữ thông dụng ở Châu Âu từ giữa thế kỷ XIX. Những tác phẩm tự truyện đầu tiên trên thế giới bắt đầu xuất hiện từ thời cận đại ở Tây Âu.

Tuy nhiên, danh từ tự truyện chính thức được sử dụng phải đợi đến cuối thế kỷ XVIII, khi mà thể loại này bắt đầu nở rộ ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Những tài liệu nghiên cứu đầu tiên về thể loại tự truyện xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ XX với những chuyên khảo của Anna Robson Burr (1909), Wayne Shumaker (1926), A. Dần về sau này, mặc dù tự truyện chưa tạo được sự lưu tâm của giới phê bình nhưng nó vẫn tồn tại với tư cách một thể loại độc lập và nhiều nhà nghiên cứu cũng đã phác thảo được những nét cơ bản, xem nó như một thể loại riêng biệt. Trong số đó, phải kể đến Những điều kiện và giới hạn của Tự truyện (1956) của Georges Gurdorf, Tự thú và Tự truyện (1955) của Stephen Spendes.

Ở hai công trình này, nhà phê bình đã chú ý đến sự tồn tại độc lập của tự truyện với vai trò là một thể tài đứng bên cạnh những thể loại văn học khác. Nhưng phải đợi đến năm 1960, khi chuyên luận Phác thảo và Sự thật trong Tự truyện (Design and Truth in Auubiography) của Roy Pascal ra đời thì tự truyện mới bắt đầu được nghiên cứu như “một hoạt động sáng tạo”. Trong chuyên luận này, Pascal đã đặt ra vấn đề: khởi điểm một tự truyện, tác giả tự truyện liệu có đi theo đúng sự thật mà mình đã trải qua? Có hay không cái gọi là phác thảo trong trải nghiệm của con người nếu đây không phải là một sự áp đặt vô lí cho sự thật [164]. Đến thập niên 70, nhà phê bình văn học người Mỹ James Olney trong một công trình nghiên cứu về tự truyện của mình đã viết: “Chính sự chuyển hướng sang cái “tôi” khi đã có 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được nhận thức về sự tồn tại của nó sẽ định hình và quyết định bản chất của tự truyện và trong quá trình ấy sẽ vừa khám phá vừa sáng tạo lại mình - đã khởi đầu cho chủ đề tự truyện trong những cuộc tranh luận” [163].

Từ những nghiên cứu về cái tôi trong tự truyện ấy, những năm về sau, đặc biệt là khoảng ba thập niên cuối của thế kỷ XX, thể loại tự truyện được giới phê bình chú ý nhiều và thể loại này gần như trở thành một trong những thể loại trung tâm, được soi chiếu dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong ba thập niên cuối của thế kỷ XX, cùng với sự nở rộ của thể loại tự truyện, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học không còn xem tự truyện thuộc hàng “ngoại biên” nữa mà soi ngắm nó qua nhiều chiều kích khác nhau trong vai trò của một thể loại văn học. Chính nhờ thế mà cả một hệ thống lí luận thể loại cũng được định hình một cách rõ nét. Và một trong số đó phải kể đến Hiệp ước Tự thuật (Le Pacte Autobiographique) (1975) của Philippe Lejeune.

Hiệp ước này ra đời mang theo một định nghĩa về thể loại, kèm theo đó là những ranh giới và bảng biểu, sơ đồ cụ thể để phân biệt tự truyện với những thể loại khác. Tuy nhiên, cũng trong những năm cuối của thập niên 70, cùng với “sự tuyên xưng cái chết của tiểu thuyết”, và khi Michael Sprinker tuyên bố “sự chấm dứt của tự truyện” thì các nhà hậu cấu trúc luận khẳng định “văn bản của tự truyện có đời sống riêng của nó, thoát ly khỏi tính quy chiếu và khi đó cái tôi chỉ còn là vấn đề của văn bản” [64, tr. Nhưng trong khoảng hai thập niên cuối thế kỷ XX, khi thể tự truyện ngày một thêm phong phú, vấn đề nghiên cứu về tự truyện lại được xuất hiện trở lại khá đầy đặn mà xem chừng như những lí thuyết về tự truyện từ trước đó và cả Hiệp ước tự thuật của Philippe Lejeune gần như không thể theo kịp đà phát triển đa dạng của thể tự truyện. Nhiều nhà nghiên cứu tập trung đi vào khám phá thế giới tự truyện từ lĩnh vực tâm lí sáng tạo và dân tộc học, từ văn hóa và tâm lí học nghệ thuật… 1.

Những nghiên cứu về tự truyện và tiểu thuyết có tính chất tự truyện ở Việt Nam Ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu, khi trang tiểu thuyết mang bóng dáng tự truyện xuất hiện với gương mặt đầy lạ lẫm, thì giới học thuật của Việt Nam đã bắt đầu chú ý đến bước đi của nó. Trong số các công trình nghiên cứu, Nhà văn hiện 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đại của Vũ Ngọc Phan có lẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu về tự truyện dưới góc nhìn thể loại. Từ hướng tiếp cận này, Vũ Ngọc Phan đã có những phát hiện khá ấn tượng: “Tự truyện là một loại văn tuy không mới ở nước người, nhưng rất mới ở nước ta. Gần đây có mấy nhà văn đem những việc của mình ra viết, nhưng họ chưa có can đảm đề là tự truyện, họ “tiểu thuyết hóa” ít nhiều cuộc đời của họ và đề là tiểu thuyết” [103, tr.

Dần về sau, đặc biệt là chặng đường sau năm 1986, khi mà quan niệm và tư duy nghệ thuật thay đổi, tạo điều kiện cho sự xuất hiện của khuynh hướng tự truyện ngày một nhiều đã thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Có lẽ vì thế nên những công trình nghiên cứu về khuynh hướng này cũng ngày một nở rộ. Theo Phong Lê, “Để nhớ về một quá khứ chưa xa, về một vùng hiện thực khuất nẻo, khó có ai biết, nhưng đã được viết với tư cách người trong cuộc, nên khó có ai viết thay, là Chuyện kể năm 2000, 2 tập (2000) của Bùi Ngọc Tấn, trong nối dài về trước với Tuổi thơ im lặng (1987) của Duy Khán, Cát bụi chân ai (1992) và Chiều chiều (1999) của Tô Hoài… Cũng có thể xếp vào đây Thượng đế thì cười (2003) của Nguyễn Khải - một tiểu thuyết gần như tự truyện. Với Tô Hoài, Nguyễn Khải - những tên tuổi quan trọng của văn học hiện đại, thì điều quan trọng không chỉ là chuyện được kể, mà còn là giọng kể, cách kể” [66, tr.

Cùng chung quan điểm với Phong Lê, Nguyễn Văn Long trong Đổi mới của văn học Việt Nam từ sau 1975 cho rằng, xuất phát từ tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật của văn học những năm cuối 80, đầu những năm 90 trong văn học Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ khuynh hướng nhận thức lại hiện thực. Đây chính là lúc văn học trở về với đời sống thường nhật và vĩnh hằng, vì thế, “Trong văn xuôi những năm 90 và vài năm lại đây… Hồi kí - tự truyện lên ngôi…” [73]. Nghiên cứu về truyện và tự truyện của Phan Bội Châu, khi luận bàn về sự phát triển của thể tự truyện, Hoàng Đức Khoa nhận thấy trong bối cảnh văn hóa trung đại vốn nặng quan phương, khép kín nên khả năng con người tự ý thức về mình và hướng tới khám phá, thể hiện từng số phận thực sự không dễ. Chính những thay đổi trong đời sống xã hội Việt Nam thời kỳ thực dân nửa phong kiến, cùng với quá trình tư sản hóa những năm nửa đầu thế kỷ XX đã tác động mạnh mẽ đến đời 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sống văn học.

Đây chính là bối cảnh ra đời tự truyện của Phan Bội Châu. Theo tác giả, tự truyện là truyện do các nhà văn viết về cuộc đời mình nhằm những mục đích khác nhau… Cũng chính trong thể loại này, tất cả những biến cố, sự việc, nhân vật … đều được lấy từ cuộc đời thực của tác giả, không có sự hư cấu thêm, hoặc nói cách khác là không có sự hư cấu tự do [61, tr. Sự lưu tâm một cách nồng nhiệt cho thể tự truyện ngày một đậm đặc hơn trong những năm về sau, đặc biệt là khi thể tự truyện ngày một lấn sâu vào đời sống văn học từ sau 1986. Tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới, nhà nghiên cứu Bích Thu đã trình bày ý kiến của mình về tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện.

Với Bích Thu thì người đọc hôm nay muốn “được tiếp xúc với những tiểu thuyết tâm lý mà ở đó, nhân vật tự bộc lộ tư tưởng, chính kiến qua dòng chảy của nhận thức, mọi hành vi, ứng xử và lời thoại ẩn sâu trong tâm trạng nhân vật và các tầng nghĩa. Hoặc các tiểu thuyết mang tính tự truyện, vừa thể hiện cái “tôi” lại vừa hư cấu, vừa mang tính tiểu sử lại vừa được nghệ thuật hóa, tiểu thuyết hóa, một đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại, có khả năng khai thác tiềm thức qua kỹ thuật dòng ý thức” [134, tr. Ở bài viết này, Bích Thu thực sự chú ý đến nét đặc trưng mang tính khu biệt của tiểu thuyết mang tính tự truyện, đó là người đọc dễ dàng nhận thấy ở tiểu thuyết mang tính tự truyện vừa thể hiện cái “tôi” lại vừa hư cấu. Có thể nói, chính cuộc sống thực tại của con người Việt Nam sau 1986 đã mang lại cho nhà nghệ sĩ những quan niệm nghệ thuật về hiện thực với những khám phá mới.

Và ở đây, Bích Thu rất có lí khi cho rằng một trong những nguyên nhân làm cho tiểu thuyết có tính tự truyện ngày một xuất hiện nhiều trong văn học những năm trở lại đây là bởi xã hội hiện đại đề cao vai trò của cá nhân và thúc đẩy sự thức tỉnh của ý thức cá nhân. Cái tôi trỗi dậy đòi hỏi được quan tâm đúng mức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ