Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu - Chương 2: Cơ sở lý luận và diện mạo tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX - Chương 3: Tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX - Nhìn từ cảm quan hiện thực và con người - Chương 4: Tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX - Nhìn từ phương thức thể hiện 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về tự truyện trên thế giới đƣợc giới thiệu ở Việt Nam Tự truyện trong nguyên ngữ Hy Lạp là autos (chính mình), bios (cuộc đời), và graphein (viết), nghĩa là “viết về chính cuộc đời mình”. Cách kết hợp ba thành tố này tạo thành autobiography trong tiếng Anh và sau đó được sử dụng trong tiếng Pháp autobiographie, nhưng cách viết này trở thành một thuật ngữ thông dụng ở Châu Âu từ giữa thế kỷ XIX. Những tác phẩm tự truyện đầu tiên trên thế giới bắt đầu xuất hiện từ thời cận đại ở Tây Âu.
Tuy nhiên, danh từ tự truyện chính thức được sử dụng phải đợi đến cuối thế kỷ XVIII, khi mà thể loại này bắt đầu nở rộ ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Những tài liệu nghiên cứu đầu tiên về thể loại tự truyện xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ XX với những chuyên khảo của Anna Robson Burr (1909), Wayne Shumaker (1926), A. Dần về sau này, mặc dù tự truyện chưa tạo được sự lưu tâm của giới phê bình nhưng nó vẫn tồn tại với tư cách một thể loại độc lập và nhiều nhà nghiên cứu cũng đã phác thảo được những nét cơ bản, xem nó như một thể loại riêng biệt. Trong số đó, phải kể đến Những điều kiện và giới hạn của Tự truyện (1956) của Georges Gurdorf, Tự thú và Tự truyện (1955) của Stephen Spendes.
Ở hai công trình này, nhà phê bình đã chú ý đến sự tồn tại độc lập của tự truyện với vai trò là một thể tài đứng bên cạnh những thể loại văn học khác. Nhưng phải đợi đến năm 1960, khi chuyên luận Phác thảo và Sự thật trong Tự truyện (Design and Truth in Auubiography) của Roy Pascal ra đời thì tự truyện mới bắt đầu được nghiên cứu như “một hoạt động sáng tạo”. Trong chuyên luận này, Pascal đã đặt ra vấn đề: khởi điểm một tự truyện, tác giả tự truyện liệu có đi theo đúng sự thật mà mình đã trải qua? Có hay không cái gọi là phác thảo trong trải nghiệm của con người nếu đây không phải là một sự áp đặt vô lí cho sự thật [164]. Đến thập niên 70, nhà phê bình văn học người Mỹ James Olney trong một công trình nghiên cứu về tự truyện của mình đã viết: “Chính sự chuyển hướng sang cái “tôi” khi đã có 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được nhận thức về sự tồn tại của nó sẽ định hình và quyết định bản chất của tự truyện và trong quá trình ấy sẽ vừa khám phá vừa sáng tạo lại mình - đã khởi đầu cho chủ đề tự truyện trong những cuộc tranh luận” [163].
Từ những nghiên cứu về cái tôi trong tự truyện ấy, những năm về sau, đặc biệt là khoảng ba thập niên cuối của thế kỷ XX, thể loại tự truyện được giới phê bình chú ý nhiều và thể loại này gần như trở thành một trong những thể loại trung tâm, được soi chiếu dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong ba thập niên cuối của thế kỷ XX, cùng với sự nở rộ của thể loại tự truyện, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học không còn xem tự truyện thuộc hàng “ngoại biên” nữa mà soi ngắm nó qua nhiều chiều kích khác nhau trong vai trò của một thể loại văn học. Chính nhờ thế mà cả một hệ thống lí luận thể loại cũng được định hình một cách rõ nét. Và một trong số đó phải kể đến Hiệp ước Tự thuật (Le Pacte Autobiographique) (1975) của Philippe Lejeune.
Hiệp ước này ra đời mang theo một định nghĩa về thể loại, kèm theo đó là những ranh giới và bảng biểu, sơ đồ cụ thể để phân biệt tự truyện với những thể loại khác. Tuy nhiên, cũng trong những năm cuối của thập niên 70, cùng với “sự tuyên xưng cái chết của tiểu thuyết”, và khi Michael Sprinker tuyên bố “sự chấm dứt của tự truyện” thì các nhà hậu cấu trúc luận khẳng định “văn bản của tự truyện có đời sống riêng của nó, thoát ly khỏi tính quy chiếu và khi đó cái tôi chỉ còn là vấn đề của văn bản” [64, tr. Nhưng trong khoảng hai thập niên cuối thế kỷ XX, khi thể tự truyện ngày một thêm phong phú, vấn đề nghiên cứu về tự truyện lại được xuất hiện trở lại khá đầy đặn mà xem chừng như những lí thuyết về tự truyện từ trước đó và cả Hiệp ước tự thuật của Philippe Lejeune gần như không thể theo kịp đà phát triển đa dạng của thể tự truyện. Nhiều nhà nghiên cứu tập trung đi vào khám phá thế giới tự truyện từ lĩnh vực tâm lí sáng tạo và dân tộc học, từ văn hóa và tâm lí học nghệ thuật… 1.
Những nghiên cứu về tự truyện và tiểu thuyết có tính chất tự truyện ở Việt Nam Ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu, khi trang tiểu thuyết mang bóng dáng tự truyện xuất hiện với gương mặt đầy lạ lẫm, thì giới học thuật của Việt Nam đã bắt đầu chú ý đến bước đi của nó. Trong số các công trình nghiên cứu, Nhà văn hiện 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đại của Vũ Ngọc Phan có lẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu về tự truyện dưới góc nhìn thể loại. Từ hướng tiếp cận này, Vũ Ngọc Phan đã có những phát hiện khá ấn tượng: “Tự truyện là một loại văn tuy không mới ở nước người, nhưng rất mới ở nước ta. Gần đây có mấy nhà văn đem những việc của mình ra viết, nhưng họ chưa có can đảm đề là tự truyện, họ “tiểu thuyết hóa” ít nhiều cuộc đời của họ và đề là tiểu thuyết” [103, tr.
Dần về sau, đặc biệt là chặng đường sau năm 1986, khi mà quan niệm và tư duy nghệ thuật thay đổi, tạo điều kiện cho sự xuất hiện của khuynh hướng tự truyện ngày một nhiều đã thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Có lẽ vì thế nên những công trình nghiên cứu về khuynh hướng này cũng ngày một nở rộ. Theo Phong Lê, “Để nhớ về một quá khứ chưa xa, về một vùng hiện thực khuất nẻo, khó có ai biết, nhưng đã được viết với tư cách người trong cuộc, nên khó có ai viết thay, là Chuyện kể năm 2000, 2 tập (2000) của Bùi Ngọc Tấn, trong nối dài về trước với Tuổi thơ im lặng (1987) của Duy Khán, Cát bụi chân ai (1992) và Chiều chiều (1999) của Tô Hoài… Cũng có thể xếp vào đây Thượng đế thì cười (2003) của Nguyễn Khải - một tiểu thuyết gần như tự truyện. Với Tô Hoài, Nguyễn Khải - những tên tuổi quan trọng của văn học hiện đại, thì điều quan trọng không chỉ là chuyện được kể, mà còn là giọng kể, cách kể” [66, tr.
Cùng chung quan điểm với Phong Lê, Nguyễn Văn Long trong Đổi mới của văn học Việt Nam từ sau 1975 cho rằng, xuất phát từ tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật của văn học những năm cuối 80, đầu những năm 90 trong văn học Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ khuynh hướng nhận thức lại hiện thực. Đây chính là lúc văn học trở về với đời sống thường nhật và vĩnh hằng, vì thế, “Trong văn xuôi những năm 90 và vài năm lại đây… Hồi kí - tự truyện lên ngôi…” [73]. Nghiên cứu về truyện và tự truyện của Phan Bội Châu, khi luận bàn về sự phát triển của thể tự truyện, Hoàng Đức Khoa nhận thấy trong bối cảnh văn hóa trung đại vốn nặng quan phương, khép kín nên khả năng con người tự ý thức về mình và hướng tới khám phá, thể hiện từng số phận thực sự không dễ. Chính những thay đổi trong đời sống xã hội Việt Nam thời kỳ thực dân nửa phong kiến, cùng với quá trình tư sản hóa những năm nửa đầu thế kỷ XX đã tác động mạnh mẽ đến đời 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sống văn học.
Đây chính là bối cảnh ra đời tự truyện của Phan Bội Châu. Theo tác giả, tự truyện là truyện do các nhà văn viết về cuộc đời mình nhằm những mục đích khác nhau… Cũng chính trong thể loại này, tất cả những biến cố, sự việc, nhân vật … đều được lấy từ cuộc đời thực của tác giả, không có sự hư cấu thêm, hoặc nói cách khác là không có sự hư cấu tự do [61, tr. Sự lưu tâm một cách nồng nhiệt cho thể tự truyện ngày một đậm đặc hơn trong những năm về sau, đặc biệt là khi thể tự truyện ngày một lấn sâu vào đời sống văn học từ sau 1986. Tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới, nhà nghiên cứu Bích Thu đã trình bày ý kiến của mình về tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện.
Với Bích Thu thì người đọc hôm nay muốn “được tiếp xúc với những tiểu thuyết tâm lý mà ở đó, nhân vật tự bộc lộ tư tưởng, chính kiến qua dòng chảy của nhận thức, mọi hành vi, ứng xử và lời thoại ẩn sâu trong tâm trạng nhân vật và các tầng nghĩa. Hoặc các tiểu thuyết mang tính tự truyện, vừa thể hiện cái “tôi” lại vừa hư cấu, vừa mang tính tiểu sử lại vừa được nghệ thuật hóa, tiểu thuyết hóa, một đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại, có khả năng khai thác tiềm thức qua kỹ thuật dòng ý thức” [134, tr. Ở bài viết này, Bích Thu thực sự chú ý đến nét đặc trưng mang tính khu biệt của tiểu thuyết mang tính tự truyện, đó là người đọc dễ dàng nhận thấy ở tiểu thuyết mang tính tự truyện vừa thể hiện cái “tôi” lại vừa hư cấu. Có thể nói, chính cuộc sống thực tại của con người Việt Nam sau 1986 đã mang lại cho nhà nghệ sĩ những quan niệm nghệ thuật về hiện thực với những khám phá mới.
Và ở đây, Bích Thu rất có lí khi cho rằng một trong những nguyên nhân làm cho tiểu thuyết có tính tự truyện ngày một xuất hiện nhiều trong văn học những năm trở lại đây là bởi xã hội hiện đại đề cao vai trò của cá nhân và thúc đẩy sự thức tỉnh của ý thức cá nhân. Cái tôi trỗi dậy đòi hỏi được quan tâm đúng mức.