Tổng quan nghiên cứu

Khu vực trũng An Châu có quy mô diện tích xấp xỉ 10.000 km2, trải dài qua địa bàn ba tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và Quảng Ninh, với chiều dài cấu trúc phương tây bắc - đông nam đạt hơn 250 km và bề rộng tối đa khoảng 100 km. Trong lịch sử địa chất khu vực Đông Bắc Bộ, bồn trũng này lưu giữ một cột địa tầng trầm tích Mesozoi dày từ 5.000 m đến trên 7.000 m, đại diện cho quá trình tiến hóa rift nội lục phức tạp từ Trias sớm đến Creta. Mặc dù công tác đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 và 1:50.000 đã được triển khai từ thập niên 1970, việc đánh giá tiềm năng dầu khí trước Kainozoi vẫn gặp nhiều rào cản do thiếu các nghiên cứu định lượng chuyên sâu về vi cấu trúc và môi trường thành tạo.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là làm sáng tỏ bản chất thạch học lát mỏng, xác lập các mô hình môi trường trầm tích cho 7 hệ tầng Mesozoi chính, định lượng hệ số biến đổi thứ sinh và đánh giá chất lượng colectơ đá chứa phục vụ tìm kiếm hydrocarbon. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào vùng trung tâm trũng An Châu, giới hạn bởi đới đứt gãy Cao Bằng - Tiên Yên ở phía bắc và Yên Tử - Tấn Mài ở phía nam, hoàn thành việc tích hợp tài liệu thực địa và thí nghiệm trong giai đoạn năm 2013. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chính xác về độ chọn lọc, độ mài tròn và không gian rỗng, giúp nâng cao độ tin cậy trong việc mô hình hóa hệ thống dầu khí trước Kainozoi tại miền Bắc Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân tích tướng và tướng cổ địa lý trầm tích, kết hợp chặt chẽ với các nguyên lý tiến hóa thạch học trong quá trình thành đá và biến chất thứ sinh. Đề tài vận dụng hệ thống phân loại cát kết định lượng của nhà khoa học Folk ban hành năm 1974 dựa trên tỷ lệ ba hợp phần hạt vụn thạch anh, felspat và mảnh đá nhằm xác định chính xác tên đá và bối cảnh nguồn cung cấp vật liệu. Đối với nhóm đá chuyển tiếp cacbonat và sét, nghiên cứu áp dụng bảng phân loại sáu bậc của tác giả Trần Nghi năm 1998, chia tách ranh giới từ đá vôi tinh khiết đến đá sét dựa trên hàm lượng canxit từ 0% đến 100%.

Bên cạnh đó, mô hình biến đổi thứ sinh của tác giả Trần Nghi năm 1998 được sử dụng để định lượng mức độ nén ép và tái kết tinh thông qua tỷ lệ tiếp xúc giữa các hạt vụn. Chất lượng đá chứa được đánh giá theo thang phân loại colectơ giữa hạt của Trần Nghi công bố năm 1982 và hiệu chỉnh năm 2005, tích hợp 6 tham số gồm: độ rỗng hiệu dụng, độ thấm, hệ số chọn lọc, hệ số mài tròn, kích thước hạt trung bình và hàm lượng xi măng gắn kết. Hệ thống lý thuyết này cho phép phân định ranh giới giữa các giai đoạn thành đá sớm, thành đá muộn, hậu sinh và biến sinh nhiệt áp một cách khách quan.

Phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu kết hợp khảo sát thực địa mặt đất với các phương pháp phân tích vật lý và quang học trong phòng thí nghiệm. Khảo sát thực địa được tiến hành trên 77 trạm quan sát lộ trình, đo đạc thế nằm, mô tả cấu tạo trầm tích lớp và thu thập mẫu nguyên vị. Nguồn tài liệu được bổ sung từ 13 lỗ khoan máy với chiều sâu khoan trung bình 100 m mỗi lỗ và 38 công trình hào thăm dò do Công ty Dầu khí Sông Hồng và Viện Dầu khí Việt Nam thực hiện.

Tổng số mẫu thạch học được gia công và phân tích dưới kính hiển vi phân cực đạt 167 mẫu lát mỏng, bao gồm 115 mẫu phân tích độc lập và 52 mẫu đối sánh từ Viện Dầu khí Việt Nam. Phương pháp đếm điểm trên lát mỏng được áp dụng để xác định thành phần khoáng vật và cấp hạt, sau đó hiệu chỉnh bằng công thức chuyển đổi kích thước hạt thực nghiệm. Hệ số mài tròn hạt vụn được tính toán định lượng trên từng hạt thông qua số lượng góc lồi chưa bị bào mòn. Mức độ biến đổi thứ sinh được xác định trên 40 mẫu lát mỏng thông qua tỷ số tiếp xúc điểm, tiếp xúc đường thẳng so với tiếp xúc răng cưa và đường cong. Thành phần khoáng vật sét được kiểm chứng bằng phương pháp nhiễu xạ tia X trên 40 mẫu bột sét định hướng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất chỉ ra sự phân hóa thạch học rõ rệt theo thời gian địa chất giữa các hệ tầng Trias sớm và Trias giữa. Đá trầm tích hệ tầng Lạng Sơn mang tướng biển nông chuyển sang châu thổ ngầm, chiếm ưu thế bởi cát kết lithic hạt mịn với đường kính hạt trung bình từ 0,063 mm đến 0,25 mm. Hàm lượng thạch anh trong hệ tầng này dao động từ 49,4% đến 70,3%, felspat từ 4,6% đến 6,7%, mảnh đá từ 25,2% đến 43,9%, trong khi khoáng vật sét hydromica chiếm từ 18% đến 34% theo số liệu phân tích Rơnghen. Trái lại, hệ tầng Khôn Làng đặc trưng cho môi trường sông lục địa và lũ tích với cuội sạn kết phân lớp xiên chéo, đường kính hạt từ 0,1 mm đến 2,0 mm, tỷ lệ mảnh đá phun trào felsic chiếm áp đảo từ 36,1% đến 46,4%.

Phát hiện thứ hai làm sáng tỏ đặc tính môi trường trầm tích của hệ tầng Nà Khuất và hệ tầng Mẫu Sơn. Hệ tầng Nà Khuất có chiều dày từ 690 m đến 1077 m, thành tạo trong môi trường tiền châu thổ đến biển nông ven bờ, cát kết lithic có hàm lượng thạch anh đạt 53,9% đến 82,2% và nền xi măng canxit, sét chiếm từ 14,2% đến 39,6%. Hệ tầng Mẫu Sơn dày từ 980 m đến 1540 m, đặc trưng cho trầm tích molas lục địa màu đỏ với cát kết phân lớp dày xen bột sét kết chứa kết hạch vôi.

Phát hiện thứ ba liên quan đến đánh giá chất lượng colectơ đá chứa. Các tầng cát kết Trias của hệ tầng Nà Khuất và Mẫu Sơn đã trải qua giai đoạn biến đổi thứ sinh từ catagen đến metagen mạnh với hệ số biến đổi đạt từ 0,5 đến 0,85. Do sự phát triển của xi măng canxit dạng khảm và tái kết tinh sét dạng xerixit, độ rỗng hiệu dụng của cát kết Trias chỉ đạt từ 5% đến 11%, thuộc nhóm colectơ chất lượng yếu đến trung bình. Ngược lại, cát kết thuộc hệ tầng Hà Cối tuổi Jura hạ - trung có kích thước hạt chọn lọc tốt hơn, bảo tồn được lỗ rỗng giữa hạt và lỗ rỗng thứ sinh, đạt độ rỗng hiệu dụng từ 9% đến 15%, xếp vào nhóm colectơ chất lượng khá.

Phát hiện thứ tư khẳng định tiềm năng của các tầng đá mẹ sinh dầu khí. Hệ tầng Văn Lãng tuổi Trias muộn có chiều dày từ 1200 m đến 2450 m chứa nhiều tập phiến sét than và sét vôi nước lợ. Hàm lượng tổng carbon hữu cơ của hệ tầng này đạt giá trị cao từ 0,9% đến 35% khối lượng, nằm trong cửa sổ trưởng thành nhiệt sinh khí và condensat, đóng vai trò tầng sinh lý tưởng được che chắn bởi các tập sét kết biến chất nén ép phía trên.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm độ rỗng của cát kết Trias vùng trũng An Châu là do hoạt động kiến tạo căng giãn tạo rift kết hợp với các đợt magma xâm nhập như phức hệ granit granophyre Núi Điệng có tuổi phóng xạ 206 triệu năm và phức hệ Pia Oắc có tuổi từ 85 đến 95 triệu năm. Nhiệt độ và áp suất cao từ các hoạt động này đã thúc đẩy quá trình nén ép cơ học và hòa tan chịu áp lực, biến các tiếp xúc nguyên sinh dạng điểm thành tiếp xúc thứ sinh dạng răng cưa khép kín.

Khi so sánh với bể trầm tích Thập Vạn Đại Sơn ở khu vực Nam Trung Quốc có cùng bối cảnh kiến tạo móng Paleozoi, trũng An Châu thể hiện sự tương đồng cao về tướng trầm tích molas màu đỏ và tiềm năng sinh khí từ các tập than Reti. Dữ liệu thạch học có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ tam giác phân loại cát kết Folk nhằm biểu diễn sự dịch chuyển từ đới cát kết lithic hạt thô lòng sông sang cát kết thạch anh biển nông. Bảng đối sánh độ rỗng và hệ số biến đổi thứ sinh cho thấy mối tương quan nghịch rõ rệt: khi hệ số tiếp xúc thứ sinh tăng vượt ngưỡng 0,7, không gian rỗng giữa hạt hầu như bị triệt tiêu hoàn toàn và chỉ còn lại các vi hang hốc cục bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cần phối hợp với các cơ quan điều tra địa chất triển khai chương trình khoan thăm dò tham số sâu trên 1500 m tại trục nếp lõm trung tâm An Châu, trọng tâm là khu vực Sơn Động và Đình Lập trong giai đoạn 2024 - 2026. Mục tiêu cụ thể nhằm đánh giá chính xác độ rỗng thực tế của cát kết hệ tầng Hà Cối và hệ tầng Nà Khuất dưới sâu, hướng tới phát hiện bẫy chứa khí đạt lưu lượng thử vỉa tối thiểu 50.000 m3/ngày.

Thứ hai, Viện Dầu khí Việt Nam cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ quét cắt lớp vi tính vi mô ba chiều kết hợp kính hiển vi điện tử quét độ phân giải từ 5.000 đến 20.000 lần. Biện pháp này cần hoàn thành trong vòng 12 tháng trên 50 mẫu lõi chọn lọc nhằm định lượng mạng lưới vi khe nứt nẹp và thể tích rỗng hiệu dụng dưới 2 micromet mà kính hiển vi quang học truyền thống chưa đo đếm được.

Thứ ba, các trường đại học và viện nghiên cứu chuyên ngành cần tích hợp phần mềm mô hình hóa hệ thống dầu khí 3D để tái hiện lịch sử chôn vùi và lịch sử sinh nhiệt của hệ tầng Văn Lãng trước năm 2027. Mục tiêu là xác định chính xác thời điểm giải phóng hydrocarbon từ các vỉa sét than có hàm lượng carbon hữu cơ từ 0,9% đến 35%, đồng thời vạch rõ các hướng di cư dầu khí vào bẫy cấu tạo.

Thứ tư, Cục Địa chất Việt Nam cần chủ trì xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng colectơ trầm tích tỷ lệ 1:25.000 phủ kín diện tích 10.000 km2 của bồn trũng trong thời hạn 18 tháng. Bản đồ này phải phân định ranh giới giữa các đới chứa có độ rỗng trên 12% và các đới bị biến tính nặng có độ rỗng dưới 5%, làm cơ sở quy hoạch tài nguyên năng lượng quốc gia.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các kỹ sư địa chất dầu khí, chuyên gia đánh giá vỉa và nhà quản lý thăm dò tại các doanh nghiệp dầu khí. Luận văn cung cấp số liệu thực nghiệm về độ rỗng từ 5% đến 15%, độ thấm và đặc tính xi măng hóa, hỗ trợ trực tiếp cho công tác minh giải địa chấn, chọn vị trí đặt giếng khoan và tối ưu hóa phương pháp vỡ vỉa thủy lực.

Nhóm thứ hai là giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Địa chất, Khoáng vật học, Địa hóa học và Trầm tích học. Công trình này là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp phân tích thạch học định lượng trên 167 lát mỏng, công thức tính toán hệ số mài tròn và quy trình đo đếm mức độ biến đổi thứ sinh.

Nhóm thứ ba là các nhà nghiên cứu địa chất khu vực và kiến tạo mảng vùng Đông Nam Á. Luận văn cung cấp khung tiến hóa địa tầng chi tiết từ Trias đến Creta, làm sáng tỏ bối cảnh phát triển của hệ rift An Châu trong mối liên hệ với các đới đứt gãy Cao Bằng - Tiên Yên và Yên Tử - Tấn Mài.

Nhóm thứ tư là cán bộ quản lý tài nguyên tại các sở ban ngành và cơ quan quy hoạch khoáng sản địa phương. Dữ liệu khảo sát trên 77 trạm lộ trình và 13 giếng khoan giúp các nhà quản lý nắm vững tiềm năng đá chứa, khoáng sản đi kèm và đặc điểm cơ lý đá phục vụ công tác cấp phép khai thác bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp phân tích lát mỏng dưới kính hiển vi phân cực đóng vai trò gì trong việc xác định môi trường trầm tích? Phương pháp này cho phép đo đạc trực tiếp kích thước hạt từ 0,063 mm đến 2,0 mm, thành phần khoáng vật và tỷ lệ xi măng gắn kết. Cấu tạo phân lớp song song của cát kết lithic chỉ ra môi trường biển nông, trong khi sự xuất hiện của cuội sạn kết đa khoáng mài tròn kém phản ánh môi trường lòng sông nội lục.

Tại sao hệ tầng Văn Lãng lại được xem là tầng sinh dầu khí tiềm năng nhất trong khu vực? Hệ tầng Văn Lãng sở hữu chiều dày lớn từ 1200 m đến 2450 m với các tập đá phiến sét than và sét vôi chứa tổng hàm lượng carbon hữu cơ cao dao động từ 0,9% đến 35% khối lượng. Nguồn vật chất hữu cơ nguồn gốc thực vật này đã bước vào giai đoạn trưởng thành nhiệt thích hợp để sinh khí tự nhiên và condensat.

Nguyên nhân nào làm cho cát kết hệ tầng Nà Khuất và Mẫu Sơn có độ rỗng thấp? Do tác động của các pha kiến tạo tạo núi và nhiệt dịch magma với tuổi từ 85 đến 206 triệu năm, các đá cát kết Trias đã bị biến đổi thứ sinh mạnh. Hiện tượng hòa tan chịu áp lực và sự lấp đầy của xi măng canxit, xerixit thứ sinh đã làm giảm độ rỗng hiệu dụng xuống mức 5% đến 11%.

Đặc điểm thạch học nào phân biệt rõ nhất giữa hệ tầng Lạng Sơn và hệ tầng Khôn Làng? Hệ tầng Lạng Sơn chủ yếu gồm cát bột kết hạt mịn, sét vôi có cấu tạo phân lớp ngang song song chứa khoáng vật hydromica từ 18% đến 34%. Ngược lại, hệ tầng Khôn Làng chứa cuội sạn kết đa khoáng phân lớp xiên chéo và các thể phun trào ryolit porphyr phong hóa sét hóa mạnh.

Đá chứa hệ tầng Hà Cối có ưu thế gì vượt trội so với các thành tạo Trias? Cát kết hệ tầng Hà Cối tuổi Jura có độ chọn lọc hạt tốt hơn, ít bị biến chất nén ép dạng răng cưa, do đó bảo tồn được hệ thống lỗ rỗng giữa hạt nguyên sinh và lỗ rỗng thứ sinh với độ rỗng đạt từ 9% đến 15%, mang lại khả năng lưu chứa và thu hồi chất lưu vượt trội.

Kết luận

Thứ nhất, luận văn đã xác lập chi tiết cột địa tầng chuẩn gồm 7 hệ tầng Mesozoi tại trung tâm trũng An Châu với chiều dày biến thiên từ 400 m đến trên 2450 m mỗi hệ tầng.

Thứ hai, công trình đã định lượng hóa các tham số thạch học trên 167 mẫu lát mỏng, chỉ rõ sự chuyển dịch tướng trầm tích từ biển nông, châu thổ ngầm ở Trias sớm sang môi trường sông lục địa và molas đỏ ở Trias giữa - muộn.

Thứ ba, nghiên cứu chứng minh hệ tầng Văn Lãng là tầng sinh khí tiềm năng với chỉ số carbon hữu cơ lên đến 35%, được che chắn bởi các tầng sét kết dày thuộc hệ tầng Mẫu Sơn và Nà Khuất.

Thứ tư, kết quả đánh giá colectơ xác định cát kết hệ tầng Hà Cối có chất lượng chứa tốt nhất với độ rỗng đạt từ 9% đến 15%, mở ra hướng thăm dò dầu khí mới cho các thành tạo Jura.

Thứ năm, các tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp năng lượng cần tiếp tục đẩy mạnh các đề án khảo sát địa vật lý chuyên sâu và khoan tham số trong giai đoạn tới để hiện thực hóa tiềm năng kinh tế của bồn trũng An Châu.