Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài. Khảo sát thực trạng sử dụng ngôn ngữ biển hiệu Chương 3: Khảo sát thái độ ngôn ngữ của người dân. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, việc nghiên cứu cảnh quan ngôn ngữ, đặc biệt là biển hiệu cửa hàng mới được chú ý trong khoảng hai thập kỷ gần đây như một hiện tượng ngôn ngữ - văn hóa nảy sinh trong quá trình đô thị hóa. Các nghiên cứu chủ yếu đi vào tìm hiểu thực trạng sử dụng ngôn ngữ biển hiệu trong thời kì đổi mới và hội nhập của đất nước, tập trung ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… Một trong những nghiên cứu sớm nhất là bài viết của Trần Thị Thìn (2000) “Biển hiệu ở Hà Nội nhìn từ góc độ ngôn ngữ học”. Qua bài viết, tác giả đã phân tích đặc điểm cấu tạo tên biển hiệu, từ đó khái quát sơ bộ các loại biển hiệu hiện có ở Hà Nội và đưa ra kết luận “đã đến lúc, các nhà ngôn ngữ học nên có định hướng cho biển hiệu về mặt ngôn ngữ”. Tiếp theo đó là khá nhiều khóa luận tốt nghiệp và luận văn cao học về chủ đề này.
Nguyễn Minh Nguyệt (2007) trong luận văn “Nhận xét về ngôn ngữ biển hiệu và thương hiệu trên hai phố Hà Nội(Nguyễn Lương Bằng và Tôn Đức Thắng)” đã khảo sát đặc điểm hình thức và nội dung ngôn ngữ trên biển hiệu, biển quảng cáo để thấy được vai trò quan trọng của ngôn ngữ đối với quảng cáo, đồng thời nêu lên những biến đổi về ngôn ngữ mà theo tác giả là ngày càng trở nên phổ biến hiện nay. Luận văn “Khảo sát ngôn ngữ bảng hiệu tại thành phố Hồ Chí Minh” của Phan Thanh Bảo Trân (2009) thì đi vào tìm hiểu cách viết chính tả, phân tích thành phần và đặc điểm của từng kiểu loại biển hiệu. Cũng phân tích đặc điểm nội dung, hình thức của biển hiệu quảng cáo, luận văn thạc sỹ của Trương Thị Mai (2010) “ Nghiên cứu ngôn ngữ quảng cáo trên các biển hiệu ở thành phố Vinh” cònđánh giá ưu nhược 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điểm trong sử dụng ngôn ngữ quảng cáo, góp phần chỉnh sửa các loại lỗi trong quảng cáo. Đề tài “Hiện tượng đa ngôn ngữ trong đời sống đô thị Việt Nam thời hội nhập - Khảo sát trường hợp các biển hiệu quảng cáo đa ngôn ngữ trên đường phố Đà Nẵng” của Nhóm nghiên cứu ngôn ngữ - văn hóa Đại học Đà Nẵng (2011) lại tiếp cận ngôn ngữ biển hiệu từ một khía cạnh là hình thức sử dụng đa ngôn ngữ xếp theo nội dung kinh doanh dịch vụ.
Đặc biệt, thực trạng sử dụng ngôn ngữ biển hiệu ở Hà Nội qua góc nhìn của chuẩn hóa được thấy rõ qua khảo sát “Thực trạng ngôn ngữ biển hiệu ở Hà Nội nhìn từ trường hợp phố Mã Mây” của Nguyễn Hồng Cổn (2013). Và gần đây nhất là đề tài cấp Bộ của tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Loan (2017) “Nghiên cứu thái độ của người dân ở Hà Nội về ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng theo phân tầng xã hội” đã khởi đầu cho việc tìm hiểu thái độ phản ứng của xã hội đối với lĩnh vực này. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới, các nhà nghiên cứu đã thực hiện nhiều khảo sát thực trạng cũng như tìm hiểu thái độ người dân đối với việc sử dụng ngôn ngữ trên biển hiệu, đặc biệt là biển hiệu tiếng nước ngoài mà chủ yếu là tiếng Anh. Trong bài viết “Englishization of business names in Brazil”, tác giả TereseThonus (1991) đã khảo sát hiện tượng Anh hóa tên các cơ sở kinh doanh ở 05 thành phố của Brazil (Rio, Sao Paulo, Manaus, Brasilia, Recife, Porto Alegre).
Ở khu vực châu Âu cũng có khá nhiều nghiên cứu đã được triển khai.Ross (1997) trong “Signs of international English” tập trung vào hiện tượng Anh hóa tên cửa hàng ở Italia, đặc biệt là các trung tâm thành phố Milan. McArthur (2000) qua khảo sát thực trạng ở hai thành phố châu Âu là Zurich (Thụy Sĩ) và Uppsala (Thụy Điển) trong bài viết “Interanto: The global language of signs”, đã khám phá ra bản chất của quá trình đa ngôn ngữ trong việc đặt tên cửa hàng, và đưa ra kết luận là sự phổ biến của tiếng Anh 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không phụ thuộc vào ngôn ngữ cùng tồn tại với nó. Nghiên cứu trường hợp về ảnh hưởng của tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Anh trên biển hiệu cửa hàng và tủ kính trưng bày qua cửa sổ đã được Schlick thực hiện năm 2002 tại ba thành phố châu Âu (Klagenfurt - Áo, Udinese - Italia, Ljubljana - Slovenia). Kết quả cho thấy, các biển hiệu cửa hàng và tủ kính trưng bày ở Udinese (Italia) bị ảnh hưởng của tiếng nước ngoài ít hơn so với ở Klagenfurt (Áo).
Trong một nghiên cứu tiếp theo năm 2003, Shlick đã khảo sát việc sử dụng tiếng Anh và các ngoại ngữ khác trên biển hiệu cửa hàng tại tám địa điểm ở ba quốc gia châu Âu là London và Nuneaton (Anh), Vienna, Leoben, Trieste, Pordenone (Áo); Ljubljana, Kranj (Slovenia). Griffin (2004) qua nghiên cứu “The presence of Englishinthe streets of Rome” lại đưa ra cách tiếp cận sâu rộng và toàn diện hơn so với các nghiên cứu trước đây, để hiểu rõ hơn mức độ phổ biến của tiếng Anh trên các đường phố của một quốc gia không nói tiếng Anh và ngữ cảnh mà nó xuất hiện. Ở Bồ Đào Nha, năm 2004, Penny Stewart và Richard Fawcett đã thực hiện khảo sát “Shop signs in some small towns in Northern Portugal”, qua đó mô tả tần số xuất hiện của các ngôn ngữ ngoài tiếng Bồ Đào Nha trên 271 biển hiệu cửa hàng ở sáu thị trấn nhỏ phía Tây Bắc nước này (Fermentelos, Afife, Arcos de Valdevez, Caminha, Ponte da Barca, Vila Praia de Ancora). Kết quả chỉ ra, đa số các biển hiệu cửa hàng là đơn ngữ, chủ yếu là tiếng Bồ Đào Nha, 27 biển hiệu (10%) bằng tiếng Anh, cụm từ không phải tiếng Bồ Đào Nha xuất hiện thường xuyên nhất ở sáu thị trấn được khảo sát là snack bar.
Trong thế giới Ả rập, vấn đề này cũng thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Salch và Al-Yassin (1994) đã tiến hành khảo sát độ phổ biến của các biển hiệu cửa hàng bằng tiếng nước ngoài tại Jordan từ quan điểm xã hội học. Họ tìm hiểu nguyên nhân các chủ cửa hàng lựa chọn sử dụng ngoại ngữ trên biển hiệu, đồng thời chỉ ra khả năng có những ảnh hưởng tiêu cực đến ngôn ngữ quốc gia và thái độ của thế hệ tương 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lai Jordan đối với tiếng Ả rập và tiếng Anh. Thời gian gần đây, Ahmed Jamal Mansour (2013) qua đề tài “A sociolinguistic study of shop signs in Jordan: Opinions and Attitudes” đã tìm hiểu ý kiến và thái độ của người dân về tình hình sử dụng ngôn ngữ trên biển hiệu cửa hàng ở thủ đô Amman - Jordan.
Thực tế cho thấy, các biển hiệu trên địa bàn được khảo sát sử dụng nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, và đa số người dân có thái độ tích cực đối với việc sử dụng ngôn ngữ ngoài tiếng Ả rập trên biển hiệu cửa hàng. Ở khu vực châu Á, Mac Gregor (2003) cũng có nghiên cứu về ảnh hưởng của tiếng Anh lên các biển hiệu cửa hàng ở Tokyo - Nhật Bản, quốc gia được coi là điển hình về đơn ngữ. Một nghiên cứu khác đã được thực hiện năm 2014 bởi nhóm tác giả ở Đại học Tokyo Metropolitan và Đại học Osaka về cảnh quan ngôn ngữ ở Tokyo. Kết quả cho thấy, hầu hết các biển hiệu công cộng và biển báo hướng dẫn ở Tokyo đều được viết bằng bốn thứ tiếng: Nhật, Anh, Trung, Hàn, và thường tiếng Nhật được viết đầu tiên.
Một số tác giả khác cũng nghiên cứu ảnh hưởng của tiếng Anh trên biển hiệu ở Bangkok - Thái Lan. Nhìn tổng quan tình hình nêu trên có thể thấy, ngôn ngữ biển hiệu nói chung và biển hiệu cửa hàng nói riêng là nội dung nghiên cứu đã và đang thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước, đặc biệt là vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ và đa ngữ. Từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, thái độ ngôn ngữ đối với vấn đề này cũng là một nội dung cần xem xét khi triển khai nghiên cứu ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng. Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài 1.
Cơ sở lí thuyết về cảnh quan ngôn ngữ 1. Khái niệm cảnh quan ngôn ngữ Theo Backhaus, P., nghiên cứu ngôn ngữ trên các biển hiệu xuất hiện từ thập niên 1970, song chỉ từ sau khi có bài viết mang tính khai mở của 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Landry và Bourhis năm 1997 thì mới trở thành một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học xã hội, được sự quan tâm ngày càng nhiều từ các nhà ngôn ngữ học và nhà nghiên cứu khác trên thế giới. Từ đây đánh dấu sự tập trung vào một đối tượng nghiên cứu mới: một loại văn bản viết được yết thị nơi không gian công cộng ở môi trường đô thị. Là thực thể mang tính văn hóa, giống như các thực thể cấu thành cảnh quan đô thị như kiến trúc, cư dân, sinh thái, loại văn bản viết đó cũng là hợp phần của cảnh quan đô thị.
Nó được sinh ra từ nhu cầu của đời sống xã hội, cũng vì thế mà nó mang bản sắc và dấu ấn văn hóa của khu vực địa lí ở từng thời điểm khác nhau. Hợp phần ngôn ngữ mang bản sắc xã hội - văn hóa này được các nhà chuyên môn gọi là “cảnh quan ngôn ngữ”. Landry và Bourhis lần đầu tiên định nghĩa cảnh quan ngôn ngữ như sau: “Ngôn ngữ trên các biển báo công cộng, biển quảng cáo, tên đường phố, tên địa điểm, biển hiệu cửa hàng, biển hiệu treo trước cơ quan công quyền, tất cả chúng tạo nên cảnh quan ngôn ngữ của một lãnh thổ, một vùng hay một đô thị nhất định” [23, tr. Theo từ điển Wikipédia: “Cảnh quan ngôn ngữ của một lãnh thổ được hình thành bởi ngôn ngữ của những tấm biển hiệu, biển báo giao thông công cộng, những tấm áp phích và những bản khắc khác hiện diện trong không gian công cộng.
Các ngôn ngữ được sử dụng truyền đạt ý nghĩa xã hội học, và là những dấu hiệu nhận dạng của một lãnh thổ […].