đặt vấn đề nghiên cứu tổng thể về một nhóm sử thi với số lượng lớn, lưu truyền từ lâu đời tại đây. Những khía cạnh làm nên sự cố kết của những câu chuyện về người anh hùng Giông như: phương thức “tái xuất hiện nhân vật”, tình huống (hay sự cố sử thi) và sự hình thành, phát triển nhóm sử thi; đề tài, chủ đề cốt lõi. được chuyên luận tập trung khảo sát, nhận diện. Theo tác giả công trình, ở nhóm sử thi Ba Na Kon Tum, sự tương đồng về đề tài (hay motif đề tài) sẽ dẫn đến sự tương thích về cốt truyện giữa các h’mon.
Thuật ngữ nhóm “đề tài – cốt truyện” được đề xuất để làm công cụ cho việc nghiên cứu đặc điểm nhóm sử thi dân gian đặc biệt này. Nhân vật anh hùng Giông và kiểu nhân vật đối thủ người anh hùng được tìm hiểu, khảo sát kỹ lưỡng. Các kiểu loại nhân vật làm nên thế giới nhân vật đông đảo, phong phú của nhóm sử thi cũng được hệ thống hóa đầy đủ. Về thi pháp, chuyên luận chủ yếu nghiên cứu đặc điểm và vai trò các công thức ngôn ngữ trong sáng tạo và diễn xướng sử thi; các biện pháp tu từ trong mô tả… Chuyên luận cho thấy, sưu tầm và nghiên cứu sử thi theo từng dân tộc, từng bộ, nhóm là hướng nghiên cứu rất phù hợp và nhiều triển vọng đối với sử thi các dân tộc Tây Nguyên.
- Công trình Giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu của kho tàng sử thi Mơ Nông, Ê Đê (NXB. KHXH, 2015) của Đỗ Hồng Kỳ. Ngoài việc kế thừa kết quả nghiên cứu về sử thi Mơ Nông ở công trình đã công bố trước đó (Sử thi thần thoại Mơ Nông, 1996), với phần Mấy vấn đề chung về sử thi Mơ Nông trong ấn phẩm mới này, tác giả Đỗ Hồng Kỳ còn nhằm bổ sung, mở rộng việc nghiên cứu các giá trị nội dung và nghệ thuật ở một số sử thi Mơ Nông khác như Ting, Rung chết; Sung, Trang con Mung thăm Tiawng; Thuốc cá ở hồ Bầu Trời. Đồng thời, ở phần Mấy vấn đề chung về sử thi Ê Đê, các nội dung nghiên cứu của công trình bao gồm: quá trình sưu tầm, nghiên cứu sử thi Ê Đê; 8 đại cương về tộc người Ê Đê trên các mặt đời sống vật chất và tinh thần, đời sống xã hội; khái niệm klei khan và phương thức tồn tại của klei khan trong cuộc sống; nội dung sử thi Ê Đê được thể hiện ở việc khắc họa các loại nhân vật (như nhân vật trung tâm, nhân vật tù trưởng, nhân vật nữ tài sắc.
); vấn đề chiến tranh cũng như sự mô tả đời sống tộc người thời cổ. Ở phần nghiên cứu Giá trị văn học của sử thi Ê Đê, tác giả chú trọng tìm hiểu thi pháp cấu trúc ngôn ngữ (như ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ giới thiệu nhân vật, ngôn ngữ nối kết, ngôn ngữ miêu tả, trần thuật, lời thoại; cấu trúc cốt truyện và các biện pháp thể hiện (như lặp lại, “khuôn mẫu” về thời gian. các định ngữ; và các biện pháp so sánh, ẩn dụ, hoán dụ). Cùng với việc đề cập đến các vấn đề về nghệ nhân và công chúng, môi trường diễn xướng, phương thức tồn tại, lưu truyền của sử thi Ê Đê, tác giả công trình còn tập trung tìm hiểu nội dung, giá trị văn học của một số tác phẩm tiêu biểu của sử thi Ê Đê (như Đăm Săn, Mdrong Dam, Khing Ju.
Đây là công trình nghiên cứu mà tác giả Đỗ Hồng Kỳ đã bổ sung và hoàn thiện hơn những vấn đề nghiên cứu của ông trước đó về sử thi 2 dân tộc Mơ Nông và Ê Đê. - Công trình Đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi Dăm Giông (NXB. HN, 2018) của Nguyễn Tiến Dũng. Từ phương diện nghệ thuật, nhóm sử thi được tác giả chuyên luận khảo sát, phân tích về kết cấu (từ góc độ diễn xướng); nhân vật trung tâm Dăm Giông trong mối quan hệ với nhân vật tái xuất hiện; hệ thống motif và không gian nghệ thuật nhóm sử thi.
Chuyên luận là sự nỗ lực của tác giả trong việc tìm tòi, phát hiện những đặc điểm và sáng tạo nghệ thuật của nhóm sử thi còn cần được tiếp tục nghiên cứu trên nhiều phương diện. - Những luận văn Thạc sỹ, luận án Tiến sỹ. Sử thi các dân tộc thiểu số Tây Nguyên là đối tượng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các học viên cao học, nghiên cứu sinh những năm gần đây. Có thể kể đến một số luận văn, luận án đã tiếp cận nghiên cứu sử thi từ các phương diện, góc độ khác nhau như: Đặc điểm nữ nhân vật trong sử thi Tây Nguyên (Võ Thị Thùy Dung, Luận văn Thạc sỹ, 2007); Nhân vật sử thi Tây Nguyên – tiếp cận từ phương diện văn hóa (Phạm Văn Hóa, Luận văn Thạc sỹ, 2007); Khảo sát đặc điểm tự sự sử thi qua văn bản sử thi Raglai (Tây Nguyên) (Chu Thị Thúy Hằng, Luận văn Thạc sỹ, 2011); Sử thi Bahnar và số phận của nó trong xã hội đương đại (Lê Thị Thùy Ly, Luận án Tiến sỹ, 2014); Đặc điểm nhân vật sử thi dân tộc Bahnar (Lê Ngọc Bảo, Luận văn Thạc sỹ, 2016); Hệ thống nhân vật sử thi Mơ Nông và vấn đề thể loại (Triệu Văn Thịnh, Luận án Tiến sỹ, 2016).
Đây là những nghiên cứu giúp gợi 9 mở cho tác giả đề tài luận án kinh nghiệm và sự cần thiết phải tiếp cận, phân tích, đánh giá đối tượng nghiên cứu từ nhiều khía cạnh, nhiều góc độ để có thể nhận thức đầy đủ hơn các mặt giá trị. Đi vào nghiên cứu một cách tổng hợp, bao quát những vấn đề chung của thể loại sử thi ở cả khu vực, đặc biệt là sử thi các tộc người, các nhóm và quần thể tác phẩm. là hướng tiếp cận nghiên cứu cần thiết, cấp bách của giới chuyên môn đối với vùng sử thi Tây Nguyên. Những chuyên luận trên là sự tiếp tục khơi sâu, khái quát hóa những vấn đề về lý luận thể loại, những đặc điểm chung cốt lõi của loại hình sử thi Tây Nguyên cũng như sự đặc sắc, phong phú trên các mặt nội dung, thi pháp của chúng ở từng tộc người, từng nhóm và quần thể tác phẩm.
Đối với sử thi dân tộc Raglai Sau hơn hai mươi năm sử thi Raglai chính thức được giới chuyên môn phát hiện và khẩn trương sưu tầm, biên dịch, công bố – kể từ khi sử thi Udai – Ujàc được biết đến vào năm 1999 – đến nay một chặng đường nghiên cứu tuy chưa dài nhưng cũng đã thành hình. Khởi đầu là một số bài báo, tham luận ngắn còn rất dè dặt như: Trang phục cổ truyền được phản ánh trong akhàt jucar trường ca sử thi (Nguyễn Thế Sang, Hội nghị thông báo văn hóa dân gian, Viện nghiên cứu văn hóa dân gian, 2001); Có khả năng thêm một hiện tượng bảo lưu sử thi ở ngoại biên: Kei Kãmau (Phan Đăng Nhật); Sử thi Udai – Ujàc, một di sản văn hóa chung của người Raglai và Chăm (Văn Món, Thông báo văn hóa dân gian, 2002). Tiếp theo, khi công trình Kho tàng sử thi Tây Nguyên được xuất bản, là loạt các bài giới thiệu cho các sử thi Raglai được in trong công trình của người biên tập văn học như: Amã Chisa – một tác phẩm akhàt jucar độc đáo của người Raglai (Nguyễn Việt Hùng), Sử thi Amã Cuvau Vongcơi (Văn Thị Bích Thảo, 2007); Awơi Nãi Tilơr, một sử thi Raglai độc đáo (Phan Thu Hiền, Trần Kiêm Hoàng, 2009); Về tác phẩm Udai – Ujàc (Vũ Anh Tuấn, 2004); Về tác phẩm Sa Ea (Vũ Anh Tuấn, 2009). Do chỉ nhằm mục đích giúp người đọc dễ dàng tiếp nhận các sử thi Raglai vốn trường thiên, những bài giới thiệu trên chủ yếu tóm tắt tác phẩm, đề cập một số khía cạnh đặc sắc về nội dung phản ánh, nhân vật, giá trị tác phẩm.
Những nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về một vài đặc thù loại hình của sử thi Raglai thuộc về tác giả Vũ Anh Tuấn như: Một số phạm trù tự sự học qua khảo sát thế giới nghệ thuật sử thi Raglai (2008), (Dẫn luận cho công trình Sử thi Raglai, 2014). Về nhân vật trung tâm, nhân vật anh hùng của sử thi Raglai, Vũ Anh Tuấn cho thấy có sự 10 tương thích, quen thuộc rất phổ biến của loại hình trong phương thức tạo dựng. Ví dụ “nhân vật anh hùng Sa Ea được khắc họa bởi hệ thống các hành động chức năng được tổ chức theo nguyên tắc mô hình hóa cấu trúc kiểu loại con người thời đại sử thi”. Và dường như “Nhân vật tự sự sử thi còn là hình ảnh chủ quan của thế giới tinh thần, thế giới nội cảm, trong cách thức biểu hiện khát vọng lãng mạn tuyệt đối một cách trực tiếp không có giới hạn” (Trần Đình Sử, 2008.
Trong Dẫn luận, sau phần giới thiệu sơ lược về một số vấn đề lịch sử, văn hóa tộc người và quá trình điền dã, sưu tầm, biên dịch văn bản song ngữ sử thi Raglai, tác giả tập trung thẩm định những “giá trị phổ quát và đặc trưng tộc người” trong các sử thi Raglai đã được biết đến. Theo tác giả, thế giới nghệ thuật của sử thi Raglai trước hết là sự “tích hợp nguyên hợp các loại tri thức dân gian”, và “có mối quan hệ gắn bó giữa sử thi và các hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian dân tộc, với luật tục, phong tục và lễ hội đã tạo nên một tổng thể văn hóa sử thi mang đặc trưng văn hóa tộc người hết sức rõ nét” (Vũ Anh Tuấn, 2014. Tiếp đến, các sử thi Raglai đều tái hiện những vấn đề trung tâm và trọng đại buổi đầu của lịch sử cộng đồng, “sử thi nào cũng có sự tiếp nối giữa các thế hệ trên tất cả các bình diện có tính phổ quát và hết sức cơ bản của đời sống: được sinh ra, lao động, lấy vợ và chiến đấu” (Vũ Anh Tuấn, 2014. Về phân loại, tác giả Dẫn luận cho rằng “phần lớn các sử thi Raglai đã được biết đến là sử thi cổ sơ, số ít (như Udai – Ujàc ) là sử thi cổ điển (classic epic)” (Vũ Anh Tuấn, 2014.
Dù số lượng tác phẩm được khảo sát chưa nhiều, song các sử thi Raglai cho thấy sự đa dạng về cấu tạo cốt truyện, độ dài ngắn. Cơ bản kết cấu các tác phẩm là sự tiếp nối liên tục, thường xuyên các cuộc chiến tranh, phần còn lại là những chương khúc về lễ hội, cuộc sống sinh hoạt mọi mặt với cái ăn, cái mặc, cái ở cùng vô số phong tục, cả những giáo huấn đạo đức, luân lý. Chiến tranh trong sử thi Raglai được mô tả với tính chất, độ ác liệt, quy mô hơn hẳn sử thi các dân tộc khác như Mơ Nông, Ê Đê, Ba Na.